Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Nguyễn Vũ tiềm không biết thẩm thơ hay, thơ dở

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm không biết thơ hay, thơ dở

Thứ bảy - 23/05/2015 00:39
 

NHÀ THƠ NGUYỄN VŨ TIÊM KHÔNG BIẾT THẨM THƠ HAY, THƠ DỞ

                       Đỗ Hoàng
 

 Vừa rồi, nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm có bài viết dài hơi, trên 8 000 chữ về “ Thơ cách tân và những vấn đề của nó” Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm số 10 ( 3+4 ) năm 2015 nhằm biểu dương những cây viết có tìm tòi về nội dung và hình thức biểu hiện thơ ca sau cuộc chiến 1975.
  Việc khen chê tác phẩm là quyền của mỗi cá nhân. Sự đời có người thì khen, có kẻ thì chê. Giai cấp này khen, giai cấp khác thì chê! Đời này khen, đời sau lại chê. Nhưng thơ hay thì mọi con người trên trái đất này đều thích cả.
  Tôi cũng không rỗi hơi đi mua cái ghét vào mình Nhưng rồi sau khi đọc bài của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm, tôi cứ băn khoăn day dứt, vì sao một thầygiáo dạy văn cấp 3, lại từng làm báo Giáo dục & Thời đại (Tài hoa trẻ) lại đi lăng xê những cái phi thơ ca như vậy. Đã thế còn cho các kiểu viết phi văn chương ấy là một sự “ cách tân” (!) Thầy giáo mà không thẩm được thơ thì làm sao dạy văn được cho học sinh?
   Bây giờ thi có quá nhiều giáo sư rởm, tiến sỹ bò, tiến sỹ vịt không thẩm được thơ. Thậm chí cả những tổ chức công quyền, tư quyền cũng không hiểu thơ hay, thơ dở; họ trao giải lung tung!
  Vì thế bắt buộc tôi phải viết bài này đế cho nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm và bạn đọc thấy cái viết “vô lối” đang làm mưa làm gió trên văn đàn. Đống rác ấy đừng bới ra làm gì. Tác hại của nó không lường!
 Kiểu viết, cách cảm này mà nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm cho là cách tân, là làm mới thì không biết nó mới chỗ nào?
Tôi thèm sống như thư thèm chết 
Giữa hơi thở giao thoa
Ngực cháy lửa
Tôi gọi khẻ
Em
(Thanh Tâm Tuyền)
 Con chó ăn cứt nó còn muốn sống nữa là con người! Có con vật nào thèm chết? Một kiểu nói cho có lạ của ông Thanh Tâm Tuyền!
Ông Tiềm biểu dương những kiểu nói quái gỡ, ngược đời:
Trên đầu điếu thuốc của anh
Anh nghĩ tới em
Điếu thuốc đã tàn
Dù không hộp quẹt
(Triệu Tử Truyền)

 Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm viện dẫn Nguyễn Lương Ngọc cho là mới lạ cuối thế kỷ XX. Nguyễn Lương Ngọc là một tác giả thơ đã mất. Sau này thấy người ta xới lại bài Hội họa lập thể của Ngọc. Không phải bài này mà cả tập thơ Từ nước của Nguyễn Lương Ngọc đã được anh em trường Viêt văn Nguyễn Du khóa IV đã phân tích rất đúng và chính xác, chỉ ra sự đại ngôn và cái sai trong lập luận của Ngọc.
 Ngọc viết rất đại ngôn:
“Đã cho anh chiếc lăng kinh này đây 
Để anh đủ sức đập nát mình ra mà ghép lại
Nung chảy mình ra mà tìm lõi
Xé tung mình ra mà kết cấu”
Sai trong lập luận:
“Em tặng anh cát
Đây nó là thuỷ tinh
Em tặng anh dòng sông
Đây nó là ánh sáng   
 Viết thế này mà ông Tiềm cho là mới là lạ sao? Nó sai 100% phần trăm. Cát là cát, thủy tinh là thủy tinh. Cô gái tăng cát mà khẳng định nó là thủy tinh thì cố gái ấy có phép thần thông biến hóa!
“Em tăng anh dòng sông
Đây nó là ánh sáng”
 Viết thế đã đủ chưa?
Nếu:
 “Em tặng anh biển cả
Đây nó là hào quang 
Thì sao?
 Và tư duy phân gio thì nhiều người sẽ viết:
Em tặng anh cục cứt người
Đây nó là mùa bội thu”
Cũng được chứ sao!
 Kiểu này mà ông Tiềm gọi là mới là khác lạ thì chịu ông Tiềm rồi!
  Sau cimena cuộc đó Nguyễn Lương Ngọc bỏ đi bộ xuyên Việt cho nổi tiếng rồi đụng xe  tử nạn không để lại tấc thơ nào!
  Cái bài Tan vỡ của Dư Thị Hoàn mà Nguyễn Vũ Tiềm nức nở cho là Hồ Xuân Hương cũng không với tới được cũng được anh em khóa IV Viết văn Nguyễn Du  phân tích trong cimena dịp ấy. (Xin xem thêm Dư Thị Hoàn không biết làm thơ tiếng Việt – vannghecuocsong.com).
  Bài vô lối này Dư Thị Hoàn viết đối tác tình nhân vô tâm, vô tình không hề quan tâm đến tình nương cả lơ đểnh trong công việc và cả trong làm tình ở công viên, vô trách nhiệm với người yêu nên tan vỡ tình yêu
Nếu không có một lần
Một lần như đêm nay
Sau phút giây 
Êm đềm trên ghế đá
Anh không cài khuy áo ngực cho em
(Tan vỡ)
 Các cô điếm cũng không lẹo nhau trên ghế đá công viên, huống chi đôi tình nhân đang yêu. Chỉ có loài lục súc, loài chó mới chơi cái trò hủ bại ấy giữa thanh thiên bạch nhật. Anh du côn tám thẹo với chi điếm giang hồ bảy da thì còn gì mà trách cứ cơ chứ! Một kiểu viết bậy bạ ô trọc chưa từng có trong cõi Việt.
  Sau đó Dư Thị Hoàn bỏ học về Hải Phòng đi buôn!
 Các cây bút nữ khai thác bản năng thấp hèn của mình một cách quá thô lậu, không nói là bẩn thỉu như: V T L, L H L, P H T, … lại được Nguyễn Vũ Tiềm thổi kèn đích đưa lên mây xanh: “Phóng túng nghiêm khắc của Dư Thị Hoàn (người dân tộc thiểu số không biết làm thơ tiếng Việt) thì thời Hồ Xuân Hương đã có, nhưng khám pha bản thể và khát vọng tự do của LHL thì thời Hồ Xuân Hương hay gần hơn thời Anh Thơ, Dư Thị Hoàn không có.. 
  Nói thế là võ đoán, nói tào lao, lăng xê không phải lối.  Cái bài Mở nút áo là một bài viết ẩu sỉ, không phải thơ và chẳng mới mẻ gì:
