Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

Phản ứng của Nguyễn Hoàng Đức qua vụ bị chặn xuất cảnh sang Italia:

Phản ứng của Nguyễn Hoàng Đức qua vụ bị chặn xuất cảnh sang Italia: KHUÔN MẶT CỦA NHÀ NƯỚC VÔ LUẬT PHÁP QUA CỬA KHẨU

 (Đối thoại với nhà nước Bất hợp hiến của độc đảng Việt Nam)
Nguyễn Hoàng Đức
N.H.Đ đọc tham luận về Văn hóa Việt Nam dưới cờ đảng.
N.H.Đ đọc tham luận về Văn hóa Việt Nam dưới cờ đảng.
Tôi Nguyễn Hoàng Đức, nhà văn, nhà lý luận phê bình, và nhà nghiên cứu triết học đã xin được visa của Đại sứ quán Italia, và mua vé đi Roma qua đường chung chuyển Băng Cốc. Lý do đi là do thư mời của Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình dự lễ phong Chân phước và hiển thánh của Tôi tớ Chúa Hồng y Phanxico Savie Nguyễn Văn Thuận vào ngày 5 và 6 tháng bảy 2013.
Lúc 18.50, ngày 2/7/2013, tại cửa khẩu sân bay Nội Bài, trước khi tôi làm thủ tục vé, cô nhân viên Việt thuộc hãng hàng không Thái có nói với tôi “anh phải sang gặp công an trước đã”. Tôi đi về phía bên phải cách đó hơn 20m, vào đồn công an cửa khẩu. Được thượng tá Phạm Tiến Dũng đồn phó thông báo cho biết:
“Anh Đức không được phép xuất cảnh. Nếu có khiếu nại gì thì về cục Quản lý xuất nhập cảnh tại 44 – 46 phố Trần Phú để làm việc”.

