Thứ Tư, 26 tháng 6, 2013

Gửi nhà văn Đỗ Trường!


Gửi nhà văn Đỗ Trường!

Thứ sáu - 21/06/2013 11:36

GỬI NHÀ VĂN ĐỖ TRƯỜNG     
                 Hà Nội, Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 2013
               
Kính gửi nhà văn Đỗ Trường!

     Đọc bài anh viết về tôi, tôi quá cảm kích và xúc động. Trước hết anh đã hiểu tôi như những người bạn cùng tuổi chơi thân với nhau, hàng ngày cùng bia bọt ở trong nước, thứ nữa anh đã hiểu những tác phẩm tôi viết một cách sâu sắc, chia sẻ cùng tôi những suy nghĩ trăn trở một thời và cả bây giờ những vấn đề lớn lao của đất nước, con người, nhân loại toàn cầu. Với tầm nhìn, tầm nghĩ như anh lại được được tiếp xúc với thế giới rộng lớn bên ngoài, thế giới của những nền văn hóa lớn, nền văn mình vượt xa tổ quốc chúng ta; anh đã phân tích, bàn bạc, nhận định một cách khách quan, trung thực mà nhiều người ở quốc nội vì lý do này, lý do khác không kiến giải hết.
   

              Đỗ Hoàng tại nhà riêng ở Huế

  Cám ơn anh vô cùng! Anh đã chia sẻ cùng tôi người cùng họ. Họ mình nhỏ, ít người quá. Tôi ở khắp đất nước cố tìm họ nhưng ở đâu họ mình cũng lưa thưa. Không phải bênh vực, bè phái họ hàng, nhưng họ mình chia sẻ và dựa vào các họ lớn để vươn lên là một điều rất tốt mà con cháu trong họ phải biết. Nó cũng như các dân tộc nhỏ phải dựa vào dân tộc lớn để phát triển; nước nhỏ phải dựa vào nước lớn để tồn tại.
  Anh đã khá hiểu tiểu sử của tôi và bi kịch gia đình. Tôi xin thưa thêm vài điều nhỏ để hiểu thêm những năm tháng đau thương của gia đình, quê hương, đất nước.
  Ba tôi mất khi tôi mới 8 tháng tuổi, (ngày trước ở quê tôi, con nhà có tý chức sắc thì gọi bố bằng ba, con nhà thấp thì gọi  bố bằng bọ), mẹ tôi phải đi xin sửa khắp bà con tản cư ở chiến khu Bang Rợn (Lệ Thủy, Quảng Bình). Tám tháng tuổi thì làm sao biết được chuyện gia đình. Sau này khai lý lịch thì chính quyền địa phương bảo sao khai vậy. Không thể khai như bà con trong họ kể và mẹ tôi kể.
  Năm học lớp 9 cấp 3 Lệ Thủy (tương đương lớp 11 bây giờ). Tôi được giới thiệu vào Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam. Muốn vào đoàn thì phải khai lý lịch. Tôi ghi bố: chết.
  Không kết nạp được Đoàn. Mãi đến cuối năm, anh Bí thư Chi đoàn lớp bào phải khai rõ ràng: Bố chết vì gì? Tôi phải về hỏi mẹ tôi. Phong tục Việt Nam là xấu che, tốt khoe. Ai lại bảo bố chết trận bao giờ. Mẹ tôi không nói nhưng tôi bảo, trên rộng rãi, họ muốn biết chết vì gì. Và cuối cùng tôi khai : Bố chết trận!
  Tôi được kết nạp Đoàn,  thành Đoàn viên thanh niên Lao động Việt Nam tại Chi đoàn lớp 9C, trường cấp 3 Lệ Thủy, Quảng Bình (năm học 1966- 1967).
  Hai người lính bắn nhau như anh viết chính là chuyện đồn thổi, không có thật. Nhưng hai người lính ấy là hai người chồng của mẹ tôi.
  Ba tôi đi lính sang Pháp năm 1939, không phải đánh nhau ở An giê ri mà đánh nhau với Đức Quốc xã khi chúng chuẩn bị vào Pa ri xâm lược Pháp. Cùng đợt ấy có cả bốn bác tôi nữa. Và năm anh em đều bị tù ở Đức.
  Ba tôi cùng mấy anh em về nước năm 1946 , hình như cùng chuyến tàu với Bác Hồ. Mấy anh em nghe theo Bác Hồ đều đầu quân đánh giặc. Vì cán bộ quân sự thời Cách mạng tháng Tám năm 1945 hiếm lắm. Nghe nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp biết tên đến đại đội trưởng. Ba tôi là em út nhưng cũng đã lên được Quản thì phải. Các bác lên trước Quản, Đội nhiều năm. Ai cũng đều là cán bộ quân sự tỉnh, huyện Việt Minh, đảng viên, rồi về hưu.
  Riêng ba tôi làm đại đội trưởng 361 huyện đội Lệ Thủy, Quảng Bình. Ông Lê Hoản làm Chính trị viên. Hồi ấy Việt kiều trở về  nước mới giỏi quân sự, mấy anh thanh niên ở làng biết gì a lô xô, đi ong đơ (đi đều một, hai)…
  Ông Lê Hoản là người cùng làng (Thuận Trạch, Mỹ Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình) cùng hoạt động Cách mạng thời tiền khởi nghĩa với mẹ tôi, cùng trong Chi bộ, Đảng bộ, cùng cướp chính quyền ở huyện lỵ Lệ Thủy,cùng tham gia tích cực Tuần lễ vàng  Mẹ tôi là Bí thư phụ nữ xã Cao Vân, sau đó là Bí thư phụ nữ huyện Lệ Thủy. Mẹ tôi tuy đã có con gái lên 5, 6 tuổi, có chồng đi Pháp bảy, tám năm không biết sống chết thế nào, nhưng ông Hoản vẫn lấy mẹ tôi làm vợ.
(Thời ấy trai tân lấy nạ dòng là chuyện ngược đời.). Anh ruột ông Hoản là Lê Lỵ đã lấy dì họ tôi rồi.
  Hai người có với nhau một người con trai (tức là anh cùng mẹ với tôi, hơn tôi mấy tuổi). Nhưng anh mất khi lên chiến khu vì sốt rét.
   Khi ba tôi bên Pháp về thì mẹ tôi ở vào tình huống rất khó xử. Trong làng có câu ca:
Hoàng Thị Khê bốn bề ngao ngán (1)
Lê Thị Gắn chắc chắn chồng về (2)
(1)   Mẹ tôi
(2)   Bác gái ruột của tôi, vợ bác Đội Diệm
 Sau nhiều dằn vặt, mẹ tôi trở lại với chồng cũ, bỏ ông Lê Hoản.
   Ông Hoản nói ba tôi đã giết chết con ông. Mâu thuẩn địch ta không phải Việt Minh và Pháp mà là giữa Ba tôi và ông Hoản. Ông Đại đội trưởng và ông Chính viên không thể hòa hợp rồi chuyện không hay xảy ra, không biết hư thực thế nào?
  Ba tôi chỉ huy quân sự nên chẳng mưu cao như ông Chính trị viên.
          