“Chầm chậm mở một chiếc nút áo
Soi vào gương chầm chậm mở hai chiếc nút áo.”
 Dùng bao nhiêu chữ chầm chậm, dùng bao nhiêu chữ mở mà chẳng nói được điều gì ngoài cái trơ trẽn “một giọt đêm ứa ra từ bầu ngực trắng” của người thiếu nữ mà con chó nó cũng có cái đuôi nó che lại!
 Rồi Nguyễn Vũ Tiềm dẫn Nguyễn Bình Phương”
“Đám @ đánh võng phóng như bay
Thời gian ngã, máu tuôn, thời gian không thể dậy
Tốc độ ư?
Thì cũng cũ lắm rồi…
Ta lớn lên bằng kiếm tìm
Kiếm tìm giờ đã cũ…”
Bài này ông Tiềm đã khen nức nở trên báo Văn nghệ!
Đây là kiểu viết của nhiều người cưa sừng làm nghé như Từ Quốc Hoài, Hoàng Vũ Thuật, Thanh Thảo, Thi Hoàng…kiểu: “ta lấy tư duy của Heghen đẽo làm ghế ngồi//Lấy triểt học hiện sinh làm tuấn mã và cưỡi nó chạy trên đường đại thắng/ Ta bế nhan sắc Tây Thi đặt trong ý nghĩ cung trăng…”
Nguyễn Bình Phương thời mười tám đôi mươi viết còn phảng phất một chút thi sỹ” Bóng chiều đổ xuống đường ray/ Biết là thương nhớ từ nay sẽ nhiều (Lãng mạn)
Nay Nguyễnf Binh Phương viết xơ cứng, làm duyên làm dáng không phải lối, tỏ ra ta là trí tuệ, ta là model nhưng chả trí tuệ model gì.. Thật ra là rỗng tuếc của một văn hóa nghe lõm, một trình độ tiếng Việt rất thấp như người nước ngoài học vài tiết tiếng Việt làm thơ, viết văn vô lối! (Vô lối Nguyễn Bình Phương – vannghecuocsong.com)
  Cả dân tộc khổ hận tan tành sau cuộc chiến huynh đệ tương tàn nỗi da xáo thịt thảm khốc nhất trong lịch sử dân tộc Việt mà các nhà cách tân chỉ chạy vuốt khẩu súng lục và cái tam gíác si đa của mình.
  Các cây viết gọi là cách tân này không đưa đến một nội dung nào khả dĩ, một nghệ thuật hình thức nào siêu phàm. Họ chỉ làm xấu đi nội dung thanh cao của thơ, làm kém đi hình thức biểu hiện của thơ. Nó kém hơn, tế, đối, phú, nói lôi, hát vui chơi, hát ru em … của ông cha nghìn xưa để lại.
 Xem ra trong họ không mấy người cao cao trí tuệ, cường liệt tinh cảm “ đọc thư phá vạn quyển, hành lộ vạn lý san”. Đã thế tấm lòng lại băng giá, nhiệt tình xuống quá độ âm, giấc mơ con đè nát cuộc đời con.
  Thế thì cách cái gì và tân cái nỗi gì! Ông Tiềm thổi kèn quá đáng!
Cách tân – Đổi mới là sự cần thiết của cuộc sống.muôn loài muôn loài. Điều này người ta đã nói quá nhiều, không chỉ thơ. Nhưng cách tân làm mới như thế nào? Mới như thế nào? Mới, lạ hay, chứ không phải tắc tỵ, hủ nút, phá bỏ!
 Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cũng là đại biểu tìm tòi, đổi mới. Nhưng ông thấy ông làm cho khác chứ chưa mới cả trong nội dung, lẫn hình thức mà nhiều khi viết theo hình thức cũ lại là mới:
“Một mai tôi có xanh màu
Lá xòe tay xóa vết nhàu thuở xưa
Con đường
               Giấc mộng
                             Đêm mưa
Người về như thể cây vừa mọc lên!
(Con đường)