Tôi đề nghị cho biết lý do? Đồn phó nói: “Lý do anh sẽ biết ở địa chỉ trên”.
Tôi đề nghị việc cấm tôi xuất cảnh phải được thực hiện bằng văn bản.
Hơn một giờ chờ đợi, tôi được mời làm việc cùng với ông Dũng đồn phó và ông Hoàng Dương cán bộ cục QLXNC. Cuối biên bản trình bày sự việc bị cấm thông quan. Tôi đặt câu hỏi:
“Tôi muốn biết lý do tại sao tôi bị cấm xuất cảnh. Các anh cho biết ngay tại đây thì tốt”.
Ông Dũng đồn phó nói:
“Lý do, Cục QLXNC cũng không cho chúng tôi biết”.
Sau đó ông Dũng nói, vì việc anh muốn sự việc nặng nề thêm, nên tôi đành tạm thu hộ chiếu của anh. Có làm biên bản và mời tôi đến Cục làm việc.
Sáng nay, theo lịch hẹn, tôi đến 44-46 Cục QLXNC, có gặp một trung tá Lương Đình Khang phó trưởng phòng, và một thiếu tá Đinh Việt Dũng. Họ trả lại tôi hộ chiếu và hỏi yêu cầu của tôi.
Tôi nói:
“Tôi phản đối các ông. Các ông là cơ quan thay mặt cho một nhà nước. Lẽ ra một chính thể thì phải đàng hoàng, vậy mà các ông ách tôi lại không có lý do. Các ông không coi quyền của dân ra gì. Người Việt nói:“Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”, các anh mang phù phiệu quân hàm vậy mà đánh chặn nhân dân chẳng cần đưa ra một lý do gì, thì có khác gì cướp ngày?”
Hai cán bộ đề nghị tôi viết đơn đàng hoàng.
Tôi đã viết “Đơn kiến nghị và phản đối”, nội dung đại ý (tôi nhớ không nguyên văn):
Tôi phản đối việc cấm tôi xuất cảnh không rõ lý do. Việc làm đó không minh bạch đàng hoàng và trà đạp lên quyền công dân của người dân, đặc biệt với người trí thức như tôi. Ngay lúc này tại đây (cục QLXNC ) tôi cũng không được biết rõ lý do).
Khi về tôi nói: “tôi buồn phải làm công dân Việt Nam, nơi bị trà đạp thô bạo về dân quyền. Chính quyền muốn làm gì thì làm, dù oan ức đến đâu người dân đều phải chấp nhận.
Hai cán bộ hẹn mồm với tôi sẽ trả lời qua thư, nhưng chẳng rõ khi nào, tôi không hy vọng, vì tôi hiểu những gì hứa hẹn mồm của chính quyền Việt cộng.
Qua đây tôi muốn đối thoại.
Tại sao người Việt lại bảo “Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”?
Cướp thì nó phải rình mò, ẩn nấp, xuất kỳ bất ý, tấn công bất ngờ làm người ta không kịp trở tay. Nhưng cơ quan nhà nước thì có chính danh, có quân hàm, quân hiệu và con dấu tại sao phải làm những điều không rõ ràng? Trả lời: Vì người ta muốn ám toán làm điều không minh bạch!
Pháp luật là Nhà nước! Triết gia Hegel giải thích thế cho dễ hiểu, bởi vì pháp luật không thể của làng, của sắc tộc hay bộ lạc. Nhà nước sinh ra là bởi dân – cho dân – vì dân. Muốn thế nhà nước đó phải có pháp luật để bảo vệ người tốt, tấn công kẻ ác. Một nhà nước có pháp luật mạnh là nhà nước càng cai trị ít càng tốt. Theo lý thuyết tiến bộ hiện đại nhất là: nhà nước không cai trị mà chỉ dịch vụ giúp người dân sống. Người ta cần cấp giấy phép mua nhà, ô tô hay thông quan, anh hãy làm dịch vụ đó.
Nhà nước có quyền lực như công an, quân đội, phòng vệ là để làm cho pháp luật mạnh hơn, từ đó bảo vệ cái tốt đẹp hiệu quả hơn. Làm quan, dù bé hay to chẳng có gì khó cả vì đó chỉ là những người giữ con dấu, đóng dấu cho người ta thông quan. Như người Việt hát:
Việc ký là việc của tao
Còn việc trách nhiệm tao trao cho mày
Đi Tầu, đi Pháp đi tây
Nâng cao kiến thức việc này của tao
Lên rừng xuống biển gian lao
Tao cân nhắc kỹ tao giao cho mày
Nhưng nói chung làm quan là rất oai so với cách sống của người Việt cũng như người Tầu. Cả hệ thống nhà nước, công an, quân đội trong tay làm sao không oai? Hẳn là rất oai! Nhưng oai để làm gì nếu không thu được lộc? Thế là người ta ngăn sông, cấm chợ, chặn cửa để thu tiền mãi lộ. Quyền càng lớn thì càng phi lý. Ngược lại càng phi lý thì mới càng quyền lớn.
Kẻ chặn cửa người ta, hỏi lý do, “không nói” và “không rõ”, có khác gì bảo: “Bố mày có quyền trong tay, bố làm gì chẳng được, không biết đường ngoan ngoãn sẵn lực lượng và còng tay đây, bố cho vào tù, xem chân lý với sự thật có thắng không?”
Vì có quyền là có tất cả, nên người Việt theo đuôi người Tầu thích quyền lắm, đá cầu như Cao Cầu cũng bò lên tể tướng, rồi muôn vạn kẻ mua bằng chức cũng đòi làm quan… Nhưng nhà nước khi phục vụ lý tưởng mang tính hiến pháp thì nó còn cao đẹp, còn nếu chỉ theo đuổi nhóm lợi ích để đắp vào mình thì đó chỉ là phường giá áo túi cơm. Nhà nước cao đẹp mang hình ảnh của hiến pháp. Nhà nước mưu lợi cho cá nhân và nhóm lợi ích chỉ giống đám chặn cửa trấn lột ngày.
Đôi mắt luôn ở cao hơn cái mồm. Đôi mắt nhìn ra chân trời, lý tưởng. Còn cái mồm không thể ăn tới chân trời mà chỉ ăn quẩn ăn quanh. Làm chính trị lý tưởng cao đẹp như đôi mắt vậy. Còn làm chính trị ăn quẩn thì chỉ là cái miệng thôi.
Cái đầu cao hơn gót chân, đó cũng là hình ảnh của lãnh đạo và kẻ thấp hèn. Cái đầu thì đội vương miện cao quí nhưng không có mùi thức ăn. Còn cái chân, cái tay thì gần gũi với sờ soạng giường chiếu dục vọng. Người làm lãnh đạo mà không biết lấy niềm vui của vương miện làm hạnh phúc, chỉ cúi xuống ngụp lặn với lợi ích nhóm, tiền bạc, vật chất chỉ là thứ chân tay vũ phu mà thôi. Liệu cái cách quản lý chính quyền kiểu cơ bắp nói lấy được, làm cho xong, không cần lý giải của nhà nước lấy nghị quyết của đảng thay thế hiến pháp, đánh chặn, bắt bớ, cầm tù người ta vô tội vạ không đếm xỉa đến bất cứ đều luật nào, thì có phải chỉ là lãnh đạo bạo lực của tay chân không? Và oai để làm gì khi đem dép dục vọng lợi ích đội lên đầu làm vương miện?
Mong rằng bao giờ người dân Việt Nam được sống trong chính thể biết sống và làm việc theo hiến pháp, và tôn trọng pháp luật! Sống trong luật rừng thì người dân thành nạn nhân bị hà hiếp, còn chính phủ có tên gọi nào hơn ngoài “thổ phỉ”?!
NHĐ  4/7/2013

Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013

Thơ tự do của Đỗ Hoàng (phần 2)

Thơ tự do của Đỗ Hoàng

Thứ năm - 04/07/2013 11:43
     
         Nhà thơ Đỗ Hoàng
THƠ TỰ DO CỦA ĐỖ HOÀNG

Đỗ Hoàng đã sáng tác khá nhiều thơ theo thể tự do. Có những bài ông viết cách nay đã ba, bốn chục năm, nhưng đọc lên vẫn thấy rất mới và lạ, trẻ trung. Thật ra thơ hay hoặc dở, cũ hay mới, chẳng liên quan gì đến thể loại lục bát, tứ tuyệt, hay thể tự do. Thể loại chỉ là hình thức. Tải đến, làm người đọc rung động là những ngôn từ. Ngôn từ làm nên hình tượng thông qua sự tưởng tưởng cảm xúc của nhà thơ. Thơ hay dứt khoát phải có từ mới, hoặc cụm từ mới.Từ hay cụm từ mới không có nghĩa người viết chế, nghĩ ra, mà do cách sử dụng từ ngữ. Nhiều từ, cụm rất cũ, nhưng người viết đặt hoặc ghép trong câu đúng văn cảnh nào đó, gây bất ngờ cho người đọc, nó trở thành câu mới, nghĩa mới. Nhà thơ tài năng, ngoài kiến thức ra, dứt khoát phải là người có trí tưởng tượng và sự liên tưởng phong phú.