           
Ông Đỗ Đức Triển (Bố của Đỗ Hoàng thời ở Pháp)

Ba tôi có làm thơ:
Con ơi con!
Cha mắc tòng quân qua Pháp
Cho nên chi cha Sở, con Tần
Thương mẹ con trăm phần chi xiết
Nỗi đớn đau này ai có biết?
Giục lòng cha Âu, Á đôi phương…
(Mẹ tôi đọc được một đoạn như vậy- Bài này viết cho chị tôi. Hồi đó tôi chưa sinh)

  Đấy là tôi nghe người lớn tốt nói lại vậy thôi, không biết có đúng không xin mọi người lượng thứ.
  Khi hòa bình lập lại sau năm 1954, tôi nghe mẹ tôi nói, khi tôi đi vắng, ông Hoản nhiều lần đến tìm mẹ tôi, nhưng mẹ tôi bảo làm nít (vợ bé), mẹ tôi không chịu. Ông còn nói nếu chịu ông sẽ nhận tôi làm con ông để đi học nước ngoài. Mẹ tôi vẫn không chịu!
 Chuyện nó như thế anh Trường ạ!
 Một lần nữa vô cùng cảm ơn anh đã viết rất đúng về tôi, về dòng họ Đỗ nhỏ và ít của mình trong cộng đồng người Việt.
  Chúc anh khỏe viết tốt!
TB: Nhà văn Bảo Ninh nổi tiếng với tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh sau khi đọc bài của anh do tôi chuyển đến đã nhờ tôi chuyển lời hỏi thăm anh và khen bài viết của anh

                                                                                       Đỗ Hoàng
Đỗ Hoàng
Tạp chí Nhà văn
Số : 65, Nguyễn Du, Hà Nội, Việt Nam
Tel: 0913369652
Về văn xuôi tôi có các quyển sau:
(1)   Phí một thời trai
(2)   Cuộc chiến vừa tàn
(3)   Chốn lục lâm (Nẻo rừng)
(4)   Tuổi thơ lầm lủi
(5)   Mưa Huế (Mưa)
(6)    Trên đường (Phóng sự)
(7)    Gửi người tình (đang sửa tiếp)
(8)   Khoảnh khắc đời người
 

Sự đổi giọng hay đã thực sự ăn năn hối lỗi


Sự đổi giọng hay đã thực sự ăn năn hối lỗi

Thứ bảy - 22/06/2013 11:00
    Sự đổi giọng hay đã thực sự ăn năn hối lỗi qua bài thơ
                       "Sự tầm thường" của Nguyễn Khoa Điềm
 
                                                                                   Phạm Ngọc TháI
 
     Tôi có ý định bình tổng hợp một số bài thơ gần đây nhất, Nguyễn Khoa Điềm đã viết sau thời gian hết đường quan lộ về làm thường dân - trong đó đặc biệt là bài "Đất nước những tháng năm thật buồn". Nhưng khi đọc lại "Sự tầm thường": Muốn bình cho trọn ý thì phải phân tích theo suốt dọc bài thơ, gộp cả các tình thơ khác nữa thì sẽ lan man rất dài. Bởi vậy, mới xin bình luận riêng về bài "Sự tầm thường" ấy trong trang này - Còn "Đất nước những tháng năm thật buồn" gộp với số bài thơ khác, tôi sẽ giành để viết sau.


