Đỗ Hoàng
VỚI VĂN CÔNG TRƯỜNG SƠN (1)
Ra cho mà hát, mà hò
Một đời lính mọi còn trơ xương sờn.
Một đời sống kiếp Trường Sơn
Ra chi mà hát thêm buồn lắm em!
Trường Sơn 1972
(1) Rút trong tập thơ Tâm sự người lính - NXB Văn học 1996
Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2015
Nhà thơ Trần Đăng Khoa nói Vô Lối Nguyễn Quang Thiều nốc ao!
Nhà thơ Trần Đăng Khoa nói Vô Lối Nguyễn Quang Thiều nốc ao!
Mấy năm trước tôi có nhiệm làm tiêu binh cho các cuộc quy tiên của các nhà văn là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Hôm ấy có đám tang của nhà văn Kim Lân ở nhà tang lễ Trần Thánh Tông, Hà Nội.
Tôi vừa gửi xe đi bách bộ vào chỗ lễ thì gặp nhà thơ Trần Đăng Khoa. Trần Đăng Khoa nổi tiếng từ bé, nên tôi hay gọi Thần Đồng để xưng hô, vì tôi lớn hơn Khoa 10 tuổi mà chẳng danh giá gì!
Trần Đăng Khoa là người kỳ tài trong việc thẩm thơ.
Hồi tôi đang làm biên tập ở tờ Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, một lần đến nhà riêng anh xin bài thơ “Lính trẻ” để in trên Tạp chí.
Nhà Thần Đồng lúc ấy đang là căn hộ tập thể được quân đội phân cho trên đường Lý Nam Đế.
Vào nhà thấy tập thơ “ Sóng Reo” hay “Suối Reo:” gì đó của Nguyễn Đình Thi tặng Trần Đăng Khoa.
Tôi chưa nói gì thì Khoa đã mỉa:
- Bác thấy đó, tập này dở hết chỗ nói.
Tôi trăm phần trăm khâm phục:
- Thần Đồng thật là có con mắt xanh hơn người!
Tôi càng phục Khoa từ đó.
Nhưng Khoa không bao giờ làm mất lòng ai. Chắc Khoa đã học cách ứng xử của các nhà thơ tài danh lớp trước như Xuân Diệu, Huy Cận. Không thích thì cười cho qua.
Rồi Khoa làm được mấy cai chức còi nên Khoa càng im lặng. Kiểu mặc mẹ chùng mày, ông phải lo cơm ăn áo mặc, việc gì chen vào bình phẩm ba cáiVô lối của chúng mày!
Đi lên gần Khoa, tôi nói: - Thần Đổng cũng đi đưa tang Kim Lân à?
Khoa cũng cười nhưng không vào chủ đề mà lại nói:
- Bác đả Nguyễn Quang Thiều hay đấy!

Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
Thần Đồng cũng đọc mạng sao? – Tôi hơi ngạc nhiên.
Khoa cười: - Bác tưởng bọn chúng tôi không đọc mạng đấy chắc? Tôi là một cư dân mạng!
Hóa ra vừa rồi, nhân Nguyễn Quang Thiều đưa lên cái bài “Tấm Thảm Thổ Nhĩ Kỳ” bị la ó, tôi đọc nó tôi thấy đúng là một thứ bà dằn vô tích sự, thơ không ra thơ, văn không ra văn, một loại quái thai của văn chương mà lại được đám ba đầu sáu tay tung hô hết cỡ, tôi liền chuyển nó ra thể thơ song thất lục bát và lục bát để cho mọi người còn biết nó là cái gì. Tôi không ngờ Khoa lại đọc nó.
Tôi nói: - Tôi định viết một bài phê phán hoàn chình nhưng chưa làm xong!
Khoa nói ngay: - Bác đả thế là Nguyễn Quang Thiều nốc ao rồi, không cần nhiều lời nữa!
Hà Nội ngày 15 - 5 -2012
Đỗ Hoàng
Mấy năm trước tôi có nhiệm làm tiêu binh cho các cuộc quy tiên của các nhà văn là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.
Hôm ấy có đám tang của nhà văn Kim Lân ở nhà tang lễ Trần Thánh Tông, Hà Nội.
Tôi vừa gửi xe đi bách bộ vào chỗ lễ thì gặp nhà thơ Trần Đăng Khoa. Trần Đăng Khoa nổi tiếng từ bé, nên tôi hay gọi Thần Đồng để xưng hô, vì tôi lớn hơn Khoa 10 tuổi mà chẳng danh giá gì!
Trần Đăng Khoa là người kỳ tài trong việc thẩm thơ.
Hồi tôi đang làm biên tập ở tờ Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, một lần đến nhà riêng anh xin bài thơ “Lính trẻ” để in trên Tạp chí.
Nhà Thần Đồng lúc ấy đang là căn hộ tập thể được quân đội phân cho trên đường Lý Nam Đế.
Vào nhà thấy tập thơ “ Sóng Reo” hay “Suối Reo:” gì đó của Nguyễn Đình Thi tặng Trần Đăng Khoa.
Tôi chưa nói gì thì Khoa đã mỉa:
- Bác thấy đó, tập này dở hết chỗ nói.
Tôi trăm phần trăm khâm phục:
- Thần Đồng thật là có con mắt xanh hơn người!
Tôi càng phục Khoa từ đó.
Nhưng Khoa không bao giờ làm mất lòng ai. Chắc Khoa đã học cách ứng xử của các nhà thơ tài danh lớp trước như Xuân Diệu, Huy Cận. Không thích thì cười cho qua.
Rồi Khoa làm được mấy cai chức còi nên Khoa càng im lặng. Kiểu mặc mẹ chùng mày, ông phải lo cơm ăn áo mặc, việc gì chen vào bình phẩm ba cáiVô lối của chúng mày!
Đi lên gần Khoa, tôi nói: - Thần Đổng cũng đi đưa tang Kim Lân à?
Khoa cũng cười nhưng không vào chủ đề mà lại nói:
- Bác đả Nguyễn Quang Thiều hay đấy!
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều
Thần Đồng cũng đọc mạng sao? – Tôi hơi ngạc nhiên.
Khoa cười: - Bác tưởng bọn chúng tôi không đọc mạng đấy chắc? Tôi là một cư dân mạng!
Hóa ra vừa rồi, nhân Nguyễn Quang Thiều đưa lên cái bài “Tấm Thảm Thổ Nhĩ Kỳ” bị la ó, tôi đọc nó tôi thấy đúng là một thứ bà dằn vô tích sự, thơ không ra thơ, văn không ra văn, một loại quái thai của văn chương mà lại được đám ba đầu sáu tay tung hô hết cỡ, tôi liền chuyển nó ra thể thơ song thất lục bát và lục bát để cho mọi người còn biết nó là cái gì. Tôi không ngờ Khoa lại đọc nó.
Tôi nói: - Tôi định viết một bài phê phán hoàn chình nhưng chưa làm xong!
Khoa nói ngay: - Bác đả thế là Nguyễn Quang Thiều nốc ao rồi, không cần nhiều lời nữa!
Hà Nội ngày 15 - 5 -2012
Đỗ Hoàng
Trích bài tham khảo
Dịch vô lôi - Nguyễn Quang Thiều
CÓ THẬT " THƠ KHÔNG ĐỂ HIỂU..." ?
Trần Mạnh Hảo
Báo Văn Nghệ tết Canh Dần ( số 6+7+8 -2010) trang 54 có in bài "Thơ không để hiểu..." của tác giả Nguyễn Chí Hoan, ghi chú dưới "tít" bài : "Đọc "cây ánh sáng", tập thơ của Nguyễn Quang Thiều, NXB Hội Nhà Văn 2008". Cũng cần phải nói thêm, cuối "tít" bài thấy xuất hiện ba chấm chấm (...) dụng ý tác giả muốn đưa ra một khái niệm đầy đủ nối với ba chấm chấm đầu bài viết ...rằng : " THƠ KHÔNG ĐỂ HIỂU MÀ ĐỂ TƯỞNG TƯỢNG". Khái niệm quá mới mẻ của Nguyễn Chí Hoan : " Thơ không để hiểu mà để tưởng tượng" dùng làm công cụ giải mã tập thơ "Cây ánh sáng" của Nguyễn Quang Thiều; người đọc, tất nhiên phải hiểu đấy là một sự khái quát bàn về thơ nói chung. Nếu tác giả muốn dùng thước đo quá riêng biệt của mình là : "Thơ không để hiểu mà để tưởng tượng" để lý giải riêng trường hợp thơ Nguyễn Quang Thiều, thì cái "tít" phải là : " Thơ Nguyễn Quang Thiều sinh ra không để hiểu mà để tưởng tượng"...