Với tôi, Đỗ Hoàng là một trong số ít các nhà thơ tài năng như vậy. Chưa một lần tiếp xúc, gặp gỡ Đỗ Hoàng, nhưng đọc thơ, tôi nghĩ, ông là người giỏi triết học. Thơ của ông giầu hình tượng so sánh, phảng phất triết lý sống dù đó là thơ tình
Đỗ Trường - Đỗ Hoàng người đi nhặt hồn thơ cũ
 

Gặp lại Hiền Lương
 

Đêm thẳm dày,
Anh thức cùng trăng sao!
Tiếng biển âm vang, sâu lắng.
Hiền Lương như nét mi xanh!

Có quảng đời tươi trẻ của em,
Bím tóc bay dịu miền cát trắng.
Tiếng hát của em cho sông về với biển,
Nắng xanh đôi bờ,
Sắc nước chẳng chia hai!

Biển của một thời,
Sông của một thời…

Bây giờ nhiều dáng dấp thanh tao,
Tươi trẻ như,
Dịu dàng như thế nữa!
Họ qua thời bom lửa.
Để vẻ đẹp em mang quân phục còn nguyên.

Năm tháng xa rồi,
Năm tháng biết yêu hơn.
Tuổi trẻ ta lớn cùng thời ấy.
Những lời chưa nói hết cùng nhau,
Hiền Lương giữ giùm!

Anh gặp lại Hiền Lương,
Khi mình chẳng trẻ trung.
Nhưng tiếng biển,tiếng sông vẫn là độ trước.
Ánh mắt em,
Làm sao nguôi được
Bến bờ anh dư dật triều dâng!

                Hiền Lương 1983



          Con
                   Cho Đỗ Hữu Huy

Con
Trái đất tí hon của ba.
với những đại dương dào dạt sóng,
với những núi non điệp trùng cao rộng.

Ba nâng con
Trái đất tí hon
Trên sức nặng tỷ tấn ngày ngày.
Những vòng xoay của con quanh Ba là sự đột biến lạ kỳ của trái tự quay trong không gian

Ơ con
Trái đất không có bóng đêm,
Không có những quốc gia chật hẹp.
và da thịt của con
Da thịt trái đất lên xanh!
Những chiếc răng tí xíu của con là mầm tơ sự sống bắt đầu

Sự trường  tồn trái đất.

Ba ôm con giữa lòng
để được quay theo tốc độ quay chóng mặt!
Hàng ngày nâng bế con,
Ba mới cảm nhận sức lực diệu kỳ bừng dậy trong con.

Ba có con,
Vũ trụ có thêm thiên thể!
Từ đây
Con đường lên cung trăng và các vì sao,
Con đường không xa lạ.
Khi con chập chững bước đi trên lối phố
Là sự khởi đầu cho trái đất
                                    tiếp cận không gian!

Sự hiển diện của con
Sẽ làm biến đổi bộ mặt Thiên Hà.
-Sức mạnh người Trái Đất!
                              Huế 7-1984




        Chí Lớn

            Kính Lão Tử


Biết được người.
Khó lắm!

Biết được mình.
Khó lắm!

Biết được người,
Biết được mình.
Đấy là bậc thánh!

Gắng làm chí lớn.
Đừng để mất mình.

Anh sẽ lâu dài…

Đến như cái chết.
Cũng thành vĩnh hằng!

    Hà Nội 12-9-1997


         Tuổi mồ côi
 
             Tặng Trương Nam Hương

Ta trong nhau
Tuổi thơ hẻm phố.
Dấu chân non vấp đá cuộc đời!
Khoảng trời xa chung chiêng ngoài cửa sổ.
Xanh xiết mòn
Năm tháng chông gai!

Tuổi mồ côi,
Hẻm phố mồ côi.
Đèn hạt lạt thắp nhức mắt đêm loãng.
Bát cơm chập chờn vơi hình năm háng.
Đất níu dìu nhau vất vưởng vỉa hè!

Tuổi mồ côi mơ mái phố chở che.
Xương Mẹ lạnh dưới mỗ,
                           tầng đất lạnh.
Khát vọng cha giữa bụi đời tung tán.
Câu thơ buồn,
Dắt tuổi thơ đi!

Ta trong nhau qua nỗi dại khờ.
Mưa hảo huyền lụt mắt trẻ nhỏ.
Nắng ảo tưởng cháy trong sách vở.
Chẳng thấy mình trong đoạn đời qua!

Tuổi mồ côi,
Thơ dắt đi xa.
Mới thấu hiểu nỗi đau là vô hạn.
Mới biết đến trái tim không bụi bậm.

Bài hát chính mình
Là tuổi mồ côi!


            Đồng Nai 1988

 

Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Thơ tự do của Đỗ Hoàng


Thơ tự do của Đỗ Hoàng

Chủ nhật - 23/06/2013 12:57
      
         Nhà thơ Đỗ Hoàng

THƠ TỰ DO CỦA ĐỖ HOÀNG


Đỗ Hoàng đã sáng tác khá nhiều thơ theo thể tự do. Có những bài ông viết cách nay đã ba, bốn chục năm, nhưng đọc lên vẫn thấy rất mới và lạ, trẻ trung. Thật ra thơ hay hoặc dở, cũ hay mới, chẳng liên quan gì đến thể loại lục bát, tứ tuyệt, hay thể tự do. Thể loại chỉ là hình thức. Tải đến, làm người đọc rung động là những ngôn từ. Ngôn từ làm nên hình tượng thông qua sự tưởng tưởng cảm xúc của nhà thơ. Thơ hay dứt khoát phải có từ mới, hoặc cụm từ mới.Từ hay cụm từ mới không có nghĩa người viết chế, nghĩ ra, mà do cách sử dụng từ ngữ. Nhiều từ, cụm rất cũ, nhưng người viết đặt hoặc ghép trong câu đúng văn cảnh nào đó, gây bất ngờ cho người đọc, nó trở thành câu mới, nghĩa mới. Nhà thơ tài năng, ngoài kiến thức ra, dứt khoát phải là người có trí tưởng tượng và sự liên tưởng phong phú.
 