Chùm thơ Nguyễn Khoa Điềm
        Nguyễn Khoa Điềm 
     Nói về bài "Sự tầm thường" - Bắt đầu vào thơ Nguyễn Khoa Điềm viết:
                    Bây giờ ta có thể bầu bạn với sự tầm thường
                    Vợ chồng sớm chiều treo mình lên cái đinh mắc màn...
     Hình ảnh "vợ chồng sớm chiều..." ở đây là sau khi NKĐ đã bị thất sủng buộc phải rời Ban bí thư Trung ương và Bộ Chính trị...  về sống nơi thôn hương với gia đình. Dầu tác giả có"treo mình" lên cái đinh mắc màn, mắc áo hoặc trên trần nhà, gì gì đi nữa... nhưng với người vợ má kề gối ấp của mình, thì đáng lẽ đó vẫn phải là hình ảnh đẹp, thân thương đời thường của nhân dân, năm xưa quen chốn quan trường ông không thể nào cảm thấy sự quý giá đó. Bởi vậy, không nên dùng chữ "sự tầm thường" đánh đổ đồng nháo nhào như ở trong bài thơ này .
     Xin xét vào các đoạn thơ sau rồi ta sẽ trở lại phán xét tiếp về những câu thơ đầu tiên ấy.
                      Bàn chuyện chạy chọt
                      Những đứa trẻ phải vào được lớp một
                      Đừng gieo vào đầu con những mơ ước xa xôi
                      Mơ ước nào cũng có giá.
                      Đôi người nhắc nhở rằng
                      Không phải độc lập tự do cao quý hơn tất cả
                      Mà chính là nhẫn nhục để ổn định.

 
     Qua hình ảnh về những "sự tầm thường" để NKĐ lên án một hiện thực xã hội - Đó là một xã hội chưa có "độc lập tự do" thực sự:
                      Không phải độc lập tự do cao quý hơn tất cả
                      Mà chính là nhẫn nhục để ổn định.
      Phải chăng đó cũng chính là sự phản ứng chế độ trong tư tưởng của ông Uỷ viên Bộ chính trị một thời? Tôi muốn hỏi cả một thời làm quan to, sao ông không có ý nghĩ này nhỉ? Khi chế độ chưa có độc lập tự do thực sự, thì đừng nên"gieo mơ ước vào đầu con trẻ" - vì mơ ước nào cũng sẽ phải trả giá?
      Thí dụ như: Ở xã hội đó nếu đấu tranh cho lẽ công bằng, cho sự tự do hay quyền sống chính đáng của một con người thì sẽ bị đàn áp, sẽ phải vào tù? và... con trẻ lớn lên chỉ nên biết: ...nhẫn nhục để ổn định/-  cuộc đời như con lươn, con trạch thôi? Đấy, ý thơ phản biện lại xã hội đương thời của Nguyễn Khoa Điềm là như vậy.
     Thế thì, thực sự bản chất của xã hội ấy là gì? Chẳng lẽ những năm tháng khi NKĐ còn là Trưởng ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương, xã hội vẫn còn rất tốt đẹp sao? Nó chỉ vừa mới xấu xa, tha hoá khi ông trở về làm một thường dân? Hoặc chỉ bởi vì khi đó làm một ông quan cách mạng, ông cần phải sống giả tạo để hưởng cho đủ những bổng lộc, vinh hoa phú quý mà đảng và nhà nước đã ban tặng cho ông? 

     Hôm nay đường quan lộ thất thế rồi, Nguyễn Khoa Điềm mới phản thùng? hay... ông đã thực sự ăn năn hối lỗi trước nhân dân về quá khứ của mình? Ta đặt ra câu hỏi:
1.   Có thể khi trở về với cuộc sống thường dân, NKĐ mới nhận ra sự còn phi nhân, phi nghĩa của thể chế, nên Ông tự sám hối về mình?
2.   Hoặc là, trước đây không phải ông không biết sự bất chính của guồng máy chính trị ấy... nhưng ông vẫn giả bộ như bao kẻ cơ hội khác, làm cao đạo, đục nước béo cò, để tận hưởng cho thoả những sự sung sướng phè phỡn của một ông quan lớn?
     Có bao giờ ông cần quan tâm đến chuyện một đứa trẻ mới vào lớp một cũng đã phải chạy chọt... như thơ ông viết:
                      Bàn chuyện chạy chọt
                      Những đứa trẻ phải vào được lớp một
                      Đừng gieo vào đầu con những mơ ước xa xôi
   Ông cũng đâu cần quan tâm đến việc nhân dân đã phải chịu đựng bao sự "nhẫn nhục để ổn định", vượt qua cuộc sống... tầm thường?
  