Trong bài viết này, chúng tôi không bàn về tập thơ "Cây ánh sáng" của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mà chỉ xin phép bàn về quan niệm thơ rất khác thường của Nguyễn Chí Hoan : " Thơ không để hiểu..." và vế thứ hai của mệnh đề : "...Mà để tưởng tượng" của ông mà thôi.
Văn học nói chung và thơ nói riêng vốn là nghệ thuật ngôn từ, sinh ra để truyền cảm, làm xúc động trái tim con người, đi từ TÌNH CẢM tới NHẬN THỨC. Hay nói một cách khác : văn học được nhận thức bằng tình cảm. Một tác phẩm văn học không hướng tới chân thiện mỹ, không có tính thẩm mỹ, dù tư tưởng của nó cao siêu đến đâu cũng quyết không phải là một tác phẩm nghệ thuật. Khác với toán học, vật lý học, hóa học...dùng công cụ duy nhất là hiểu biết để khám phá quy luật khách quan của thế giới vật chất, một tác phẩm thi ca đề cao sự sáng tạo chủ quan của người nghệ sĩ không đặt vấn đề cốt lõi "hiểu" hay "không hiểu" ra làm tiêu chí tối hậu, mà đặt ra lý do tồn tại của nó rằng thẩm mỹ hay không thẩm mỹ ? Một tác phẩm văn học nói chung, một tác phẩm thi ca nói riêng nếu đã đặt được cái "mỹ" ( Cái Đẹp), tức nhiên nó đã bao hàm cả cái "chân" ( hiện thực) và cái "thiện" ( cái tốt).
Dùng thước đo "hiểu" hay "không hiểu" để tìm bản chất của nghệ thuật thi ca, chúng tôi ngờ tác giả Nguyễn Chí Hoan đã đi lạc vào lĩnh vực khoa học tự nhiên, hay chí ít cũng lạc vào khu rừng triết học nơi các đệ tử của Socrate dùng sự hiểu biết để khám phá ra quy luật của các quy luật sinh tồn...chăng ?
Tiêu chí HAY hay dở, truyền cảm hay không truyền cảm mới là thước đo định giá trị của thi ca chứ không phải "không hiểu" hay "dễ hiểu" là phương pháp tiếp cận thơ lầm lạc của Nguyễn Chí Hoan. Do sự hiểu sai bản chất của thi ca như thế, nên khi Nguyễn Chí Hoan áp dụng vào trường hợp cụ thể là bài "thơ" dưới đây, dùng làm dẫn chứng của bài viết, rằng thơ Nguyễn Quang Thiều sinh ra để chống lại sự hiểu, chống lại nhận thức, cốt chỉ để tưởng tượng mà thôi, xin trích lại sự trích dẫn của tác giả bài viết :
"...Một thí dụ tiêu biểu về câu chuyện trong thơ ở tập này là bài thơ "Lịch sử một tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ", toàn văn như sau :
Bài " thơ " Nguyễn Quang Thiều
Lịch sử Tấm thảm Thổ Nhỹ Kỳ
" Người hướng dẫn : Được dệt thủ công bởi một người đàn bà Thổ Nhĩ Kỳ
"Người mua : Mua lại từ một ông già da đen Cuba ở Havana năm 1986
"Chủ nhân : Qùa tặng của con trai tôi. Được treo trên bức tường này 21 năm
Lúc gần sáng tiếng những cành khô gãy
Những con nai cái mùa động đực
Chủ nhân bức thảm 87 tuổi tỉnh giấc uống trà nguội
Những con nai đực ngùn ngụt
Ngôi nhà như không bao giờ mở cửa
Một bà già đi tiểu lần thứ 5 nói : "Mẹ đau lắm"
21 năm tấm thảm không thay đổi chỗ treo
Người đàn ông 50 tuổi thường trở về và đứng
Trong ngôi nhà nửa bóng tối
Tràn ngập tấm thảm tiếng hô hoán
Và phía sau tấm thảm
Một lưỡi dao lạnh lùng đợi
Và một cái chảo sùng sục sôi
Người hướng dẫn : Những ngón tay người đàn bà mù Thổ Nhĩ Kỳ giờ bị liệt
Người mua : ông già da đen Cuba đã tự vẫn
Chủ nhân : Tôi chỉ nhớ gương mặt con trai tôi khi nó mở bức thảm ra
Có một người lúc nào cũng rét
Đứng nhìn tấm thảm
Hai bàn chân bị đông cứng trong vũng máu
Ở chân tường
Người hướng dẫn : ( đã bỏ nghề)
Người mua : hình như không phải tấm thảm tôi đã mua
Chủ nhân : Tôi nhìn thấy những người thân đã chết cháy nấp sau những gốc cây trong tấm thảm
Bây giờ là năm thứ hai
Hết bài thơ Nguyễn Quang Thiều
Sau đó là gần một nửa bài nhà Nguyễn Quang Thiều học Nguyễn Chí Hoan dùng "lí luận" để giải thích bài thơ trên, mong giúp độc giả HIỂU ĐƯỢC sự KHÔNG HIỂU kia ! Thật là một trò trốn tìm thú vị. Bài thơ trên của Nguyễn Quang Thiều sinh ra, theo lí luận của Nguyễn Chí Hoan là cốt để "không hiểu", cốt để "tưởng tượng " mà thôi ! Sau đó thì nhà lí luận thi ca theo trường phái " kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông, kỳ nhông là ông kỳ đà" kia giúp độc giả phiên dịch cái sự "KHÔNG HIỂU" kia thành sự HIỂU ...Vậy thì các ông đặt vấn đề KHÔNG HIỂU là mục đích của thơ ca ra làm gì ? Để rồi các ông lại phải dùng SỰ HIỂU giải mã bài thơ "không thể hiểu" trên? Nguyễn Chí Hoan càng giải mã bài thơ trên của Nguyễn Quang Thiều chúng tôi càng tắc tị, tuyệt nhiên không hiểu gì, hiểu được chết liền !
Cái gọi là bài thơ :"Lịch sử tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ" trích trên của Nguyễn Quang Thiều sinh ra trong sự mất trí của thi ca ( thơ không để hiểu) nên nó chỉ phục vụ cho mục đích hũ nút mà thôi ;nên nó tuyệt nhiên không có chút truyền cảm nào. Mà không có dấu vết của sự truyền cảm, của rung động thì theo chúng tôi, có dùng lí luận "con cóc trong hang, con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đấy, con cóc nhảy đi" theo kiểu phương pháp tiếp cận thi ca lầm lẫn của Nguyễn Chí Hoan cũng không thể biến con con gà bới bếp thành con công thi ca được...
Không có sự truyền cảm, sự rung động, không có cái hay cái đẹp đi kèm theo những con chữ thì không thể gọi chúng là thi ca. Dù mỗi bài thơ theo kiểu "tấm thảm" của ông già Khốt ta bít trên bao giờ cũng có nhà giải mã Nguyễn Chí Hoan kè kè bên cạnh dẫn giải, cũng không thể làm rung động lòng người. Vì cái rung động lòng người do thi ca mang lại thường là trực giác, tức thì, không cần lời giải thích vòng vo tam quốc. Ví như Truyễn Kiều của Nguyễn Du đã làm hàng vạn người dù không biết chữ rung động, đâu có cần các nhà hàn lâm dông dài dẫn giải ? Trước một cô gái đẹp, trước một vầng trăng đẹp, trước một câu thơ hay, một bài thơ hay con người bị truyền cảm một cách tức thời, một cách trực giác...