Với tôi, Đỗ Hoàng là một trong số ít các nhà thơ tài năng như vậy. Chưa một lần tiếp xúc, gặp gỡ Đỗ Hoàng, nhưng đọc thơ, tôi nghĩ, ông là người giỏi triết học. Thơ của ông giầu hình tượng so sánh, phảng phất triết lý sống dù đó là thơ tình
Đỗ Trường - Đỗ Hoàng người đi nhặt hồn thơ cũ

Thơ tự do của |Đỗ Hoàng

ĐỖ HOÀNG

NHẶT TỪ BÙN

nhặt từ bùn
hòn than đen nhánh nắng trời
mà cánh rừng đại ngàn con lưu dấu vết
biết đốt mùa đông sưởi nồng trái đất

nhặt từ bùn
hạt thóc
nằm trong tối đen hơn trăm tiệu năm
đến hôm nay qua hơi ấm bàn tay người lại mọc
cho mùa màng thêm hạt
như tình yêu ủ chín bất ngờ

và cũng bất ngờ
nhặt từ bùn câu thơ
thời gian không hóa thạch!

Huế 1982

BUỒN

có người lấy chất liệu trong thiên nhiên làm trái tim của mình.
còn tôi
lấy buồn làm trái tim tôi

buồn hình thành nên tôi
từ ánh mắt, làn mi
từ dáng dấp, nghĩ suy…

tôi chết đi vì buồn
tôi sồng thêm nhờ buồn

cũng vì buồn mà tôi yêu
cũng vì yêu mà tôi buồn

tôi có thể mất đi
nhưng buồn
còn mãi!

Huế 1982

TRÊN ĐÔI CÁNH THIÊN NGA
 

không gian quanh em như làm bằng tơ
âm thanh quanh em
êm như thơ
cuộc sống bừng lên vũ điệu
em thành thiên nga bay lên trời

những ngôn ngữ cuộn sôi cánh múa
tiếng xiết lăn của bắp thịt làn da
tiếng của sợi tóc nói qua hơi thở
khoảng trời tình yêu bên em bước qua

khi không gian tưởng như ngừng trôi
khi thời gian rắn lại
màu áo cánh tiên của em trẻ mãi muôn đời
em dâng tấm ngực trần
chặn bão dông ùn tới
để cuộc sống thanh bình theo vũ khúc chơi vơi…

mơ hay thực?
bến bỡ lẩn lộn
thiên nga hiền hóa thân là em
nghìn đôi mắt trông theo dáng đứng
lúc cánh tay mềm lướt gió bay lên!

sự ngạc nhiên này không dành riêng cho anh
em hiện ra đời khác lạ
ngôn ngữ làn da, tiếng nói lại gần

em chinh phục tầm cao
chưa dễ ai đạt tới
bằng sự dịu dàng như lụa như nhung
chân trời xa muôn đời vẫy gọi
cuộc sống ơi!
phía ấy
vô cùng…


Huế 1981

 

Đỗ Hoàng - Người đi nhặt lại hồn thơ cũ


Đỗ Hoàng - Người đi nhặt lại hồn thơ cũ

Thứ ba - 11/06/2013 13:41

 

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo email cho Đỗ Hoàng :  ĐỖ HOÀNG NGƯỜI ĐI NHẶT LẠI HỒN THƠ CŨ

Trần Mạnh Hảo gửi ĐỖ TRƯỜNG
 
Cám ơn em, anh đã đọc một mạch bài viết đầy cảm xúc và trí tuệ của em về nhà thơ, nhà phê bình, dịch giả ĐỖ HOÀNG. Bài viết thật hay, xuát sắc. Có một chi tiết này em cần sửa. GS.TS. Nguyễn Hưng Quốc đang là chủ nhiệm môn Việt Nam học tại trường đại học Victoria Úc là nhà phê bình, chứ không phải nhà thơ.Gần cuối bài em có trích lời Nguyễn Hoàng Đức. Anh nhớ hình như ông Đức có nói : "Đỗ Hoàng cùng với Trần Mạnh Hảo và Nguyễn Hưng Quốc là những nhà phê bình sáng giá của VN..." (*) .Nếu bài đã in trên các mạng, em nên viết cho họ sửa dùm chi tiết này.
Họ Đỗ CÓ ÔNG ĐỖ PHỦ thơ hay nhất thế giới.
Chúc em và gia dình vui khỏe, hạnh phúc, viết thêm nhiều bài phê bình hay nữa, góp phần làm rạng danh họ Đỗ và rạng danh quê hương Nam Định của chúng ta.
(*) Nguyễn Hoàng Đức viết " Tâm sự người lính" từ bóng râm chiến khu đến quảng trường phản tỉnh của lương tri có câu:
 