   TA SANG ĐOẠN THƠ THỨ HAI - NKĐ đưa ra một loạt những "sự tầm thường", nào là:
                   ...Với tờ giấy bạc trên miệng.
                   Sự tầm thường thật kín kẽ
                   Mặc những tấm áo đúng thời tiết
                   Tụ tập trên các diễn đàn
                   Nói lời rỗng...
     Ối, ông Trưởng ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương? Chắc cái thời mà chính ông vẫn thường liên tục thuyết giáo trên diễn đàn, khi ấy ông toàn nói những lời đẹp đẽ, quí hoá, lại vô cùng quan trọng và có ý nghĩa to lớn với vận mệnh non sông đất nước chăng? chứ không lăng nhăng, xàm tiếu như những phường ông nghị bây giờ? Rồi:
                     Đồng phục các cuộc thảo luận đại sự
                     Luôn luôn tìm một mặt bằng để ngả lưng 
     Thí dụ như... các cuộc "thảo luận đại sự" trong các Hội nghị Trung ương đảng hay là họp Quốc hội vừa qua chẳng hạn. Nghĩa là, những ông nghị thì chỉ toàn... "nghị gật", còn đại biểu phần lớn "đại biểu bù nhìn" để đẻ ra những nghị quyết tào lao chi khươn, vô bổ. Mặc cho nước mạt, quan thì thi nhau tham nhũng, xã hội xuống cấp, tha hoá... chẳng kẻ nào phải chịu trách nhiệm hết? đấy chính là ý nghĩa của câu thơ:
                    Luôn luôn tìm một mặt bằng để ngả lưng
     Rồi ông kết luận:
                    Chúng ta có đủ mọi phong trào, các cuộc họp liên miên
                    Để chỉ nhõn sắm ra sự tầm thường
                    Tai quái.
      Thế là đã rõ: Nguyễn Khoa Điềm phủ nhận toàn bộ các phong trào, dù đó là phong trào có tính chất quốc dân, cùng tất cả mọi kiểu hội nghị thời nay - Mục đích làm gì?
- Chỉ để nhõn sắm.../-  tức là vơ vét, vơ váo hay là tạo ra... "sự tầm thường tai quái". Nghĩa là các phong trào hay hội nghị đó toàn ba lăng nhăng hoặc mục đích trục lợi... giống như những sự loè bịp quái thai vậy.
     Chẳng phải cũng chính Nguyễn Khoa Điềm đã phủ nhận toàn bộ bộ máy nhà nước - dù thời của ông hay hiện nay cũng chỉ để làm ra "những thứ tầm thường tai quái" ?
     Ta cần phải hiểu nhân cách ông bí thư T.Ư & Uỷ viên Bộ chính trị Nguyễn Khoa điềm thế nào? kẻ trục lợi quốc gia, cơ hội đục nước béo cò trong một tổ chức của guồng máy còn nhiều phi nhân nghĩa chăng? Để bây giờ hết lợi lộc về thường dân rồi, ông mới buông ra những lời nguyền rủa, bài xích?  

      Xin trở lại với những câu thơ đầu tiên, khi ông nói về cuộc sống thường dân bên người vợ:
                       Bây giờ ta có thể bầu bạn với sự tầm thường
                       Vợ chồng sớm chiều treo mình lên cái đinh mắc màn...
     Nếu NKĐ coi sự trở về với gia đình, bên người vợ hiền là một hạnh phúc đời thường vô giá, trước đây khi còn làm quan to trong đảng ông không cảm nhận nổi - thì ông đã không đánh đổ đồng tất cả tuốt tuồn tuột với mọi loại "tầm thường"... mà ông đã nêu ra? Dù rằng người vợ cùng những người thân hoặc cả cộng đồng xã hội này đã phải sống chạy chọt đủ điều... chỉ để mưu sinh, phải "nhẫn nhục để ổn định" cuộc sống - Bởi vì, những sự việc dẫu là tầm thường, nhưng những con người ấy họ đâu có xuất phát từ những ý nghĩ đen tối tầm thường? Bản chất việc làm của họ xuất phát từ sự lương thiện, lương tri của con người. Ông đánh lộn tất cả một cách hổ lốn như cám heo trong một bài thơ, thì bài thơ của ông có khác gì chỉ là một mớ chữ... hoà trộn phân tro lẫn với phẩm chất nhân sinh của con người? Bài thơ "sự tầm thường" là một bài thơ sáng tác cũng rất... tầm thường. 
     Một bài thơ sáng tác xô bồ như kiểu thông tin, ngôn ngữ lèng xèng nửa văn xuôi, nửa có tí vần, chẳng có một hình tượng thơ nào đáng nói - thì làm gì có nghệ thuật để bàn xét về "nghệ thuật thi ca" cơ chứ?

     Tôi xin phân tích tiếp đoạn thơ dưới:
                         Chúng ta coi sự sáng tạo là đáng sợ
                         Chúng ta ghét bọn "chơi trội"
                         Cứ bày ra chuyện đâu đâu
                         Họ đâu biết tiếng "keng" của sự cụng ly
                         Nói nhiều hơn tất cả!
                         Bây giờ các bí thư sẽ chạy ra đường
                         - Thay vì bước vào phòng họp -
                        Để xua các cán bộ làm việc.
                        Bây giờ các nàng ca-ve học nói lời lịch sự
                        Để tham gia nhóm lợi ích.
                        Các bậc lão thành đang ngủ trong phòng máy lạnh,
                        Nhường chỗ cho sự tầm thường lên ngôi...
     Tôi không rõ: đại từ "chúng ta" ở đây ông định biểu thị cho tầng lớp nào? - Cho tầng lớp nhân dân trí thức, hay chỉ cho một lớp quan lại đương thời mà ông muốn chỉ trích?
     Bởi vì, câu trên thì viết: Chúng ta coi sự sáng tạo là đáng sợ/-  Rõ ràng đây ý tác giả sử dụng nghĩa "chúng ta" để chỉ vào lớp quan chức hoặc thủ trưởng, có ý mỉa mai chúng là những kẻ bảo thủ dốt nát nhưng hay dìm dập những phát kiến tiến bộ, trù úm các tài năng...
     Nhưng câu dưới:
                       Chúng ta ghét bọn "chơi trội"
                       Cứ bày ra chuyện đâu đâu...
     Thì hai từ "chúng ta" này ngả sang nghĩa biểu thị cho cộng đồng nhân dân. Cái bọn "chơi trội hay bày những chuyện đâu đâu" này không thể biểu thị cho những hình ảnh đẹp đẽ được. Những chuyện đâu đâu ấy, là những sự việc có thể rất hợm hĩnh bày ra để lấy công, tính thành tích dổm... hoặc bày chuyện để ăn tiền, tham nhũng. Rồi để kết luận về những chuyện đâu đâu... tác giả viết:
                       Họ đâu biết tiếng "keng" của sự cụng ly
                       Nói nhiều hơn tất cả!
      Vậy tiếng "keng" của sự cụng ly kia... để chỉ về những cuộc nhậu vui thú đời thường nơi dân dã, hay là "tiếng keng" chạm cốc của những đám công thần nghị sự trong các bàn tiệc được bày ra sau những cuộc "thảo luận đại sự" ... rỗng tuếch như đã nói ở trên? Một loạt hình ảnh tác giả vơ váo hết cả vào rồi nói đại, thành ra chẳng hiểu tiếng "keng" cụng ly ấy  thuộc kiểu gì... mà ý nghĩa hơn tất cả? Bài thơ viết còn rất láo nháo.
     Rồi một số hình ảnh khác: Nào là những bí thư thay vì các cuộc họp liên miên, cần phải thúc giục cán bộ tích cực làm việc hơn nữa; nào các cô ca-ve thì tập ăn nói những lời tốt đẹp và làm những việc có ích cho xã hội hơn; đến các bậc lão thành cũng phải nên thé này, thế nọ - Đó cũng chỉ là mấy cái băng rôn khẩu hiệu sáo, nhàm.