Đưa thi ca vào cõi mất trí, cõi không hiểu, để rồi đi vòng vo lí giải giúp người ta hiểu được cái sự không hiểu của nhà thơ chính là phương pháp giết thơ nhanh nhất do nhà lí luận "phản nhận thức" Nguyễn Chí Hoan vừa khám phá ra, để làm món quà tặng ngày thơ Việt Nam trên báo Văn Nghệ số tết Canh Dần. Không có sự hiểu biết, không có chính đời sống con người, chứ chưa nói đến những sản phẩm của con người như tôn giáo, khoa học, nghệ thuật...
Lầm lẫn phương pháp tiếp nhận thi ca bằng cách đuổi sự hiểu, đuổi lí trí, đuổi nhận thức ra khỏi thi ca, Nguyễn Chí Hoan còn không hiểu nổi ngữ nghĩa của từ "hiểu" và từ "tưởng tượng". Xin ông Nguyễn Chí Hoan hãy xem lại từ điển Tiếng Việt để thấy rằng, khi ông tách tưởng tượng ra khỏi sự hiểu ( thơ không để hiểu mà để tưởng tượng) chính là ông đang tách cá ra khỏi nước đấy...Không có một sự tưởng tượng nào của con người nằm ngoài sự hiểu biết, nằm ngoài lí trí, nằm ngoài nhận thức...Tưởng tượng có thể ví như hoa trái của sự hiểu biết, của lí trí, của nhận thức. Hay nói cách khác, sự hiểu biết và sự tưởng tượng là một quá trình đồng thời, không phải là bước thứ nhất rồi mới đến bước thứ hai. Tưởng tượng chính là ký ức về quá khứ hay những hình dung về một thế giới chưa có thật, không có thật xuất hiện trong sự kiểm soát của lí trí, của sự hiểu biết nơi con người...Bảo thơ sinh ra không để hiểu mà để tưởng tượng như Nguyễn Chí Hoan, vừa hết sức sai và hết sức buồn cười vậy .,.
Sài Gòn ngày 26-02-2010
T.M.H.
Đỗ Hoàng dịch Vô lối "Lịch sử một tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ" ra thơ Việt
Người viết cứ viết ra theo sự suy nghĩ chủ quan của mình. Sau đó người ta phân và chia ra làm nhiều thể loại như: Văn, thơ, phú, tế, hịch, ca dao, tục ngữ, vè, nói lối, hát vui chơi, nói vui chơi...
Thời hiện đại các tác giả cũng có nhiều cách viết, cách nói, cách lập ngôn nhưng chưa thấy các nhà phê bình phần loại thể. Tôi đã có nhiều lần đề nghị với tư cách cá nhân khi thấy nhiều người viết ra nhiều kiểu lạ mắt lạ tai, thấy thơ cũng không phải thơ, văn cũng không phải văn, dịch cũng không phải dịch, truyền thống cũng không phải truyền thống; người trẻ cũng có, người già cũng có; tộc người đa số cũng có, tộc người thiểu số cũng có; các kiểu viết ấy nên gọi với cái tên phân thể loại là "Vô lối". Từ "Vô lối" cũng đủ giải nghĩa các kiểu viết trên. Đại biểu cho kiểu "Vô lôi" này là Thanh Tâm Tuyền, Lê Văn Ngăn, Văn Cầm Hải, Vi Thuỳ Linh, Phú Trạm Inrasara, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Phạm Vân Anh, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Vũ Thuật...
Xin dịch bài "Vô lối"
Lịch sử một tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ
Tác giả Nguyễn Quang Thiều
"Tấm thảm Thổ thăng trầm thiên biến,
Hướng dẫn viên dẫn chuyện rõ ràng:
- Thảm này dệt sợi dọc ngang,
Một bà Thổ có tay vàng làm ra.
Người mua lại một ông già,
Da đen quốc tịch Cu Ba rạch ròi.
Ở Ha va na hẳn hoi.
Vào năm tám sáu cũng thời mới đây.
Chủ nhân nói: - Tấm thảm này,
Quà con trai tặng cho thầy u thương!
Hai mốt năm treo trên tường.
Cỏ cây muông thú lạ thường hiển linh (1)
Sớm khuya vang vọng quanh mình,
Tiếng cây, tiếng suối thập thình đâu đây.
Tiếng nai gọi bạn hao gầy,
Mùa sinh sôi giục đàn bầy đến nhanh.
Chủ nhân tám bảy xuân xanh.
Sáng xơi trà nguội đã thành thói quen.
Những con nai đực khát thèm,
Nhưng nhà đóng cửa cài then chặt rồi.
Bà già năm lượt đi ngoài,
Lưng còng chân yếu kêu lời xót đau.
Thảm không dịch chuyển đi đâu,
Hai mốt năm vẫn gắn đầu chỗ treo.
Ông năm mươi tuổi dáng nghèo,
Trở về thường đứng vai đeo túi hờ.
Ngôi nhà tối sáng mập mờ,
Tràn lên tấm thảm tiếng hô hoán đầy.
Phía sau tấm thảm ai hay?
Lưỡi dao sắc lạnh đợi ngày bén xơi.
Một cái chảo sùng sục sôi,
Hướng dẫn viên: - Bà Thổ quả thiệt thòi tấm thân.
Mù loà liệt cả tay chân.
Người mua lại kể ngọn ngành xảy ra.
Ông già da đen Cu Ba,
Khốn cùng tự vẫn thế là đi tong.
Chủ nhân bày tỏ thật lòng:
- Nhớ con trai gương mặt hồng như hoa.
Chính lúc tấm thảm mở ra,
Một người lạnh cóng như là chết khô
Đứng nhìn tấm thảm trống trơ,
Hai chân đông cứng lặng tờ máu tươi.
Hướng dẫn viên bỏ nghề rồi.
Người mua quên bẵng một thời mình mua.
Chủ nhân: Tôi bạn khiếp chưa?
Người thân chết cháy chẳng lưa thứ gì,
Gốc cây trong thảm thâm sì.
Bây giờ là đúng năm nhì ai ơi!
(1) Người dệt tài tình đến mức cây cỏ, muông thú trog tấm thảm trở thành sinh linh có sức sống ngoài đời chạy nhảy.
Hà Nội, ngày 7 - 3 - 2010
Đỗ Hoàng
Trần Mạnh Hảo
Báo Văn Nghệ tết Canh Dần ( số 6+7+8 -2010) trang 54 có in bài "Thơ không để hiểu..." của tác giả Nguyễn Chí Hoan, ghi chú dưới "tít" bài : "Đọc "cây ánh sáng", tập thơ của Nguyễn Quang Thiều, NXB Hội Nhà Văn 2008". Cũng cần phải nói thêm, cuối "tít" bài thấy xuất hiện ba chấm chấm (...) dụng ý tác giả muốn đưa ra một khái niệm đầy đủ nối với ba chấm chấm đầu bài viết ...rằng : " THƠ KHÔNG ĐỂ HIỂU MÀ ĐỂ TƯỞNG TƯỢNG". Khái niệm quá mới mẻ của Nguyễn Chí Hoan : " Thơ không để hiểu mà để tưởng tượng" dùng làm công cụ giải mã tập thơ "Cây ánh sáng" của Nguyễn Quang Thiều; người đọc, tất nhiên phải hiểu đấy là một sự khái quát bàn về thơ nói chung. Nếu tác giả muốn dùng thước đo quá riêng biệt của mình là : "Thơ không để hiểu mà để tưởng tượng" để lý giải riêng trường hợp thơ Nguyễn Quang Thiều, thì cái "tít" phải là : " Thơ Nguyễn Quang Thiều sinh ra không để hiểu mà để tưởng tượng"...
Trong bài viết này, chúng tôi không bàn về tập thơ "Cây ánh sáng" của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mà chỉ xin phép bàn về quan niệm thơ rất khác thường của Nguyễn Chí Hoan : " Thơ không để hiểu..." và vế thứ hai của mệnh đề : "...Mà để tưởng tượng" của ông mà thôi.