Hà Nội 23-5-2015
Đ - H

Nhát chém đầu đời

Nhát chém đầu đời

Thứ ba - 23/06/2015 03:09
Chuyện nhặt (tiếp 12)
 
Đỗ Hoàng

NHÁT CHÉM ĐẦU ĐỜI
 
  Chết dần dần, chết từ từ, chết từ từ, chết từng phần, chết từng phần, chết dần dần…giống như xử tội tùng xẻo thời trung cổ bên Tàu và sập đầm lầy bên Nga
Điều đó rất đúng với thảm cảnh của tôi năm học lớp 10, niên khóa 1967- 1968, thế kỷ trước ở trường cấp 3 Lệ Thủy A – Tuyên Hóa, Quảng Bình, nhất là những ngày đợi chờ cắt giấy hộ khẩu chuyển về bản quán lao động cải tạo!.
  Năm học ấy không phải thi Đại học. Ai đỗ tốt nghiệp đều được đi học đại học mà ai cũng tốt nghiệp hêt. Nhà nước ưu tiên số một cho học sinh tuyến lửa học sơ tán trong chiến tranh chống Mỹ. Trước đó và sau này không có tiền lệ ấy! Trước đó và sau này không có cảnh học sinh lớp 10 cuối cấp ở tập thể, sinh hoạt tập thể trong một nhà lán nơi sơ tán. Ai đỗ, ai trượt tùy theo năng lực làm bài thi, và chỉ biết khi giấy báo báo về, và cũng báo theo địa chỉ nhà riêng, người nào biết người nấy.
 Năm tôi học lớp 10 thì phải sơ tán ra ngoài vùng an toàn Tuyên Hóa (cực Bắc tỉnh Quảng Bình giáp tỉnh Hà Tĩnh). Vì nhà đói quá, tôi phải nghỉ học một năm, học lại năm sau mới phải sơ tán cùng trường. Tôi học thuộc loại khá giỏi, được phê trong học bạ là có năng khiếu môn toán. Toán tôi tổng kết được điểm 5 ( hồi ấy đang thang điểm 5)
  Học kỳ một thì chưa chộn rộn (1) gì, ai cũng chăm chú học. Nhưng đến học kỳ hai khi làm hồ sơ đi học và các thầy chủ nhiệm về quê thẩm tra lý lịch để đi Đại học, lán lớp tôi đêm đêm đều thỏa luận chuyện đi học Đại học nở như ngô rang và sự phân hóa thành phần giai cấp rất căng thẳng. Những ai con gia đình địa chủ nợ máu, gia đình đi lính Pháp, gia đình cường hào gian ác, gia đình liệt sỹ, gia đình có công Cách \mạng… thầy thẩm tra lý lịch học sinh trong lớp biết rõ như ban ngày
  Thầy Ngô Mạnh Quát một cán bộ chính trị trong quân đội về làm chủ nhiệm lớp 10 của tôi hắc hơn bọ xít nhưng rất mẫn cán về lại vùng tuyến lửa lửa Lệ Thủy thẩm tra lý lịch học sinh từng địa phương một để xét đi Đại học.
  Khi thầy ra lại trường thì số phận ai nấy đều đã định đoạt. Hình như thầy nói hết cho chúng nó biết nên đứa nào đứa nấy vui như tết. Cả lớp 10 A cấp 3 Lệ Thủy – Tuyên Hóa đều được địa phương và nhà trường cho đi Đại học trong nước và nước ngoài. Chỉ riêng một mình tôi duy nhất phải về địa phương lao động cải tạo, không được đi học trường học nào dù là trường sơ cấp...(2)
  Từ một tập thể lớp vui vẻ hòa đồng, tôi bị tách ra, bị cô lập như một con chó ghẻ. Đến nỗi lần đón tết Nguyên đán năm ấy, học sinh đến nhà ông Hiệu trưởng nghe đài giải phóng miền Nam năm Mậu Thân, khi ra về, ai ông cũng bắt tay thắm thiết chúc lên đường học đại học nước ngoài, học đại học trong nước an mạnh. Đến lượt tôi, ông đã không bắt tay, không nói một câu nào mà còn nhìn tôi như nhìn một thằng tử tù trọng tội. Cái nhìn sắc như dao găm của một người từng làm lính bị cụt tay trong đánh giặc!
      - Tao đi Đại học Thương mại về sẽ phần đài (radio – báu vật lúc đó) cho chúng mày!
-          Tao đi Đại học Ngoại giao sẽ cho chúng mày đi thăm Liên Xô!
-          Tao đi học Tuyên huấn về sẽ cho chúng mày làm quan
-          Tao , tao….
Mà các bạn học sinh ấy được đi học thật. Lớp tôi có mấy đứa được đi học nước ngoài, học Liên Xô, Bun ga ri, Cộng hòa Dân chủ Đức, Cu ba…Còn lại đi Đại học trong nước.
   Võ Thị Minh Diệt, Phạm Thị Liên, Nguyễn Như Khai (chồng Liên), Đào Tiu (chồng Diệt) Nguyễn Thị Hoa, Ngô Minh Khôi (nhà nthơ Ngô Mi.nh -  Ngô Minh Khôi gia đinh Hải chủ - Đánh cá giàu – Địa chủ, bố bị bắn chết trong Cải cách ruộng đất nhưng địa phương vẫn chứng nhận cho đi học), Nguyễn Văn Bạo đều được học Đại học Thương nhiệp – tên cũ Đại học Thương Mại). Võ Thị Minh Diệt, Phạm Thị Liên, Nguyễn Thị Hoa (Hoa không học được Đại học, phải chuyển về học Trung cấp Thương nghiệp) - học khoa Ăn uống cùng với Nguyễn Thị Doan (Bà Doan, Phó Chủ tịch nước hiện tại); Ngô Minh Khôi, Nguyễn Văn Bạo, Nguyễn Như Khai học khoa Thương phẩm với Nguyễn Bách Khoa (sau này là Hiệu trưởng trường Đại học Thương Mại). Tiền nhiệm là Nguyễn Thị Doan, kế nhiệm là Phạm Vũ Luận – Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo bây giờ
 Xã Ngư Hóa nơi trường sơ tán là một xã vùng núi quanh năm chỉ có mây mù và sương muối. Một nơi cô tịch buồn tẻ không một ai qua lại nếu không có học sinh sơ tán. Khi học sinh mới đến học không có tiêng máy bay, nhưng học được vài tháng thì  máy bay Mỹ đến bắn phá.  Cảnh tượng nhà cháy, người chết không khác gì ở quê. Một cô giáo cấp 2 bị  bom vết thương sọ não phải nằm một chỗ suốt đời.
  Cái nhà lán lớp tôi, nửa nhà nửa hầm do chúng tôi tự làm lấy ngày một vắng hoe. Từ tháng 7 là đã có giấy báo đi học gửi về. Số học sinh học nước ngoài ra đi trước. Học sinh học trong nước đi sau.  Cách một vài ngày là có vài giấy báo đi học gửi về. Cứ có giấy báo là một vài đứa lên đường. Những học sinh có giấy báo đi học làm cho lán vắng dần. Nhìn bạn bè khoác ba lô lên đường, tôi có cảm giác như mình mất đi môt phần máu trong người, lòng tôi đau như cắt.  Không phải mình ghét ghen bạn bè mà xót thương cho số phận hẩm hiu của mình quá!
   Tôi có cảm giác như mình bị tùng xẻo (cắt từng miếng thịt) tinh thần, cái chết đến từ từ như người bị ngập trong đầm lầy. Một cảm giác vô cùng ghê rợn. Tôi thấy trời đất quay cuồng, khi cầm tờ giấy cắt hộ khẩu trả mình về bản quán, còn bạn bè được cắt chuyển hộ khẩu đi học nước ngoài. Tôi viết bài thơ:

MẢNH GIẤY ĐỊNH MỆNH

Cũng là mảnh giấy này đây
Mà đời lắm nỗi đắng cay thế mà.
Một bên đời giữa ngàn hoa
Một đêm tăm tối chỉ là đêm đen!
Cầm tờ giấy buốt con tim
Bạn nhìn tôi cũng lặng nhìn xót xa
Nói gì số phận đời ta
Cũng chung đau khổ, cũng là số đen
Đời sau mong có làm nên
Đời này đến thế là điên cả đời.
Máu dồn đau buốt tim tôi
Cả lòng tim bạn, tim người khổ đau!

Ngư Hóa hè 1968

  Nhóm đi học cuối cùng là nhóm có lý lích bất hảo như gia đình địa chủ, gia đình địa chủ  bị bắn trong Cải cách ruộng đất, gia đình ngụy quân, ngụy quyền, gia đình dính líu đến chính quyền cũ, gia đình chỉ điểm, gia đình có bố mẹ làm trùm, cai, hương vệ ngày trước, gia đình có người đi Nam (miền Nam), số này đi học sư phạm cấp tốc hai tháng để ra dạy cấp hai, thường gọi là lớp sư phạm Mười Rô Hai. Lớp này có Trần Văn Hải (nhà thơ Hải Kỳ). Hải có bố đi linh thợ Pháp, hiện đang ở miền Nam. Tôi không biết gia đình mình nằm vào loại nào mà không được đi học phải về lao động cải tạo ở bản quán!
  Còn một mình tôi trong lán. Tôi như Robinson trên hoang đảo, buồn đau vô cùng vô tận, và tôi viết tiếp bài thơ:

LẺ LOI

Chim vui tung cánh hết rồi
Còn con chim nhỏ giữa trời lẻ loi
Xa xa từng lớp mấy trôi
Bụi buồn theo gió mưa rơi dặm dài
Buồn đau đớn đó lòng ai?
Buồn ngày hôm ấy, ngày mai vẫn buồn.
Chim ơi, mơ những tầng không
Nhưng đời sống đứng trong lồng nơi đây.
Lòng vui khao khát trời mây
Cánh tung như cánh chim bầy đã đi.
Nhưng mà mơ ước những gì
Buồn trong cô quanh, nói chi nỗi đời
Chim vui tung cánh hết rồi
Còn con chim nhỏ giữa trời lẻ loi!

Ngư Hóa hè 1968

  Tôi được mời ra khỏi lán để nhường chỗ cho học sinh lớp 9 lên học lớp mười niên khóa 1968 – 1969. Tôi phải ra chòi dân ngủ lại một đêm để về quê. Đêm bất hạnh nhất, vết chém đầu đời ấy lại là một đêm trăng vô cũng đẹp. Lòng tôi đau đớn tột đỉnh cồn lên đập ầm ào như con sóng Thác Nậy. Và cũng lần đầu tiên trong đời tôi thức trắng đêm. Tôi viết bài thơ:

NGÀY VỀ

Ngày về chắc sẽ là quên hết
Toán lý đời ta những ước mong
Mười năm đèn sách nay trơ trụi
Cô quạnh quanh mình con số không!