     Trước đây còn quyền chức, tiếng nói của ông là tiếng nói của một quan lớn - Ông có thể nói những lời nói giả tạo để tuyên huấn cho lớp này, lớp nọ... rồi ra chỉ thị cho tổ chức các cấp phải răm rắp theo, mặc dù tiếng nói trên diễn đàn của ông khi đó cũng chỉ là những lời... rỗng tuếch. Bây giờ hết thời, thất thế đường quan, nếu nói như trước thì chẳng những không ai nghe mà họ còn chửi ông là "dổm" nữa - Ông mới "đổi giọng"...
      Theo nhà thơ Đỗ Hoàng đã bình luận trong bài "Thơ vô lối Nguyễn Khoa Điềm..." đăng trên Bà Đầm Xoè rằng:         

      "Thời còn Ban Tư tưởng Văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Khoa Điềm để lại nhiều tiếng không hay cho lắm. Ông ta trù úm Hoàng Minh Chính, bắt nhà văn Dương Thu Hương, bôi nhọ Trần Độ, loại bỏ nhiều nhà bất đồng chính kiến, đàn áp những người đòi tự do dân chủ, cấm mạng, cấm internet, đốt thành tro bụi những tập sách như Học phí trả bằng máu của Nguyễn Khắc Phục, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Chúa trời ngủ gật của Nguyễn Dậu, Tâm sự người lính của Đỗ Hoàng, ngăn cản nhiều nhà văn tài năng vào Hội Nhà văn Việt Nam... Ký duyệt nhiều dự án tiêu hàng triệu đô là tiền ngân sách, thuế dân đóng để phe nhóm hưởng lại quả nhưng hiệu quả không là bao như: phim Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công, (phim bỏ kho) 1 triệu đô, phim Dòng sông phẳng lặng (phim bỏ kho), làng văn hoá Đồng Mô (làng bỏ hoang), Bác Hồ với văn nghệ sĩ...

     Đường hoan lộ của Nguyễn Khoa Điềm khá hanh thông. Nguyễn Khoa Điềm quan quá to. Ông trùm tư tưởng văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam. Rồi đứt gánh giữa chừng. Ông quan to Nguyễn Khoa Điềm phải về vườn... còn một hai nhiệm kỳ trong Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam nữa, nhưng lại bị ông cậu ruột của vợ là Nguyễn Đức Đạo viết đơn tố Nguyễn Khoa Điềm không phải là đảng viên và có thời gian bị tù ở lao Thừa Phủ - Huế khai báo với địch".

     Tôi cũng không rõ độ chính xác về những thông tin của bài viết trên đến mức nào? 
     Nhưng có một điều thực tế rằng: Nguyễn Khoa Điềm là một quan lại cấp trung ương đã lên đến cỡ Bộ chính trị của đảng cầm quyền... nhưng bị thất sủng phải về làm thường dân. Đương thời quan lộ, Nguyễn Khoa Điềm cũng chính là một ông trùm thực thi nhiều vụ đe nẹt sự tự do văn chương của giới văn nghệ sĩ, cũng như sự đấu tranh cho quyền tự do dân chủ xã hội. Nhân cách và đạo nghĩa ông đâu được trong sạch, tâm hồn tư tưởng sống của ông đâu được thanh cao như hàng bậc thi nhân Nguyễn Khuyến: không thèm làm ông quan phi nhân, phi nghĩa. Chán chường cảnh dơ dáy chốn cung đình, phẫn uất với tầng lớp gian thần hại dân, hại nước... từ quan về sống thanh bạch nơi dân dã. Đằng này ông tận hưởng vinh hoa phú quý, đục nước béo cò... đến tận phút chót, nào có cao đạo hay hớm gì?  Nay thành thường dân lại đổi giọng thơ quay ngược "180 độ" để ve vuốt  lòng người - Giả dối thay! E rằng, nếu bây giờ cuộc cờ nơi cung đình ở trung ương, bộ chính trị ấy thay đổi, nhóm người hay tổ chức phe phái của ông lại thắng thế trong cục diện. Họ lại dọn đường cho ông trở lại làm quan? Chắc rằng ông ta sẽ lại đổi giọng ngay, lại như trước đây thời ông vẫn còn làm trong Bộ chính trị, ông sẽ lại tiếp tục lên diễn đàn, lại huênh hoang múa mép, phồng mang, lớn tiếng trong các hội nghị và các cuộc "thảo luận đại sự"... cũng lại để soạn thảo ra một mớ các nghị quyết "tầm thường tai quái".