Văn học nói chung và thơ nói riêng vốn là nghệ thuật ngôn từ, sinh ra để truyền cảm, làm xúc động trái tim con người, đi từ TÌNH CẢM tới NHẬN THỨC. Hay nói một cách khác : văn học được nhận thức bằng tình cảm. Một tác phẩm văn học không hướng tới chân thiện mỹ, không có tính thẩm mỹ, dù tư tưởng của nó cao siêu đến đâu cũng quyết không phải là một tác phẩm nghệ thuật. Khác với toán học, vật lý học, hóa học...dùng công cụ duy nhất là hiểu biết để khám phá quy luật khách quan của thế giới vật chất, một tác phẩm thi ca đề cao sự sáng tạo chủ quan của người nghệ sĩ không đặt vấn đề cốt lõi "hiểu" hay "không hiểu" ra làm tiêu chí tối hậu, mà đặt ra lý do tồn tại của nó rằng thẩm mỹ hay không thẩm mỹ ? Một tác phẩm văn học nói chung, một tác phẩm thi ca nói riêng nếu đã đặt được cái "mỹ" ( Cái Đẹp), tức nhiên nó đã bao hàm cả cái "chân" ( hiện thực) và cái "thiện" ( cái tốt).
Dùng thước đo "hiểu" hay "không hiểu" để tìm bản chất của nghệ thuật thi ca, chúng tôi ngờ tác giả Nguyễn Chí Hoan đã đi lạc vào lĩnh vực khoa học tự nhiên, hay chí ít cũng lạc vào khu rừng triết học nơi các đệ tử của Socrate dùng sự hiểu biết để khám phá ra quy luật của các quy luật sinh tồn...chăng ?
Tiêu chí HAY hay dở, truyền cảm hay không truyền cảm mới là thước đo định giá trị của thi ca chứ không phải "không hiểu" hay "dễ hiểu" là phương pháp tiếp cận thơ lầm lạc của Nguyễn Chí Hoan. Do sự hiểu sai bản chất của thi ca như thế, nên khi Nguyễn Chí Hoan áp dụng vào trường hợp cụ thể là bài "thơ" dưới đây, dùng làm dẫn chứng của bài viết, rằng thơ Nguyễn Quang Thiều sinh ra để chống lại sự hiểu, chống lại nhận thức, cốt chỉ để tưởng tượng mà thôi, xin trích lại sự trích dẫn của tác giả bài viết :
"...Một thí dụ tiêu biểu về câu chuyện trong thơ ở tập này là bài thơ "Lịch sử một tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ", toàn văn như sau :
Bài " thơ " Nguyễn Quang Thiều
Lịch sử Tấm thảm Thổ Nhỹ Kỳ
" Người hướng dẫn : Được dệt thủ công bởi một người đàn bà Thổ Nhĩ Kỳ
"Người mua : Mua lại từ một ông già da đen Cuba ở Havana năm 1986
"Chủ nhân : Qùa tặng của con trai tôi. Được treo trên bức tường này 21 năm
Lúc gần sáng tiếng những cành khô gãy
Những con nai cái mùa động đực
Chủ nhân bức thảm 87 tuổi tỉnh giấc uống trà nguội
Những con nai đực ngùn ngụt
Ngôi nhà như không bao giờ mở cửa
Một bà già đi tiểu lần thứ 5 nói : "Mẹ đau lắm"
21 năm tấm thảm không thay đổi chỗ treo
Người đàn ông 50 tuổi thường trở về và đứng
Trong ngôi nhà nửa bóng tối
Tràn ngập tấm thảm tiếng hô hoán
Và phía sau tấm thảm
Một lưỡi dao lạnh lùng đợi
Và một cái chảo sùng sục sôi
Người hướng dẫn : Những ngón tay người đàn bà mù Thổ Nhĩ Kỳ giờ bị liệt
Người mua : ông già da đen Cuba đã tự vẫn
Chủ nhân : Tôi chỉ nhớ gương mặt con trai tôi khi nó mở bức thảm ra
Có một người lúc nào cũng rét
Đứng nhìn tấm thảm
Hai bàn chân bị đông cứng trong vũng máu
Ở chân tường
Người hướng dẫn : ( đã bỏ nghề)
Người mua : hình như không phải tấm thảm tôi đã mua
Chủ nhân : Tôi nhìn thấy những người thân đã chết cháy nấp sau những gốc cây trong tấm thảm
Bây giờ là năm thứ hai
Hết bài thơ Nguyễn Quang Thiều
Sau đó là gần một nửa bài nhà Nguyễn Quang Thiều học Nguyễn Chí Hoan dùng "lí luận" để giải thích bài thơ trên, mong giúp độc giả HIỂU ĐƯỢC sự KHÔNG HIỂU kia ! Thật là một trò trốn tìm thú vị. Bài thơ trên của Nguyễn Quang Thiều sinh ra, theo lí luận của Nguyễn Chí Hoan là cốt để "không hiểu", cốt để "tưởng tượng " mà thôi ! Sau đó thì nhà lí luận thi ca theo trường phái " kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông, kỳ nhông là ông kỳ đà" kia giúp độc giả phiên dịch cái sự "KHÔNG HIỂU" kia thành sự HIỂU ...Vậy thì các ông đặt vấn đề KHÔNG HIỂU là mục đích của thơ ca ra làm gì ? Để rồi các ông lại phải dùng SỰ HIỂU giải mã bài thơ "không thể hiểu" trên? Nguyễn Chí Hoan càng giải mã bài thơ trên của Nguyễn Quang Thiều chúng tôi càng tắc tị, tuyệt nhiên không hiểu gì, hiểu được chết liền !
Cái gọi là bài thơ :"Lịch sử tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ" trích trên của Nguyễn Quang Thiều sinh ra trong sự mất trí của thi ca ( thơ không để hiểu) nên nó chỉ phục vụ cho mục đích hũ nút mà thôi ;nên nó tuyệt nhiên không có chút truyền cảm nào. Mà không có dấu vết của sự truyền cảm, của rung động thì theo chúng tôi, có dùng lí luận "con cóc trong hang, con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đấy, con cóc nhảy đi" theo kiểu phương pháp tiếp cận thi ca lầm lẫn của Nguyễn Chí Hoan cũng không thể biến con con gà bới bếp thành con công thi ca được...
Không có sự truyền cảm, sự rung động, không có cái hay cái đẹp đi kèm theo những con chữ thì không thể gọi chúng là thi ca. Dù mỗi bài thơ theo kiểu "tấm thảm" của ông già Khốt ta bít trên bao giờ cũng có nhà giải mã Nguyễn Chí Hoan kè kè bên cạnh dẫn giải, cũng không thể làm rung động lòng người. Vì cái rung động lòng người do thi ca mang lại thường là trực giác, tức thì, không cần lời giải thích vòng vo tam quốc. Ví như Truyễn Kiều của Nguyễn Du đã làm hàng vạn người dù không biết chữ rung động, đâu có cần các nhà hàn lâm dông dài dẫn giải ? Trước một cô gái đẹp, trước một vầng trăng đẹp, trước một câu thơ hay, một bài thơ hay con người bị truyền cảm một cách tức thời, một cách trực giác...
Đưa thi ca vào cõi mất trí, cõi không hiểu, để rồi đi vòng vo lí giải giúp người ta hiểu được cái sự không hiểu của nhà thơ chính là phương pháp giết thơ nhanh nhất do nhà lí luận "phản nhận thức" Nguyễn Chí Hoan vừa khám phá ra, để làm món quà tặng ngày thơ Việt Nam trên báo Văn Nghệ số tết Canh Dần. Không có sự hiểu biết, không có chính đời sống con người, chứ chưa nói đến những sản phẩm của con người như tôn giáo, khoa học, nghệ thuật...
Lầm lẫn phương pháp tiếp nhận thi ca bằng cách đuổi sự hiểu, đuổi lí trí, đuổi nhận thức ra khỏi thi ca, Nguyễn Chí Hoan còn không hiểu nổi ngữ nghĩa của từ "hiểu" và từ "tưởng tượng". Xin ông Nguyễn Chí Hoan hãy xem lại từ điển Tiếng Việt để thấy rằng, khi ông tách tưởng tượng ra khỏi sự hiểu ( thơ không để hiểu mà để tưởng tượng) chính là ông đang tách cá ra khỏi nước đấy...Không có một sự tưởng tượng nào của con người nằm ngoài sự hiểu biết, nằm ngoài lí trí, nằm ngoài nhận thức...Tưởng tượng có thể ví như hoa trái của sự hiểu biết, của lí trí, của nhận thức. Hay nói cách khác, sự hiểu biết và sự tưởng tượng là một quá trình đồng thời, không phải là bước thứ nhất rồi mới đến bước thứ hai. Tưởng tượng chính là ký ức về quá khứ hay những hình dung về một thế giới chưa có thật, không có thật xuất hiện trong sự kiểm soát của lí trí, của sự hiểu biết nơi con người...Bảo thơ sinh ra không để hiểu mà để tưởng tượng như Nguyễn Chí Hoan, vừa hết sức sai và hết sức buồn cười vậy .,.