 Đỗ Hoàng trước hết khá giỏi tiếng Trung, có cả kho tàng thơ cổ trong người. Tôi đã nghe anh nói tiếng Anh, bình thơ có tiếng Pháp, lại còn nhắn tin cho tôi bằng tiếng Nga. Riêng về vốn thơ, tôi gặp ba người làm tôi đáng nể và luôn cho rằng họ giầu vốn thơ nhất Việt Nam, đó là, Đỗ Hoàng, Nguyễn Hưng Quốc và Trần Mạnh Hảo. dohoang.vnwweblogs.com ho
hoặc vannghecuocsong.com

ĐỖ HOÀNG, NGƯỜI ĐI NHẶT LẠI HỒN THƠ CŨ
 

ĐỖ TRƯỜNG
 
Họ Đỗ nhà tôi ít có người tài, nên người làm quan không nhiều, viết văn làm thơ lại càng quí hiếm. Hôm rồi đại hội họ toàn quốc, nghe nói, có bác muốn hướng một số cháu thi vào trường viết văn, tương lai trở thành nhà văn, nhà thơ để cân bằng với các dòng họ khác. Nhưng có một số ý kiến lại cho rằng, chẳng có cái trường nào đào tạo được các nhà văn, nhà thơ cả, cứ để các cháu phát triển một cách tự nhiên. Thấy ý kiến này có lý, ngay sau đó, tôi viết thư cho bác Đỗ Ngọc Liên chủ tịch (hodovietnam.vn) an ủi và đề nghị: Nếu thật sự xảy ra cuộc thi đấu văn thơ, khi họ Nguyễn có những Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo… Họ Trần có Trần Mạnh Hảo, Trần Đăng Khoa…Họ Đỗ ta sẽ đưa Đỗ Hoàng ra tỉ thí.Theo đánh giá của nhà văn, triết học gia Nguyễn Hoàng Đức, Đỗ Hoàng của chúng ta, là một trong ba nhà thơ nặng vốn nhất Việt Nam hiện nay. Do vậy các bác cứ việc rung đùi, vểnh râu chờ kết quả.
    
           Nhà thơ Đỗ Hoàng tại tư gia - Huế
Đỗ Hoàng sinh năm 1949 ở một làng quê nghèo thuộc tỉnh Quảng Bình. Bố ông nguyên là lính khố đỏ, đánh đấm ở An-gie-ri mãi không chết, quay súng về làm lính bộ đội cụ Hồ. Được một thời gian ngắn, ông bị chính đồng chí chỉ huy bắn chết từ phía sau, gán cho cái tội chạy trốn, hàng địch, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, yêu đương tình ái. Cái nghi án, nhọ như đít chảo này, quàng vào cổ Đỗ Hoàng, theo ông hết những năm tháng tuổi trẻ và còn rớt lại đến tận hôm nay.
 
Cũng từ những nỗi đau không thể nói, không người giãi bày ấy, nó đã ủ cho tâm hồn Đỗ Hoàng mau chín hơn. Để ông có những suy nghĩ vượt thời gian, ngay từ những ngày đầu làm người lính chiến. Đầu những năm bảy mươi, khi các nhà thơ cùng thời đang say cuồng cổ vũ cho cuộc chiến thần kỳ, ông đã nhận ra sự thật thối tha của những kẻ bán mua chiến tranh, gây ra cảnh nồi da xáo thịt đồng loại. Ngày 20-11-1973, trên điểm chốt 176 mặt trận biên giới Việt Lào, nghe tin Lê Đức Thọ và Kissinger nhận giải Nobel hòa bình, lời thơ mỉa mai, đau đớn của ông dường nghẹn quắn lại:
 
“…Nỗi hận thù nghìn đời kẻ bày ra chiến tranh,
Biến nhà văn trở thành biệt kích
Biến đồng loài thành ra tội đồ thứ thiệt,
Trái đất tỷ năm này dằng dặc khổ đau!
 
Bọn chúng muốn lưu tiếng tăm còn mãi mai sau,
Muốn tổ tông giống dòng nghìn đời quan tước.
Bọn chúng muốn thăng quan tiến chức,
Tranh giải thưởng này đến các giải thưởng kia.
 
Đến như cái Nô Ben nào có ý nghĩa gì.
Khi phần thưởng trao vào tay quỹ dữ
Khi phần thưởng lại trao cho những tên đồ tể,
Coi mạng người như cỏ rác
trong cuộc chiến tranh này…“(Sự Thật Chiến Tranh)
 
Chiến tranh càng khốc liệt, sự tuyên truyền đánh vào tâm lý người dân, người lính cần thiết hơn bao giờ hết. Do vậy, người ta đã dựng lên những người lính điển hình, như Phạm Tiến Duật… (giữa chiến trường được hưởng tiêu chuẩn như một sỹ quan cao cấp) để nhả ra những câu thơ ru người vào khói lửa, binh đao:
 
“Cô bộ đội ấy đã đi rồi
Chuyển đơn vị vào vùng rừng trong ấy
Em gái đi, các anh ở lại
Biết đến bao giờ mới được gặp nhau…
 
…Lúc ấy lòng anh biết mấy tự hào
Tự hào vì có em ở đây, tự hào vì đất nước
Ở đây màu hồng xiết bao thân thuộc
Xao xuyến lòng anh, xao xuyến bạn bè… “ (Phạm Tiến Duật)
 
Trong lúc Phạm Tiến Duật đang bắt nhịp, gân lên“Đường ra trận mùa này đẹp lắm“hừng hực vui như bản tình ca trẩy hội, thì thơ Đỗ Hoàng quặn lên đau xót. Ông xé toạc tấm áo che đậy sự lọc lừa giả dối ấy, để thấy rõ vào miền trong sự thật là con đường máu lửa và chết chóc:
 
“…Đoàn lính gái áo quần còn mới
Lứa lính này đưa tới miền trong.
Họ không hề bị đeo gông,
Mà sao ánh mắt mênh mông nỗi buồn!
 