    Nhà thơ Phạm Ngọc Thái


    Ta hãy xem đoạn thơ cuối, Nguyễn Khoa Điềm đã kết:
                       Đôi khi tôi tin rằng chúng ta thua cỏ
                       Vì cỏ có thể lụi đi để sống lại
                       Tốt tươi hơn
                       Mãnh liệt hơn
                       Trong khi sự tầm thường đóng bộ áo
                       Tang chế, nhạt nhoà
                       Cúi đầu
                       Đi sau cái chết.
     Ông nói rằng chúng ta, tức là "nhân dân" thua cỏ, không bằng cỏ: vì cỏ còn biết đấu tranh để vươn lên với sức sống mãnh liệt, cho sự sống tốt đẹp hơn? Đằng này, chúng ta quá tầm thường khoác bộ áo tang chế nhạt nhoà, chấp nhận cúi đầu nhẫn nhục đi sau cái chết? Nghĩa là ông muốn ngầm bảo với mọi người rằng: chúng ta, nhân dân cần phải đứng lên đấu tranh để lột bỏ cái cũ thay bằng cái mới tốt đẹp. Nếu không đấu tranh là chết !  - Kể ra từ sự bức xúc mà ông có được những ý tưởng tiến bộ như thế cũng là tốt: Nếu xuất phát bởi một tâm hồn trong sáng, tư tưởng lành mạnh, tình cảm tốt đẹp?  
     Vấn đề là ở chỗ: Phải chăng đây lại chỉ là tiếng nói của một kẻ hai mặt, hai giọng? Khi làm quan thì sẵn sàng cùng chính quyền dùng bạo lực trấn áp những tư tưởng đấu tranh vì quyền sống tự do thực sự. Là một ông trùm Tư tưởng Văn hoá Trung ương cưỡng chế, tiêu huỷ những tác phẩm máu xương của các văn sỹ đấu tranh cho quyền sống của con người. Đành rằng như kinh Phật đã truyền: "Quay đầu lại là bờ..." - Được thế thì cũng đáng hoan nghênh. Nhưng liệu ông có thực sự, thực lòng là kẻ ăn năn hối lỗi quay đầu lại phía nhân dân không? Hay lại chỉ là một bộ mặt khác nữa... cũng không khác nào cơ hội?

  Xin hỏi ông nguyên Bí thư của Đảng: Xã hội này đâu phải bây giờ mới sa sút? Đất nước cũng đã mạt lâu rồi, từ cái thuở ông vẫn đang chễm chệ quan trên tác oai, tác quái ở trong Ban chính trị ấy cơ? Tại sao khi còn quyền lực đó ông lại không kêu gọi "chúng ta phải đứng lên thay đổi... để có một xã hội tốt đẹp hơn? mà phải đợi cho tới khi đã về vườn làm một thường dân, ông mới nói ra những lời để lấy lòng mọi người đang phẫn uất trăm bề? Cài lời nói cho có vẻ mang tính nhân sinh ấy của ông nó cũng dẻo quẹo như cái mồm dẻo quẹo của ông ở cái thời làm quan vậy.
     Người ta nói "lưỡi không xương trăm đường lắt léo" - Ông uốn lưỡi giỏi lắm nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm ạ! Thậm chí còn giỏi hơn, có kinh nghiệm hơn cả cái thời ông làm quan nữa.
     Thể chế này hỏng phải đâu bây giờ mới hỏng? Hiện thực xã hội xuống cấp phải đâu chỉ khi ông thất sủng đường quan lại trở về làm thường dân nó mới xấu?  Từ hàng chục năm nay nó đã nát rồi - Khi ấy sao ông không kêu gọi mọi người: hãy vùng lên như loài cỏ sống mãnh liệt để xã hội lại tốt tươi lên? Chúng ta phải bài bỏ các thứ đang hủ bại này để thiết lập nên một trật tự xã hội mới tốt đẹp hơn?

     Trong một bài thơ mới viết gần đây tên là "Thời sự cuối ngày", có mấy câu ông đã viết rằng:
                      Tôi mừng cho nước tôi
                      Vẫn còn Thạch Sanh
                      Dù không ít tên Lý Thông đĩ bợm...
     Vậy xin đặt ra một câu hỏi:
-   Liệu Nguyễn Khoa Điềm có phải cũng chỉ là một trong những tên Lý Thông đĩ bợm ấy không??? 

 
       PNT.
Hà Nội - 6/2013

            
                    SỰ TẦM THƯỜNG
Bây giờ ta có thể bầu bạn với sự tầm thường
Vợ chồng sớm chiều treo mình lên cái đinh mắc màn
Bàn chuyện chạy chọt
Những đứa trẻ phải vào được lớp một
Đừng gieo vào đầu con những mơ ước xa xôi
Mơ ước nào cũng có giá.
Đôi người nhắc nhở rằng
Không phải độc lập tự do cao quý hơn tất cả
Mà chính là nhẫn nhục để ổn định.