Sài Gòn ngày 26-02-2010
T.M.H.
Đỗ Hoàng dịch Vô lối "Lịch sử một tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ" ra thơ Việt
Người viết cứ viết ra theo sự suy nghĩ chủ quan của mình. Sau đó người ta phân và chia ra làm nhiều thể loại như: Văn, thơ, phú, tế, hịch, ca dao, tục ngữ, vè, nói lối, hát vui chơi, nói vui chơi...
Thời hiện đại các tác giả cũng có nhiều cách viết, cách nói, cách lập ngôn nhưng chưa thấy các nhà phê bình phần loại thể. Tôi đã có nhiều lần đề nghị với tư cách cá nhân khi thấy nhiều người viết ra nhiều kiểu lạ mắt lạ tai, thấy thơ cũng không phải thơ, văn cũng không phải văn, dịch cũng không phải dịch, truyền thống cũng không phải truyền thống; người trẻ cũng có, người già cũng có; tộc người đa số cũng có, tộc người thiểu số cũng có; các kiểu viết ấy nên gọi với cái tên phân thể loại là "Vô lối". Từ "Vô lối" cũng đủ giải nghĩa các kiểu viết trên. Đại biểu cho kiểu "Vô lôi" này là Thanh Tâm Tuyền, Lê Văn Ngăn, Văn Cầm Hải, Vi Thuỳ Linh, Phú Trạm Inrasara, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương, Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Phạm Vân Anh, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Vũ Thuật...
Xin dịch bài "Vô lối"
Lịch sử một tấm thảm Thổ Nhĩ Kỳ
Tác giả Nguyễn Quang Thiều
"Tấm thảm Thổ thăng trầm thiên biến,
Hướng dẫn viên dẫn chuyện rõ ràng:
- Thảm này dệt sợi dọc ngang,
Một bà Thổ có tay vàng làm ra.
Người mua lại một ông già,
Da đen quốc tịch Cu Ba rạch ròi.
Ở Ha va na hẳn hoi.
Vào năm tám sáu cũng thời mới đây.
Chủ nhân nói: - Tấm thảm này,
Quà con trai tặng cho thầy u thương!
Hai mốt năm treo trên tường.
Cỏ cây muông thú lạ thường hiển linh (1)
Sớm khuya vang vọng quanh mình,
Tiếng cây, tiếng suối thập thình đâu đây.
Tiếng nai gọi bạn hao gầy,
Mùa sinh sôi giục đàn bầy đến nhanh.
Chủ nhân tám bảy xuân xanh.
Sáng xơi trà nguội đã thành thói quen.
Những con nai đực khát thèm,
Nhưng nhà đóng cửa cài then chặt rồi.
Bà già năm lượt đi ngoài,
Lưng còng chân yếu kêu lời xót đau.
Thảm không dịch chuyển đi đâu,
Hai mốt năm vẫn gắn đầu chỗ treo.
Ông năm mươi tuổi dáng nghèo,
Trở về thường đứng vai đeo túi hờ.
Ngôi nhà tối sáng mập mờ,
Tràn lên tấm thảm tiếng hô hoán đầy.
Phía sau tấm thảm ai hay?
Lưỡi dao sắc lạnh đợi ngày bén xơi.
Một cái chảo sùng sục sôi,
Hướng dẫn viên: - Bà Thổ quả thiệt thòi tấm thân.
Mù loà liệt cả tay chân.
Người mua lại kể ngọn ngành xảy ra.
Ông già da đen Cu Ba,
Khốn cùng tự vẫn thế là đi tong.
Chủ nhân bày tỏ thật lòng:
- Nhớ con trai gương mặt hồng như hoa.
Chính lúc tấm thảm mở ra,
Một người lạnh cóng như là chết khô
Đứng nhìn tấm thảm trống trơ,
Hai chân đông cứng lặng tờ máu tươi.
Hướng dẫn viên bỏ nghề rồi.
Người mua quên bẵng một thời mình mua.
Chủ nhân: Tôi bạn khiếp chưa?
Người thân chết cháy chẳng lưa thứ gì,
Gốc cây trong thảm thâm sì.
Bây giờ là đúng năm nhì ai ơi!
(1) Người dệt tài tình đến mức cây cỏ, muông thú trog tấm thảm trở thành sinh linh có sức sống ngoài đời chạy nhảy.
Hà Nội, ngày 7 - 3 - 2010
Đỗ Hoàng
Thơ Kim Yến
Thơ Kim Yến
Thứ hai - 08/10/2012 03:34
Nhà thơ Kim Yến hiện dạy học ở Huế. Tác giả đã tốt nghiệp Khoa lý luận phê bình Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du (Khóa II), Khoa sáng tác Trung tâm Bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du (Khóa IV) có 2 tập sách Sao anh không trở lại (Thơ), Thông điệp văn chương (Lý luận phê bình) và nhiều tác phẩm được in trên các báo Văn nghệ, Tạp chí Nhà văn, Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, Tản Viên Sơn, Văn Việt, Văn nghệ cuộc sống, Dự trữ Nhà nước…
vannghecuocsong.com xin giới thiệu chùm thơ mới của chị!
Kim Yến
Ngân nga…
Ngân nga!
Một làn điệu dân ca
Lan rộng vào không gian
Giữa chiều thu sâu lắng.
Ngọt ngào mà dịu dàng!
Anh nhìn xa mênh mang.
Ký ức bền lâu thế
Nhớ một thời son trẻ.
Nghe làn điệu dân ca!
Anh từng chiến trường xa.
Dãi dầu bao mất mát.
Để làn điệu dân ca
Chiều nay em mãi hát!
Những khúc ca dạt dào
Hẹn với em ngày nào.
Anh về trong xuân nắng
Đằm thắm điệu ca dao!
Hà Nội lời ca vang.
Làn gió thu dịu dàng.
Anh lắng nghe em hát.
Khúc tình ca rộn ràng !
Hà Nội 10 – 8 – 2006
Kim Yến
MONG BIỂN
Biển mênh mông
Dậy triều
Âm vang
Trời xa!
Người nâng trái đất
Nhịp cầu nhân loại
Huyền thoại
Ước mơ
Ngày xanh lứa đôi.
Có khi biển cuồng phong dậy trào
Nhấn chìm tất cả
Hun hút lòng đại dương
Ôi! Ta khao khát, khao khát.
Biển đầy lặng gió
Êm ái thời gian
Biển đừng giận dữ
Mãi mãi bình yên!
10 – 2006
Kim Yến
Trời êm êm cánh én
Thăm thẳm không gian xanh
Hương trầm thơm nồng đượm
Thấp thoáng ngày nét xuân!
Cánh mai vàng bỡ ngỡ
Lung linh trong gió ngân
Những sắc màu rực rỡ
Níu mùa xuân lại gần!
Huế 2 - 2000
vannghecuocsong.com xin giới thiệu chùm thơ mới của chị!
Kim Yến
LÀN ĐIỆU DÂN CA
Ngân nga…
Ngân nga!
Một làn điệu dân ca
Lan rộng vào không gian
Giữa chiều thu sâu lắng.
Ngọt ngào mà dịu dàng!
Anh nhìn xa mênh mang.
Ký ức bền lâu thế
Nhớ một thời son trẻ.
Nghe làn điệu dân ca!
Anh từng chiến trường xa.
Dãi dầu bao mất mát.
Để làn điệu dân ca
Chiều nay em mãi hát!
Những khúc ca dạt dào
Hẹn với em ngày nào.