Bước gấp lại đầu buôn lạnh vắng,
Nghe chỉ huy sốt sắng truyền lời:
“Rằng quân ta đủ gái trai,
Vào trong giải phóng đất trời tự do!...”(Lính Gái)
 
Rồi đoàn lính gái đã không trở lại. Cái chết của họ, những người nữ quân nhân ấy, đã đẩy cuộc chiến lên đỉnh điểm khốc liệt và tàn nhẫn. Với tôi, bài “Cái Chết Của Người Đẹp“ là một trong những bài thơ hay, bi thảm, chân thực, cảm thông nhất viết về chiến tranh. Âm vang của lời thơ vọng lên như tiếng chuông tiễn đưa oan hồn, để nghìn năm sau em cũng chẳng được quay về.
 
Và đúng như vậy, nếu cái đẹp bị hủy diệt, thì hành tinh này dứt khoát sẽ bị vứt bỏ:
 
“Em chết rồi.
Người đẹp!
Viên đạn của thế kỷ nào bắn em?
Anh sững sờ giữa trái đất máu đổ.
Xác em nằm trong huyền ảo xa xôi.
 
Không gian đen,
Không gian trắng
Không nói ra lời
Nỗi đau trái đất màu mây xám.
Thế là vô tình
Sự sống
Bắt tay cái chết chia lìa!
 
Quân phục em mang
Máu thâm sì.
Nghìn năm sau em chẳng về được nữa.
Dù vật chất biến hoá bảo toàn,
Dù sự sống chỉ là điều phi lý.
Không gian,
Thời gian
Mệt mỏi trường tồn!
 
Anh đi trên trái đất cô đơn.
Gió bấc lạnh thổi tung làn ngực nở.
Xác em nằm
Một hành tinh vứt bỏ.
Vó ngựa trường chinh lãnh đạm dẫm qua…“ (Quảng Trị1-1974)
 
Cho đến lúc đang ngồi viết những dòng chữ này, tôi cũng không thể lý giải: Nơi chiến trường ác liệt và bao cạm bẫy đang rình mò như vậy, Đỗ Hoàng viết và cất giấu được bản thảo? Để đến năm 1996 Nhà Xuất Bản Văn Học (Hà Nội) in thành tập thơ“Tâm Sự Người Lính“. Nói dại, vào thời điểm ấy, bản thảo này, rơi vào tay kẻ cơ hội nào đó, số phận Đỗ Hoàng chắc chắn đi tong. Và nếu như Đỗ Hoàng hy sinh ngoài mặt trận, trong hành trang, người ta tìm thấy tập bản thảo này, thay cho báo tử, có lẽ là lời tuyên án chẳng khác gì cha ông trước đây.
 
Đặt tựa đề tập thơ là “Tâm Sự Người Lính“ tôi có cảm giác dường như vì lý do xuất bản, hay vì lý do nào khác, Đỗ Hoàng muốn làm nhẹ hình thức đi chăng? Thật ra nó phải là Số Phận Người Lính. Cái bi thương trong chiến tranh dù ở đâu và giai đoạn nào trước nhất thuộc về người lính. Máu và nước mắt họ đối với những kẻ có quyền và phát động chiến tranh chỉ là“Đầu hèn lính mọn lại sắp rơi“. Dù có nâng lên chủ nghĩa này, học thuyết nọ, thì cuộc chiến này, đọng lại một cách khách quan, chân thực nhất qua bài“Hành Quân Qua Đồng Hới“
 
“Dừng lại vội vàng giây lát thôi,
Thành quách ngày xưa đổ nát rồi.
Sao cảnh trăm đời như vẫn một.
Đầu hèn lính mọi lại sắp rơi!“ (Tháng10-1973)
 
Viết về chiến tranh, súng đạn khói lửa, những chết chóc tang thương của người lính, nhưng trong thơ Đỗ Hoàng tuyệt nhiên không thấy sự hận thù địch, ta, chỉ thấy tình thương ngút trời với cái nhìn cảm thông:
 
“ Lính ở bên kia mấy tiểu đoàn?
Vô nhiều đứng chật cả đường quan.
Ngày mai không biết nơi nào đánh?
Nhất định có người phải chết oan! “(Chết Oan-12-1973)
 
Sự cảm thông đó thực sự chỉ có được từ người lính chiến có trái tim nhân hậu. Do vậy, thơ ông dường như không còn của riêng mình nữa, mà nó là những cảm xúc chung của những người lính cả hai phía trong cuộc chiến tương tàn này:
 
“Ai nhìn khuôn mặt lính?
Cháy đen màu đồng hun.
Mấy năm trời đã sống
Lặng câm như khoảng rừng.
 
Sinh viên năm thứ nhất
Sinh viên năm thứ hai
Lớp lớp trong cỏ rác
Dưới đất đen sâu vùi.
 