Đức Phật từ bi
Xin người đừng mắng tôi
Khi tôi nói lắm kẻ muốn ngài ngậm miệng ăn tiền
Với tờ giấy bạc trên miệng.
Sự tầm thường thật kín kẽ
Mặc những tấm áo đúng thời tiết
Tụ tập trên các diễn đàn
Nói lời rỗng
Đồng phục các cuộc thảo luận đại sự
Luôn luôn tìm một mặt bằng để ngả lưng
Chúng ta có đủ mọi phong trào, các cuộc họp liên miên
Để chỉ nhõn sắm ra sự tầm thường
Tai quái.
Chúng ta coi sự sáng tạo là đáng sợ
Chúng ta ghét bọn "chơi trội"
Cứ bày ra chuyện đâu đâu
Họ đâu biết tiếng "keng" của sự cụng ly
Nói nhiều hơn tất cả!
Bây giờ các bí thư sẽ chạy ra đường
- Thay vì bước vào phòng họp -
Để xua các cán bộ làm việc.
Bây giờ các nàng ca-ve học nói lời lịch sự
Để tham gia nhóm lợi ích.
Các bậc lão thành đang ngủ trong phòng máy lạnh,
Nhường chỗ cho sự tầm thường lên ngôi...
Đôi khi tôi tin rằng chúng ta thua cỏ
Vì cỏ có thể lụi đi để sống lại
Tốt tươi hơn
Mãnh liệt hơn
Trong khi sự tầm thường đóng bộ áo
Tang chế, nhạt nhoà
Cúi đầu
Đi sau cái chết.

              Nguyễn Khoa Điềm
                       24.4.2013

Phân tươi trong thơ cán bộ tiểu nồng


Phân tươi trong thơ cán bộ tiểu nồng

Chủ nhật - 23/06/2013 11:43

    
                     Nhà văn, nhà triết học Nguyễn Hoàng Đức - Ảnh Đỗ Hoàng

PHÂN TƯƠI TRONG THƠ CÁN BỘ TIỂU NÔNG

Nguyễn Hoàng Đức
2
Ở Mỹ, hàng năm ngoài giải Oscar giành cho những tác phẩm xuất sắc nhất của điện ảnh, người ta cũng còn trao giải cho những bộ phim quán quân ngược – tức là phim tồi nhất, dở nhất, kém nhất. Nếu bình bầu thơ ở đâu có trữ lượng phân tươi nhiều nhất, chắc không ai có thể giật giải quán quân của hội thơ Việt Nam với câu:

tôi mơ cứt ngập nhà anh
mai anh giàu trả hai mươi phần trăm
 Nhưng đây không phải giải dở nhất mà là cao nhất của Hội Nhà Văn Việt Nam trao mới đây. Đây là bằng chứng chứng tỏ giải thưởng thẩm xú cũng như phân gio của thơ nước nhà cũng như cách tôn vinh xú uế lên thành thẩm mỹ, mà còn được lĩnh giải cao nhất quốc gia, thì chỉ có thơ Việt Nam mới có. Xét cả về óc thi hứng thẩm xú, lẫn trao giải thẩm xú, có lẽ chỉ Việt Nam mới có. Tôi viết bài này mong tìm hiểu căn cốt của việc này.
Theo số thống thống kê mới nhất, người Việt vẫn còn từ 85 đến 90% là nông dân. Nông dân có nghĩa là canh tác trồng trọt trên cánh đồng với phương châm “nhất Nước –  nhì Phân”. Phân rất quan trọng với nông dân, nó đứng thứ hai ngay sau nước. Ngay trên đường số một, ra khỏi Hà Nội hơn trăm cây số thôi, có chợ ven đường, người ta chở cả phân trâu bằng xe cải tiến bán cho người cần. Ngay thủ đô, bên làng hoa Ngọc Hà, người ta bón đầy phân tươi dưới gốc hoa, và còn triết lý “phân càng thối thì hoa càng tươi”. Một lần tôi qua một chợ quê, con trâu vừa thải ra, liền thấy một bà hạ ngay rổ xuống, bốc nhanh đến mức không kịp nhìn như thể bưng một chiếc bánh ga tô lớn vậy, xong bà ta hạ nón trên đầu xuống đậy lên như một thứ của quí và bước đi có vẻ hơi dấu giếm lại vừa hân hoan như bắt được của. Tâm lý của bà nói lên điều gì? Rõ ràng bà đã kiếm được tí phân cho cây trồng của mình.
So sánh với nền công nghiệp hoa Hà Lan thì thấy, mỗi ngày người ta xuất cảng hàng vạn công-ten-nơ hoa đi khắp thế giới, nhưng người ta bón bằng phân vi sinh chứ không thể là phân tươi vắt vẻo bên gốc hoa.
Thơ Việt Nam cũng không ít lần dính phân, như:
Dọn tí phân rơi
         nhặt từng ngọn lá.
          Mỗi hòn than, mẩu sắn, cân ngô.
         Ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ!  (Tố Hữu)