Anh về trong xuân nắng
Đằm thắm điệu ca dao!
Hà Nội lời ca vang.
Làn gió thu dịu dàng.
Anh lắng nghe em hát.
Khúc tình ca rộn ràng !
Hà Nội 10 – 8 – 2006
Kim Yến
MONG BIỂN
Biển mênh mông
Dậy triều
Âm vang
Trời xa!
Người nâng trái đất
Nhịp cầu nhân loại
Huyền thoại
Ước mơ
Ngày xanh lứa đôi.
Có khi biển cuồng phong dậy trào
Nhấn chìm tất cả
Hun hút lòng đại dương
Ôi! Ta khao khát, khao khát.
Biển đầy lặng gió
Êm ái thời gian
Biển đừng giận dữ
Mãi mãi bình yên!
10 – 2006
Kim Yến
NGÀY XUÂN
Trời êm êm cánh én
Thăm thẳm không gian xanh
Hương trầm thơm nồng đượm
Thấp thoáng ngày nét xuân!
Cánh mai vàng bỡ ngỡ
Lung linh trong gió ngân
Những sắc màu rực rỡ
Níu mùa xuân lại gần!
Huế 2 - 2000
Đỗ Hoàng - Người đi nhặt lại hồn thơ cũ
Nhà thơ Trần Mạnh Hảo email cho Đỗ Hoàng : ĐỖ HOÀNG NGƯỜI ĐI NHẶT LẠI HỒN THƠ CŨ
Trần Mạnh Hảo gửi ĐỖ TRƯỜNG
Trần Mạnh Hảo gửi ĐỖ TRƯỜNG
Cám ơn em, anh đã đọc một mạch bài viết đầy cảm xúc và trí tuệ của em về nhà thơ, nhà phê bình, dịch giả ĐỖ HOÀNG. Bài viết thật hay, xuát sắc. Có một chi tiết này em cần sửa. GS.TS. Nguyễn Hưng Quốc đang là chủ nhiệm môn Việt Nam học tại trường đại học Victoria Úc là nhà phê bình, chứ không phải nhà thơ.Gần cuối bài em có trích lời Nguyễn Hoàng Đức. Anh nhớ hình như ông Đức có nói : "Đỗ Hoàng cùng với Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Hưng Quốc là những nhà phê bình sáng giá của VN..." (*) .Nếu bài đã in trên các mạng, em nên viết cho họ sửa dùm chi tiết này.
Họ Đỗ CÓ ÔNG ĐỖ PHỦ thơ hay nhất thế giới.
Chúc em và gia dình vui khỏe, hạnh phúc, viết thêm nhiều bài phê bình hay nữa, góp phần làm rạng danh họ Đỗ và rạng danh quê hương Nam Định của chúng ta.
(*) Nguyễn Hoàng Đức viết " Tâm sự người lính" từ bóng râm chiến khu đến quảng trường phản tỉnh của lương tri có câu:
(*) Nguyễn Hoàng Đức viết " Tâm sự người lính" từ bóng râm chiến khu đến quảng trường phản tỉnh của lương tri có câu:
Đỗ Hoàng trước hết khá giỏi tiếng Trung, có cả kho tàng thơ cổ trong người. Tôi đã nghe anh nói tiếng Anh, bình thơ có tiếng Pháp, lại còn nhắn tin cho tôi bằng tiếng Nga. Riêng về vốn thơ, tôi gặp ba người làm tôi đáng nể và luôn cho rằng họ giầu vốn thơ nhất Việt Nam, đó là, Đỗ Hoàng, Nguyễn Hưng Quốc và Trần Mạnh Hảo. dohoang.vnwweblogs.com ho
hoặc vannghecuocsong.comĐỖ HOÀNG, NGƯỜI ĐI NHẶT LẠI HỒN THƠ CŨ
ĐỖ TRƯỜNG
Họ Đỗ nhà tôi ít có người tài, nên người làm quan không nhiều, viết văn làm thơ lại càng quí hiếm. Hôm rồi đại hội họ toàn quốc, nghe nói, có bác muốn hướng một số cháu thi vào trường viết văn, tương lai trở thành nhà văn, nhà thơ để cân bằng với các dòng họ khác. Nhưng có một số ý kiến lại cho rằng, chẳng có cái trường nào đào tạo được các nhà văn, nhà thơ cả, cứ để các cháu phát triển một cách tự nhiên. Thấy ý kiến này có lý, ngay sau đó, tôi viết thư cho bác Đỗ Ngọc Liên chủ tịch (hodovietnam.vn) an ủi và đề nghị: Nếu thật sự xảy ra cuộc thi đấu văn thơ, khi họ Nguyễn có những Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo… Họ Trần có Trần Mạnh Hảo, Trần Đăng Khoa…Họ Đỗ ta sẽ đưa Đỗ Hoàng ra tỉ thí.
Theo đánh giá của nhà văn, triết học gia Nguyễn Hoàng Đức, Đỗ Hoàng của chúng ta, là một trong ba nhà thơ nặng vốn nhất Việt Nam hiện nay. Do vậy các bác cứ việc rung đùi, vểnh râu chờ kết quả.
Nhà thơ Đỗ Hoàng tại tư gia - Huế
Đỗ Hoàng sinh năm 1949 ở một làng quê nghèo thuộc tỉnh Quảng Bình. Bố ông nguyên là lính khố đỏ, đánh đấm ở An-gie-ri mãi không chết, quay súng về làm lính bộ đội cụ Hồ. Được một thời gian ngắn, ông bị chính đồng chí chỉ huy bắn chết từ phía sau, gán cho cái tội chạy trốn, hàng địch, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, yêu đương tình ái. Cái nghi án, nhọ như đít chảo này, quàng vào cổ Đỗ Hoàng, theo ông hết những năm tháng tuổi trẻ và còn rớt lại đến tận hôm nay.
Cũng từ những nỗi đau không thể nói, không người giãi bày ấy, nó đã ủ cho tâm hồn Đỗ Hoàng mau chín hơn. Để ông có những suy nghĩ vượt thời gian, ngay từ những ngày đầu làm người lính chiến. Đầu những năm bảy mươi, khi các nhà thơ cùng thời đang say cuồng cổ vũ cho cuộc chiến thần kỳ, ông đã nhận ra sự thật thối tha của những kẻ bán mua chiến tranh, gây ra cảnh nồi da xáo thịt đồng loại. Ngày 20-11-1973, trên điểm chốt 176 mặt trận biên giới Việt Lào, nghe tin Lê Đức Thọ và Kissinger nhận giải Nobel hòa bình, lời thơ mỉa mai, đau đớn của ông dường nghẹn quắn lại:
“…Nỗi hận thù nghìn đời kẻ bày ra chiến tranh,
Biến nhà văn trở thành biệt kích
Biến đồng loài thành ra tội đồ thứ thiệt,
Trái đất tỷ năm này dằng dặc khổ đau!
Bọn chúng muốn lưu tiếng tăm còn mãi mai sau,
Muốn tổ tông giống dòng nghìn đời quan tước.
Bọn chúng muốn thăng quan tiến chức,
Tranh giải thưởng này đến các giải thưởng kia.
Đến như cái Nô Ben nào có ý nghĩa gì.
Khi phần thưởng trao vào tay quỹ dữ
Khi phần thưởng lại trao cho những tên đồ tể,
Coi mạng người như cỏ rác
trong cuộc chiến tranh này…“(Sự Thật Chiến Tranh)
Chiến tranh càng khốc liệt, sự tuyên truyền đánh vào tâm lý người dân, người lính cần thiết hơn bao giờ hết. Do vậy, người ta đã dựng lên những người lính điển hình, như Phạm Tiến Duật… (giữa chiến trường được hưởng tiêu chuẩn như một sỹ quan cao cấp) để nhả ra những câu thơ ru người vào khói lửa, binh đao:
“Cô bộ đội ấy đã đi rồi
Chuyển đơn vị vào vùng rừng trong ấy
Em gái đi, các anh ở lại
Biết đến bao giờ mới được gặp nhau…
…Lúc ấy lòng anh biết mấy tự hào
Tự hào vì có em ở đây, tự hào vì đất nước
Ở đây màu hồng xiết bao thân thuộc
Xao xuyến lòng anh, xao xuyến bạn bè… “ (Phạm Tiến Duật)
Trong lúc Phạm Tiến Duật đang bắt nhịp, gân lên“Đường ra trận mùa này đẹp lắm“hừng hực vui như bản tình ca trẩy hội, thì thơ Đỗ Hoàng quặn lên đau xót. Ông xé toạc tấm áo che đậy sự lọc lừa giả dối ấy, để thấy rõ vào miền trong sự thật là con đường máu lửa và chết chóc:
“…Đoàn lính gái áo quần còn mới
Lứa lính này đưa tới miền trong.