Số sư đoàn cơ động
Số sư đoàn chốt cao,
Biến đi cùng năm tháng
Đời trần ai biết đâu?“ (Thân Phận Người Lính-1972)
 
Tôi nghĩ, “ Ngưng Bắn Về Thăm Quê“ là bài thơ hay nhất của Đỗ Hoàng viết trong thời gian chiến tranh(1970-1975). Chẳng cần phải đến sau 30-4-1975 mới nhận ra, như nhà văn Dương Thu Hương, khi vào tới Sài Gòn, ngồi bệt xuống đường, khóc, hét lên cho cả thế hệ bị dối lừa. Ngay từ năm 1973 Đỗ Hoàng đã vạch ra: “Kiểu làm ăn hợp tác/ Đói nghèo đến tủy xương“. Bài thơ như một lời ai điếu sớm cho một chủ thuyết và những chính sách sai lầm. Vì một lý tưởng nào đó, hay muốn thoát khỏi đói nghèo, thanh niên phải lách mình ra trận?“…Trai tráng bỏ quê hương/ Sung vào nơi lính tráng/Coi thường thân mạng sống/Cố lách qua đói nghèo…“
 
Vâng! Chúng ta hãy đọc lại trọn bài“ Ngưng Bắn Về Thăm Quê“ để thấy toàn cảnh của bức tranh nhoăn nheo, tiêu điều miền Bắc hậu phương vững chắc vì miền Nam một thời:
 
 
“Vừa mới đến đầu thôn,
Đã thấy làng lạnh vắng.
Mùa này giêng hai đến,
Người chạy ăn khắp nơi.
 
Làng quê đồng trắng trời,
Tre yếu gầy buổi đói.
Mái nhà tranh không chói(1)
Dửng dưng trời cao xanh!
 
Khắp nơi người chạy ăn,
Như kiến ong vỡ mật.
Đói không còn biết chết.
Xuống biển lại lên rừng.
 
Mẹ già đang tha phương.
Quên đường bom đạn nổ.
Chưa trọn đời đói khổ.
Nợ nần chất cháu con!
 
Ruộng ở nhà bỏ hoang,
Lúa tiêu điều xơ xác.
Kiểu làm ăn hợp tác,
Đói nghèo đến tuỷ xương!
 
Trai tráng bỏ quê hương,
Sung vào nơi lính tráng,
Coi thường thân mạng sống.
Cố lách qua đói nghèo!
 
Khuôn mặt đất nhăn nheo,
Quê nhà tan xác lá.
Bao giờ không đói khổ?
Lúa đầy rương giêng hai!“
 
30 -11 – 1973 (1) Lợp thêm, tiếng miền Trung)
 
Sau chiến tranh, Đỗ Hoàng chuyển sang viết, làm thơ chuyên nghiệp. Hiện ông đang làm công việc biên tập của tạp chí nhà văn Việt Nam. Ông là người ham đọc, tự học, biết nhiều sinh ngữ, nhất là tiếng Trung. Đỗ Hoàng có thể trực tiếp đọc và nghiên cứu từ nguyên bản thơ văn cổ. Nên vốn cổ văn cũng như hiểu biết của ông về lãnh vực này sâu và đa dạng.
 
Cách đây mấy năm, Đỗ Hoàng đã dịch và phóng tác từ nguyên bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thành 6 122 câu thơ lục bát với tựa đề Kiều Thơ. Năm vừa rồi (2012) Đỗ Hoàng lại cho ra lò song thất lục bát Khúc Ngâm Vợ Lính dịch nguyên tác từ tác phẩm chữ Hán Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn. Hai tác phẩm này, đã được đại thi hào Nguyễn Du và nữ sỹ Đoàn Thị Điểm dịch, từ mấy trăm năm nay được coi là quốc hồn quốc túy của nước Việt ta. Việc làm được coi là ngông, động trời này của Đỗ Hoàng, tốn khá nhiều bút mực trên văn đàn. Nhưng khi đọc, khó ai có thể phủ nhận tài năng cũng như sức (vốn) sáng tạo của ông. Và biết đâu đấy, trăm năm sau, khi nói về Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, hậu nhân của chúng ta chẳng nhắc đến Kiều Thơ và Khúc Ngâm Vợ Lính của Đỗ Hoàng?
 
“Lẻ loi cánh phượng trời xa
Phải chăng tạo hoá chưa ra an bài…”
 
(Kiều Thơ)
 
“Xưa nay chinh chiến trận đồ
Tấm thân muôn dặm nấm mồ táng đâu
Gió thổi rát thêm sầu mặt lạnh
Dòng nước sâu ngựa tránh chân xiêu
Kê yên, gối trống sớm chiều
Màn trời chiếu đất trải nhiểu đắng cay!...”
 
(Khúc Ngâm Vợ Lính)
 
Là nhà thơ, mang tính khí của người lính trận, nên gặp những bài thơ tắc tị, vô lối, bất kỳ tác giả là ai, tức khí, ông cũng phang thẳng cánh. Gần đây Đỗ Hoàng đã đè nghiến những bài thơ viết bằng tiếng Việt, đọc không thể hiểu của những Nguyễn Quang Thiều, Văn Cầm Hải, Vi Thùy Linh…dịch sang tiếng Việt theo thể lục bát. Việc làm của ông gây ra nhiều tranh luận, nhưng với tôi những bản ông dịch, quả thật hay, từ ngữ sáng, đẹp so bài gốc của nó rất nhiều. Cái chính, Đỗ Hoàng làm cho người đọc hiểu tác giả đó muốn nói cái gì, điều gì. Đành rằng thơ là cảm xúc riêng của tác giả, nhưng dùng những từ ngữ rắm rối, lảm nhảm tối thui để diễn tả, người đọc không thể hiểu, thì làm sao đồng cảm, xẻ chia cảm xúc? Dù có biện giải thơ mới, trừu tượng hay..gì gì ..đi chăng nữa, nó cũng chỉ là thứ nên cho vào kho.
 