Sách vở gói quanh tờ giấy cũ
Còn mơ chi, ước mộng chi hoài
Tất cả đã trôi về dĩ vãng
Buồn đau thất vọng đến ngày mai!

Ta nghĩ đời ta chỉ thế thôi
Không nói làm chi cũng biết rồi
Ngày mai đừng nghĩ ngày mai nữa
Một bóng mây đen choán ngang trời!

Ngư Hóa hè 1968

 Tờ mờ sáng, một mình tôi một bóng, lẻ loi giữa điệp trùng núi non rợn người, khoác ba lô nhằm núi Mồng Gà về xuôi!

Hà Nội 22-6-2015
Đ - H
 

Nguyễn Văn Bạo - Bầm dập phận đời

Nguyễn Văn Bạo - Bầm dập một kiếp người

Thứ ba - 30/06/2015 02:54
Đỗ Hoàng

NGUYỄN VĂN BẠO – BẦM DẬP MỘT KIẾP NGƯỜI

 

    Kỹ sư Thương Mai Nguyễn Văn Bạo
 

 Nước ta có hai trường Đại học danh tiếng là trường Đại học Tổng hợp Văn (nay là Đại học khoa học Xã hội – Nhân văn) và trường Đại học Thương nghiệp (nay là trường Đại học Thương Mai), nơi ấy có nhiều người trở thành nhà văn, nhà thơ tên tuổi, chính khách hàng đầu, nhà kinh tế tài năng, nhà quản lý năng động…nhưng cũng có người tuy tốt nghiệp đại học ở các trường ấy rồi nhưng cuộc đời cũng bầm dập chìm nổi không khác gì thảo dân!
  Tôi có dịp viết bài giới thiệu khóa học Đại học Tổng hợp Văn năm 1964-1967 trên báo Giáo & Thời đại nên biết khóa này có người làm nên phụ quốc (cha nước) như Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, có người là nông dân chân lấm tay bùn như Trần Văn Kiểm. Còn khóa học Đại học Thương nghiệp năm 1968-1972  tôi biết đến là vì nhiều bạn cùng quê, cùng học phổ thông với tôi vào học trường này như Ngô Minh Khôi (nhà thơ Ngô Minh), Võ Thị Minh Diệt, Phạm Thị Liên, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Như Khai, Nguyễn Văn Bạo…
  Theo tôi, trường Đại học Thương Mại nổi tiếng vinh dự với bà Nguyễn Thị Doan, Phó Chủ tịch nước, Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo đã đành, nhưng nổi tiếng nhất là một trường kinh tế chính thống mà lại có một nhà thơ tài danh là Ngô Minh (Ngô Minh Khôi). Thật là một vinh dự “đặc cách” cho trường!
  Trường Đại học Thương Mai có người làm nên Mẫu quốc (mẹ nước) như Nguyễn Thị Doan, Phó Chủ tịch nước, thì có người như Nguyễn Văn Bạo làm dân thường cùng đinh, cơ cực, một cựu sinh viên tốt nghiệp đại học – bộ đội chống Mỹ, sỹ quan điều khiển tên lửa có một phận đời bầm dập vô cùng bi thương còn hơn Trần Văn Kiểm bên trường Đại học Tổng Văn, đó là Nguyễn Văn Bạo!
      Bạo học dở năm thứ ba thì nhập ngũ. Anh vào bộ đội tên lửa đi chiến trường A, B (miền Bắc, miền Nam), sau đó về học lại ở hai ba khóa sau. Tốt nghiệp Đại học Thương Mại, anh về Bình Trị Thiên công tác một thời gian thì vướng vào một thương vụ, mắc tội lao lý bốn năm năm mới thoát vòng. Cuộc đời anh từ đó trôi nổi phận bèo bầm dập của một kẻ cùng đinh.
   Tôi và Bạo cùng huyên Lệ Thủy. Bạo ở xã Ngư Thủy (xã cũ). Xã Bạo còn có Ngô Minh Khôi (nhà thơ Ngô Minh), Ngô Văn Vựng cùng học chung một lớp từ lớp 9 đến tốt nghiệp lớp 10 niên khóa 1967-1968