Họ không hề bị đeo gông,
Mà sao ánh mắt mênh mông nỗi buồn!
Bước gấp lại đầu buôn lạnh vắng,
Nghe chỉ huy sốt sắng truyền lời:
“Rằng quân ta đủ gái trai,
Vào trong giải phóng đất trời tự do!...”(Lính Gái)
Rồi đoàn lính gái đã không trở lại. Cái chết của họ, những người nữ quân nhân ấy, đã đẩy cuộc chiến lên đỉnh điểm khốc liệt và tàn nhẫn. Với tôi, bài “Cái Chết Của Người Đẹp“ là một trong những bài thơ hay, bi thảm, chân thực, cảm thông nhất viết về chiến tranh. Âm vang của lời thơ vọng lên như tiếng chuông tiễn đưa oan hồn, để nghìn năm sau em cũng chẳng được quay về.
Và đúng như vậy, nếu cái đẹp bị hủy diệt, thì hành tinh này dứt khoát sẽ bị vứt bỏ:
“Em chết rồi.
Người đẹp!
Viên đạn của thế kỷ nào bắn em?
Anh sững sờ giữa trái đất máu đổ.
Xác em nằm trong huyền ảo xa xôi.
Không gian đen,
Không gian trắng
Không nói ra lời
Nỗi đau trái đất màu mây xám.
Thế là vô tình
Sự sống
Bắt tay cái chết chia lìa!
Quân phục em mang
Máu thâm sì.
Nghìn năm sau em chẳng về được nữa.
Dù vật chất biến hoá bảo toàn,
Dù sự sống chỉ là điều phi lý.
Không gian,
Thời gian
Mệt mỏi trường tồn!
Anh đi trên trái đất cô đơn.
Gió bấc lạnh thổi tung làn ngực nở.
Xác em nằm
Một hành tinh vứt bỏ.
Vó ngựa trường chinh lãnh đạm dẫm qua…“ (Quảng Trị1-1974)
Cho đến lúc đang ngồi viết những dòng chữ này, tôi cũng không thể lý giải: Nơi chiến trường ác liệt và bao cạm bẫy đang rình mò như vậy, Đỗ Hoàng viết và cất giấu được bản thảo? Để đến năm 1996 Nhà Xuất Bản Văn Học (Hà Nội) in thành tập thơ“Tâm Sự Người Lính“. Nói dại, vào thời điểm ấy, bản thảo này, rơi vào tay kẻ cơ hội nào đó, số phận Đỗ Hoàng chắc chắn đi tong. Và nếu như Đỗ Hoàng hy sinh ngoài mặt trận, trong hành trang, người ta tìm thấy tập bản thảo này, thay cho báo tử, có lẽ là lời tuyên án chẳng khác gì cha ông trước đây.
Đặt tựa đề tập thơ là “Tâm Sự Người Lính“ tôi có cảm giác dường như vì lý do xuất bản, hay vì lý do nào khác, Đỗ Hoàng muốn làm nhẹ hình thức đi chăng? Thật ra nó phải là Số Phận Người Lính. Cái bi thương trong chiến tranh dù ở đâu và giai đoạn nào trước nhất thuộc về người lính. Máu và nước mắt họ đối với những kẻ có quyền và phát động chiến tranh chỉ là“Đầu hèn lính mọn lại sắp rơi“. Dù có nâng lên chủ nghĩa này, học thuyết nọ, thì cuộc chiến này, đọng lại một cách khách quan, chân thực nhất qua bài“Hành Quân Qua Đồng Hới“
“Dừng lại vội vàng giây lát thôi,
Thành quách ngày xưa đổ nát rồi.
Sao cảnh trăm đời như vẫn một.
Đầu hèn lính mọi lại sắp rơi!“ (Tháng10-1973)
Viết về chiến tranh, súng đạn khói lửa, những chết chóc tang thương của người lính, nhưng trong thơ Đỗ Hoàng tuyệt nhiên không thấy sự hận thù địch, ta, chỉ thấy tình thương ngút trời với cái nhìn cảm thông:
“ Lính ở bên kia mấy tiểu đoàn?
Vô nhiều đứng chật cả đường quan.
Ngày mai không biết nơi nào đánh?
Nhất định có người phải chết oan! “(Chết Oan-12-1973)
Sự cảm thông đó thực sự chỉ có được từ người lính chiến có trái tim nhân hậu. Do vậy, thơ ông dường như không còn của riêng mình nữa, mà nó là những cảm xúc chung của những người lính cả hai phía trong cuộc chiến tương tàn này:
“Ai nhìn khuôn mặt lính?
Cháy đen màu đồng hun.
Mấy năm trời đã sống
Lặng câm như khoảng rừng.
Sinh viên năm thứ nhất
Sinh viên năm thứ hai
Lớp lớp trong cỏ rác
Dưới đất đen sâu vùi.
Số sư đoàn cơ động
Số sư đoàn chốt cao,
Biến đi cùng năm tháng
Đời trần ai biết đâu?“ (Thân Phận Người Lính-1972)
Tôi nghĩ, “ Ngưng Bắn Về Thăm Quê“ là bài thơ hay nhất của Đỗ Hoàng viết trong thời gian chiến tranh(1970-1975). Chẳng cần phải đến sau 30-4-1975 mới nhận ra, như nhà văn Dương Thu Hương, khi vào tới Sài Gòn, ngồi bệt xuống đường, khóc, hét lên cho cả thế hệ bị dối lừa. Ngay từ năm 1973 Đỗ Hoàng đã vạch ra: “Kiểu làm ăn hợp tác/ Đói nghèo đến tủy xương“. Bài thơ như một lời ai điếu sớm cho một chủ thuyết và những chính sách sai lầm. Vì một lý tưởng nào đó, hay muốn thoát khỏi đói nghèo, thanh niên phải lách mình ra trận?“…Trai tráng bỏ quê hương/ Sung vào nơi lính tráng/Coi thường thân mạng sống/Cố lách qua đói nghèo…“
Vâng! Chúng ta hãy đọc lại trọn bài“ Ngưng Bắn Về Thăm Quê“ để thấy toàn cảnh của bức tranh nhoăn nheo, tiêu điều miền Bắc hậu phương vững chắc vì miền Nam một thời:
“Vừa mới đến đầu thôn,
Đã thấy làng lạnh vắng.
Mùa này giêng hai đến,
Người chạy ăn khắp nơi.
Làng quê đồng trắng trời,
Tre yếu gầy buổi đói.
Mái nhà tranh không chói(1)
Dửng dưng trời cao xanh!
Khắp nơi người chạy ăn,
Như kiến ong vỡ mật.
Đói không còn biết chết.
Xuống biển lại lên rừng.
Mẹ già đang tha phương.
Quên đường bom đạn nổ.
Chưa trọn đời đói khổ.
Nợ nần chất cháu con!
Ruộng ở nhà bỏ hoang,
Lúa tiêu điều xơ xác.
Kiểu làm ăn hợp tác,
Đói nghèo đến tuỷ xương!
Trai tráng bỏ quê hương,
Sung vào nơi lính tráng,
Coi thường thân mạng sống.
Cố lách qua đói nghèo!
Khuôn mặt đất nhăn nheo,
Quê nhà tan xác lá.
Bao giờ không đói khổ?