Đỗ Hoàng đã sáng tác khá nhiều thơ theo thể tự do. Có những bài ông viết cách nay đã ba, bốn chục năm, nhưng đọc lên vẫn thấy rất mới và lạ, trẻ trung. Thật ra thơ hay hoặc dở, cũ hay mới, chẳng liên quan gì đến thể loại lục bát, tứ tuyệt, hay thể tự do. Thể loại chỉ là hình thức. Tải đến, làm người đọc rung động là những ngôn từ. Ngôn từ làm nên hình tượng thông qua sự tưởng tưởng cảm xúc của nhà thơ. Thơ hay dứt khoát phải có từ mới, hoặc cụm từ mới.Từ hay cụm từ mới không có nghĩa người viết chế, nghĩ ra, mà do cách sử dụng từ ngữ. Nhiều từ, cụm rất cũ, nhưng người viết đặt hoặc ghép trong câu đúng văn cảnh nào đó, gây bất ngờ cho người đọc, nó trở thành câu mới, nghĩa mới. Nhà thơ tài năng, ngoài kiến thức ra, dứt khoát phải là người có trí tưởng tượng và sự liên tưởng phong phú.
 
Với tôi, Đỗ Hoàng là một trong số ít các nhà thơ tài năng như vậy. Chưa một lần tiếp xúc, gặp gỡ Đỗ Hoàng, nhưng đọc thơ, tôi nghĩ, ông là người giỏi triết học. Thơ của ông giầu hình tượng so sánh, phảng phất triết lý sống dù đó là thơ tình. “Khoảng Cách” là một bài thơ, ông viết cách nay đã tròn ba mươi năm, nói lên điều đó:
 
“Chẳng có khoảng cách nào giữa các vì sao mà ánh sáng kia không tới.
Nhiều vô cùng gần lại trong tầm tay
Nhà thiên văn có thư­ớc đo cực tiểu
Để đi hết không gian
chiều rộng
chiều dài!
 
Nh­ưng em!
Chẳng ở đâu trong thiên thể.
Chỉ cách anh lối phố, con đ­ường.
Thế mà anh chư­a một lần đến đ­ược.
Dù tốc độ trái tim nhanh hơn ánh sáng hàng tỷ năm!
 
Thế mới biết,
Tình anh chỉ là thoáng chốc
Tr­ước tình em
vĩnh viễn thời gian!
 
Dễ dàng chi trong đời đi hết?
Khoảng cách
Từ trái tim ng­ười
đến trái tim tôi!”
 
Thơ của Đỗ Hoàng đậm tính triết, nặng phần trí nên thường có bố cục chặt chẽ. Khi trích dẫn thơ của ông, khó tách ra từng đoạn, mà chỉ có thể bê nguyên bài. “Ngủ Quên” là một trong những bài thơ như vậy. Cái qui luật, mối quan hệ tuần hoàn của tự nhiên ấy, là triết lý sống liên tưởng về con người và giá trị của tâm hồn và cuộc sống:
 
“Không có mặt trời,
Trái đất ngủ quên.
Trong triệu năm băng giá!
 
Không có con thuyền,
Dòng sông ngủ quên.
Và tự xoá mình khi về biển cả!
 
Không có người­ đi,
Con đ­ường ngủ quên.
Rồi cũng tan vào cây cỏ!
 
Không có tình yêu,
Trái tim ngủ quên.
Bao lứa đôi
Hóa đá!” (Huế 1983)
 
“Trước Tài Nghệ Ướp Xác“ là một bài thơ hay tiêu biểu về nhân sinh quan sâu sắc thân phận con người của Đỗ Hoàng, được viết vào tháng 5-1973(in trong tập thơ Tâm Sự Người Lính). Đọc, tôi cảm thấy hơi bị ê răng. Nếu như bài thơ này lọt ra ngoài, trong thời kỳ đang cuồng say ấy, gặp mấy ông ” vịnh người ngồi trên” Đỗ Hoàng gặp đại hạn như vụ Cây Táo Ông Lành-Hoàng Cát là cái chắc. Dù ông đã có lời giải thích, cảm hứng viết từ vụ ướp xác ở Thanh Hóa nào đó:
 
“Ai chết nghìn năm còn để xác?
Thế giới hôm nay mãi sững sờ!
Còn ta sống giữa đời đen bạc,
Như chết nghìn năm dưới đáy mồ!“
 
Không phải ngẫu nhiên, nhà triết học Nguyễn Hoàng Đức đánh giá Đỗ Hoàng, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Hưng Quốc là ba nhà thơ nặng vốn nhất Việt Nam hiện nay. Vốn ở đây chắc chắn là đạo đức, tư tưởng, chí khí và những kiến thức uyên thâm trong mọi lãnh vực của nhà thơ mà Nguyễn Hoàng Đức muốn nói đến. Với Đỗ Hoàng, tôi bảo đảm người đọc sẽ còn gặp nhiều những bất ngờ khác từ nơi ông.
 
Và nếu như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, bước ra từ ca dao lục bát để làm mới thi ca, thì tôi tin nhà thơ Đỗ Hoàng đang cần mẫn đi nhặt lại hồn thơ cũ đó.
 
Leipzig ngày 11-6-2013
 
Đỗ Trường