Hay là thơ Bút Tre:
                   Hoan hô đại tướng Chí Thanh
                  Anh về phân bắc phân xanh đầy đồng
Tôi nghe kể lại, sau khi nghe hai câu này, Đại tướng bực mình lắm đã điện thoại cho lãnh đạo tỉnh: các anh viết thế có phải tôi về đó ị bừa bãi khắp nơi.
Nhưng chữ “phân” ở trên vẫn là phân văn học, là phân khô, phân đã ủ, chứ không phải phân tươi. Trong khi đó giải quán quân về phân tươi có lẽ mở đầu là Xuân Diệu, khi bất lực trước trường ca đã la lên như khẩu hiệu “ca ca – cứt cứt”. Đây rõ ràng là phân tươi trăm phần trăm.
Nhưng đến phân của TT mới thật sự là tươi, mà  phân hiện thực đến độ khao khát mang cả vào trong mơ: tôi mơ cứt ngập nhà anh.Chắc TT nghĩ, người Việt bảo “yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Khi tôi mong cho “phân”, nghĩa là tôi yêu anh lắm?
Căn nguyên sâu xa của việc này là gì? Tôi có gặp một típ người, anh ta bàn vào mọi nhân vật cao siêu nhất trên đời từ chính trị gia đến văn hào hay họa sĩ thiên tài, nhưng cuối cùng anh bảo: “các ông ấy là vĩ nhân ư, các ông ấy ị ra cũng là cứt giống như mình”. Ý anh ta muốn bảo: mọi vĩ nhân cũng chẳng hơn gì mình vì người ta phóng uế ra cũng chỉ là phân.
Người Trung Quốc có câu “người quân tử mong kéo người khác lên cao bằng mình, còn kẻ tiểu nhân muốn lôi người khác xuống thấp như mình”. Ở đời khi so sánh, người cao thượng khoe cái đầu rồi trái tim. Còn kẻ tiểu nhân lại lấy phân ra để so rằng ai cũng thối như ai.
Thơ của TT vừa khoe cứt, giấc mơ cũng cứt, rồi khoe nghèo để vạ vật ăn xin, ăn giải như : tổ tiên chúng tôi không còn để lại dù là bát mẻ.
Trong thơ, người ta phải thoát tục để vươn đến cao sang, ít học như dân làng Cổ Nhuế chuyên buôn bán phân bắc mà cũng còn không nhắc đến phân:
 Thanh niên Cổ Nhuế xin thề
 Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương
 Đấy chúng ta thử xem, họ đâu có nhắc đến phân hay phân tươi, chỉ cần dùng chữ “sọt” như là biểu tượng người ta đã hiểu rồi. Họ là người kiếm phân, buôn phân, sống với phân vậy mà họ đâu có muốn nhắc đến phân. Trái lại mấy anh nhà thơ cán bộ tiểu nông lại còn thiếu phân đến độ phải mơ đến phân tươi trong giấc mộng của mình.
Nhưng thứ phân như thế lại có thể qua mắt ban giám khảo thì thật là tài! Tại sao? Có phải người ta cũng quá gần phân và gắn với phân trong mỹ học thẩm xú nên chẳng còn nhận ra mùi vị phân. Có một câu chuyện một lão niên trí thức kể cho tôi:
Một con trai nhà giầu kia, thường trốn bố mẹ vào chuồng xí để hút thuốc phiện. Sau lớn lên, lúc giầu có, anh ta hút thuốc phiện thoải mái mà không thấy ngon. Một lần anh ta phát hiện ra: bởi lẽ nó thiếu mùi chuống xí. Thế là từ đó đi đâu anh ta cũng đem theo một cái hộp nhỏ có chút phân tươi. Mỗi khi hút, anh ta lại mở cái hộp đó ra ngửi như là thuốc hãm, và cảm thấy đã bội phần.
Hiện thực một trăm phần trăm, những người sống khu ổ chuột nhiều năm rồi cũng quen đi. Những kẻ tù đầy lâu cũng quen, đến mức không muốn rời khỏi nơi tù đầy mà chỉ thích cuộc sông lầm lụi chui rúc. Và những kẻ sống nhiều với điều xấu xa cũng quen đi… Các nhà thơ cán bộ sống bằng tem phiếu của chúng ta có quen không khi họ chẳng bao giờ muốn bước ra khỏi vòng hào quang dù chỉ tính bằng lạng của tem phiếu?! Một thứ thơ xú uế đến vậy mà người ta không thể ngửi thấy mùi vẫn cho giải nhất, có phải đó chính là “thuốc hãm” của họ? Hoặc là họ quen với việc trao giải xú uế rồi?!
Sắp lại đến kỳ ẵm giải. Không biết với cung cách cũ người ta liệu có đem phân vào lĩnh giải, hay là muốn ẵm giải có phân không?! Này, xin học cách làm thơ không phân của thanh niên ít học Cổ Nhuế nhá, nếu có thì chỉ là phân khô thôi, đừng có là phân tươi mà khổ mũi người yêu văn thơ lắm! Thơ giải nhất là phân tươi, vậy mà có một số nhà thơ khác lại tung hê lên mây xanh, không hiểu các ông có tí tài cán nào về thơ không, và thơ cái gì mà cũng đòi vỗ ngực dạy đời, còn bình xét người này biết làm thơ, người kia đừng hòng làm thơ. Liệu có nên đáng thương cho những sọt thơ bé tí như hộp hãm xú của mấy ông không? Và những sọt đó, chúng có mùi gì?

                                                                                               NHĐ  22/06/2013