Lúa đầy rương giêng hai!“
30 -11 – 1973 (1) Lợp thêm, tiếng miền Trung)
Sau chiến tranh, Đỗ Hoàng chuyển sang viết, làm thơ chuyên nghiệp. Hiện ông đang làm công việc biên tập của tạp chí nhà văn Việt Nam. Ông là người ham đọc, tự học, biết nhiều sinh ngữ, nhất là tiếng Trung. Đỗ Hoàng có thể trực tiếp đọc và nghiên cứu từ nguyên bản thơ văn cổ. Nên vốn cổ văn cũng như hiểu biết của ông về lãnh vực này sâu và đa dạng.
Cách đây mấy năm, Đỗ Hoàng đã dịch và phóng tác từ nguyên bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thành 6 122 câu thơ lục bát với tựa đề Kiều Thơ. Năm vừa rồi (2012) Đỗ Hoàng lại cho ra lò song thất lục bát Khúc Ngâm Vợ Lính dịch nguyên tác từ tác phẩm chữ Hán Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn. Hai tác phẩm này, đã được đại thi hào Nguyễn Du và nữ sỹ Đoàn Thị Điểm dịch, từ mấy trăm năm nay được coi là quốc hồn quốc túy của nước Việt ta. Việc làm được coi là ngông, động trời này của Đỗ Hoàng, tốn khá nhiều bút mực trên văn đàn. Nhưng khi đọc, khó ai có thể phủ nhận tài năng cũng như sức (vốn) sáng tạo của ông. Và biết đâu đấy, trăm năm sau, khi nói về Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, hậu nhân của chúng ta chẳng nhắc đến Kiều Thơ và Khúc Ngâm Vợ Lính của Đỗ Hoàng?
“Lẻ loi cánh phượng trời xa
Phải chăng tạo hoá chưa ra an bài…”
(Kiều Thơ)
“Xưa nay chinh chiến trận đồ
Tấm thân muôn dặm nấm mồ táng đâu
Gió thổi rát thêm sầu mặt lạnh
Dòng nước sâu ngựa tránh chân xiêu
Kê yên, gối trống sớm chiều
Màn trời chiếu đất trải nhiểu đắng cay!...”
(Khúc Ngâm Vợ Lính)
Là nhà thơ, mang tính khí của người lính trận, nên gặp những bài thơ tắc tị, vô lối, bất kỳ tác giả là ai, tức khí, ông cũng phang thẳng cánh. Gần đây Đỗ Hoàng đã đè nghiến những bài thơ viết bằng tiếng Việt, đọc không thể hiểu của những Nguyễn Quang Thiều, Văn Cầm Hải, Vi Thùy Linh…dịch sang tiếng Việt theo thể lục bát. Việc làm của ông gây ra nhiều tranh luận, nhưng với tôi những bản ông dịch, quả thật hay, từ ngữ sáng, đẹp so bài gốc của nó rất nhiều. Cái chính, Đỗ Hoàng làm cho người đọc hiểu tác giả đó muốn nói cái gì, điều gì. Đành rằng thơ là cảm xúc riêng của tác giả, nhưng dùng những từ ngữ rắm rối, lảm nhảm tối thui để diễn tả, người đọc không thể hiểu, thì làm sao đồng cảm, xẻ chia cảm xúc? Dù có biện giải thơ mới, trừu tượng hay..gì gì ..đi chăng nữa, nó cũng chỉ là thứ nên cho vào kho.
Đỗ Hoàng đã sáng tác khá nhiều thơ theo thể tự do. Có những bài ông viết cách nay đã ba, bốn chục năm, nhưng đọc lên vẫn thấy rất mới và lạ, trẻ trung. Thật ra thơ hay hoặc dở, cũ hay mới, chẳng liên quan gì đến thể loại lục bát, tứ tuyệt, hay thể tự do. Thể loại chỉ là hình thức. Tải đến, làm người đọc rung động là những ngôn từ. Ngôn từ làm nên hình tượng thông qua sự tưởng tưởng cảm xúc của nhà thơ. Thơ hay dứt khoát phải có từ mới, hoặc cụm từ mới.Từ hay cụm từ mới không có nghĩa người viết chế, nghĩ ra, mà do cách sử dụng từ ngữ. Nhiều từ, cụm rất cũ, nhưng người viết đặt hoặc ghép trong câu đúng văn cảnh nào đó, gây bất ngờ cho người đọc, nó trở thành câu mới, nghĩa mới. Nhà thơ tài năng, ngoài kiến thức ra, dứt khoát phải là người có trí tưởng tượng và sự liên tưởng phong phú.
Với tôi, Đỗ Hoàng là một trong số ít các nhà thơ tài năng như vậy. Chưa một lần tiếp xúc, gặp gỡ Đỗ Hoàng, nhưng đọc thơ, tôi nghĩ, ông là người giỏi triết học. Thơ của ông giầu hình tượng so sánh, phảng phất triết lý sống dù đó là thơ tình. “Khoảng Cách” là một bài thơ, ông viết cách nay đã tròn ba mươi năm, nói lên điều đó:
“Chẳng có khoảng cách nào giữa các vì sao mà ánh sáng kia không tới.
Nhiều vô cùng gần lại trong tầm tay
Nhà thiên văn có thước đo cực tiểu
Để đi hết không gian
chiều rộng
chiều dài!
Nhưng em!
Chẳng ở đâu trong thiên thể.
Chỉ cách anh lối phố, con đường.
Thế mà anh chưa một lần đến được.
Dù tốc độ trái tim nhanh hơn ánh sáng hàng tỷ năm!
Thế mới biết,
Tình anh chỉ là thoáng chốc
Trước tình em
vĩnh viễn thời gian!
Dễ dàng chi trong đời đi hết?
Khoảng cách
Từ trái tim người
đến trái tim tôi!”
Thơ của Đỗ Hoàng đậm tính triết, nặng phần trí nên thường có bố cục chặt chẽ. Khi trích dẫn thơ của ông, khó tách ra từng đoạn, mà chỉ có thể bê nguyên bài. “Ngủ Quên” là một trong những bài thơ như vậy. Cái qui luật, mối quan hệ tuần hoàn của tự nhiên ấy, là triết lý sống liên tưởng về con người và giá trị của tâm hồn và cuộc sống:
“Không có mặt trời,
Trái đất ngủ quên.
Trong triệu năm băng giá!
Không có con thuyền,
Dòng sông ngủ quên.
Và tự xoá mình khi về biển cả!
Không có người đi,
Con đường ngủ quên.
Rồi cũng tan vào cây cỏ!
Không có tình yêu,
Trái tim ngủ quên.
Bao lứa đôi
Hóa đá!” (Huế 1983)
“Trước Tài Nghệ Ướp Xác“ là một bài thơ hay tiêu biểu về nhân sinh quan sâu sắc thân phận con người của Đỗ Hoàng, được viết vào tháng 5-1973(in trong tập thơ Tâm Sự Người Lính). Đọc, tôi cảm thấy hơi bị ê răng. Nếu như bài thơ này lọt ra ngoài, trong thời kỳ đang cuồng say ấy, gặp mấy ông ” vịnh người ngồi trên” Đỗ Hoàng gặp đại hạn như vụ Cây Táo Ông Lành-Hoàng Cát là cái chắc. Dù ông đã có lời giải thích, cảm hứng viết từ vụ ướp xác ở Thanh Hóa nào đó:
“Ai chết nghìn năm còn để xác?
Thế giới hôm nay mãi sững sờ!
Còn ta sống giữa đời đen bạc,
Như chết nghìn năm dưới đáy mồ!“
Không phải ngẫu nhiên, nhà triết học Nguyễn Hoàng Đức đánh giá Đỗ Hoàng, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Hưng Quốc là ba nhà thơ nặng vốn nhất Việt Nam hiện nay. Vốn ở đây chắc chắn là đạo đức, tư tưởng, chí khí và những kiến thức uyên thâm trong mọi lãnh vực của nhà thơ mà Nguyễn Hoàng Đức muốn nói đến. Với Đỗ Hoàng, tôi bảo đảm người đọc sẽ còn gặp nhiều những bất ngờ khác từ nơi ông.
Và nếu như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, bước ra từ ca dao lục bát để làm mới thi ca, thì tôi tin nhà thơ Đỗ Hoàng đang cần mẫn đi nhặt lại hồn thơ cũ đó.
Leipzig ngày 11-6-2013
Đỗ Trường
Tác giả gửi cho NTT blog
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)