 Bạo, Khôi, Vựng đều quê biển nên họ mang tính cách phóng khoáng, thẳng thắn cương trực ăn sóng nói gió. Tính cách hình thành từ tuổi thơ cho đến trọn đời. Về học lực, Khôi trội hơn, Khôi giỏi cả văn lẫn cả toán, Bạo, Vựng khiêm nhường hơn. Bù lại, Bạo rất nhiều tài vặt, cắt tóc, đóng sổ sách, làm bếp làm tượng…
  Bạo, Khôi đều vào Đại học Thương nghiệp, học cùng khoa, ở cùng phòng. Bạo học năm thứ ba thì nhập ngũ. Khôi năm thứ tư mới nhập ngũ. Bạo vào đơn vị bộ đội tên lửa. Đầu thập kỷ 70 đơn vị tôi và đơn vị Bạo đều ra chiến trường, hai anh em gặp nhau ở tuyến dường 20, biên giới Việt – Lào. Vui lắm, mừng lắm. Đơn vị tôi pháo vác (cối 60) nhìn đơn vị tên lửa của Bạo nể lắm, thấy sang lắm. Bạo đi đứng mạnh mẽ, tác phong con nhà lính.
  Khi chiến tranh kết thúc, sau giải phóng miền Nam 1975 độ bốn dăm năm, tôi về làm phóng viên báo Dân (cơ quan của tỉnh Đảng bộ Bình Trị Thiên) thì nghe tin Bạo vướng vào một thương vụ phải ra pháp đình và thân buộc vào lao lý.
    Năm 1982 khi mình xử tử Mười Vân, trưởng ty công an Đồng Nai, công an Bình Trị Thiên mời một số nhà báo, văn nghệ sỹ đi thăm các nhà tù giam giữ các đối tượng trong tỉnh nhằm tuyên truyền chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với tù nhân.
  Sau khi thăm trại Bình Điền (Thừa Thiên), Hoàn Cát (Quảng Trị), chúng tôi được mới ra trại Đồng Sơn (Quảng Bình). Trại Đồng Sơn chỉ giam giữ đối tượng tù kinh tế. Ở Trại Đồng Sơn tôi gặp hai nhân vật thật là “đặc biêt”. Một là gặp một học sinh cũ đang chịu án tù, hai là gặp Bạo trong nhóm tù lao động cải tạo đang bơi trên hồ thủy điện Đồng Sơn kéo gỗ về dựng lán ở.
  Người học sinh cũ gặp tôi lễ phép chào thầy. Tôi động viên em cải tạo tốt để sớm ra tù. Anh em nhà báo, văn nghệ sỹ đùa tôi:
-          Thầy thế này thì học sinh đi tù là phải rồi!
    Còn Bạo không còn oai phong chàng sỹ quan tên lửa ngày xưa nữa mà là một người tù đúng nghĩa đen. Cái mặt vuông, cằm bạnh gồ lên, da đỏ nâu bóng trông rõ là một hảo hán phong trần. Tôi chỉ biết nói những điều cảm thông chía sẻ.
  Bạo cười bất cần:
-          Ai cũng mơ ô tô nhà lầu bạn ạ! Hôm nay phát động toàn trại đi rừng, chứ công việc chính của mình là cắt tóc cho trại. Nếu làm như thế này mình chết lâu rồi.

*

  Hai ba năm sau, đang đêm ở khu tập thể Báo Dân số 2 – Phùng Hưng – Huế, khi vợ con tôi đã ngủ yên thì có tiếng gõ cửa. Tôi nhẹ nhàng ra mở cửa. Và không tin được trước mặt là Bạo. Bạo nói: - Tau vừa mới ra tù thăm vợ chồng mi một tí để tau đi!
  Không để tôi nói điều gì, Bạo quay gót biến vào đêm tối. Huế lúc đó mùa đông nên lạnh rét lắm: “ Mưa Huế đã từng làm ướt áo/ Nỗi buồn bao kiếp thi nhân/ Tầng lá trong đêm gào ảo nảo/ Không manh áo mỏng bạn còn đi!...”
  Rất may là độ hơn tháng sau, Bạo quay trở lại và bạn bè cùng học mới có điều kiện chia ngọt sẻ bùi với Bạo.
 Tôi viết bài thơ: BẠN MỚI RA TÙ tặng Bạo

“Bây giờ mày về đây
Thế là mừng cái đã
Tù tội từng đọa đày
Mày vẫn trơ như đá

Da dẻ mày sạm lại
Mắt tóe lửa xiềng gông
Gặp nhau run lời nói,
Nước mắt đỏ hoe tròng.

Nào những thằng 9c
Có còn gì cho nó
Dù là cái mũ mê
Dù là quần áo cũ.

Đừng đắn đo gì nữa
Đời đè lên cổ mày
Giờ đã cất gánh nặng
Thì sống cùng tốp say.

Thằng Khôi vẫn như xưa
Làm thơ và làm việc
Thằng Hải vẫn như xưa
Học học và viết

Thằng Ty thì quên chết
Yêu đến là si mê
Sống mở lòng bè bạn
Nó chẳng cần thiết gì.

Thế là gắng mà sống
Cần quái gì nữa đâu
Rượu chia nhau vài chén
Bạn có đứa bạc đầu!
Huế 1982

*
     Hồi ấy cán bộ công nhân viên chức ở tù về đang còn nặng nề lắm. Xin lại vào Nhà nước là một việc nan giải. Nhưng Bạo may mắn có Khôi đang là cán bộ tổ chức Ty Thương nghiệp Bình Trị Thiên, Khôi lại là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Khôi sống quảng giao, hào hiệp cởi mở, không màng chức quyền ham thơ phú nên ngay trong phòng Tổ chức của Ty Thương nghiệp tỉnh tiếng nói của Khôi cũng có trọng lượng. Sau một thời gian dư luận lắng xuống, Khôi đã bố trí cho Bạo làm cán bộ tổ chức ở phòng Thương nghiệp huyện Hương Phú (cạnh Huế). Thế là đời Bạo lên hương!. Ai cũng nghĩ thế. Vì thời ấy, thương nghiệp là chỗ hái ra vàng, giống như bây giờ Viettel, Dầu khí…
  Độ một vài năm gì đó, Bạo bỏ về quê đánh cá. Khôi bào với bọn tôi, Bạo con đông, làm công chức lương không đủ sống. Bạo thích làm tiền tấn. Thế là Bạo thuộc bài “Ông lão đánh cá và con cá vàng”. Bạo trở về với biển cả của mình. Bạo chạy bơ (thuyền nan nhỏ) câu mực, đánh cá ven bờ nuôi vợ, nuôi con làm một ngư dân thực thụ.
  Giữa năm 1986 đang học năm nhất Đại học Viêt văn Nguyễn Du, tôi bị cơ quan cũ cử người ra trường triệu về kỷ luật cách tuột luột mọi thứ, đuổi về địa phương vì tội làm hồ sơ giả.
  Cùng quẩn, tôi lang thang ra quê Bạo tìm cách vượt biên. Hai đứa đã tính con nước, luồng lạch, thời tiết, thời điểm, lương thực nước nôi quảng đường đi đến đảo Hải Nam… và liều chết tìm đường sống.
 Nhưng rủi cho tôi, tôi ra biển đến làng Bạo thì Bạo đi câu mực ngoài khơi xa. Đành quay về Huế và viết bài thơ RƯỢU BIỂN tặng Bạo.

“Rượu biển ngâm rắn biển
Một mình uống với đêm
Hai năm rồi mới đến
Không gặp bạn hàn huyên.

Bạn đang ngoài con sóng
Tảo tần cánh hải âu
Tôi nhận ra dáng bạn
Đốm lửa cuối trời sâu!

Quê mình vẫn như thế
Mỗi ngày chỉ hột cơm
Ra gặp lúc động bể
Khoai ăn chấm muôi không.

Đêm tôi nằm nghe sóng
Đập hoài như tiếng tim
Thương đời tôi đời bạn
Gãy cánh một đời chim.

Tấm lòng ta vẫn thế
Rượu đầy như biển đây
Bạn đến mặc sức uống
Đêm cùng sóng biển say!

1986

*
 Sau đó cuộc sống ở làng biển cũng vô cùng đói khổ, Bạo phải vào Nam làm cửu vạn kiếm sống. Sau này nghe Bạo kể làm cửu vạn một phần sống chín phần chết. Dân cửu vạn tranh nhau việc làm, vác một bao tải mà có khi đánh nhau lõa máu đầu, có kẻ bị đánh chết. Bạo cũng bị đổ máu nhiều lần vì tranh bốc vác hàng trên bến tàu. Tấm bằng tốt nghiệp Đại học Thương nghiệp quý như vậy mà Bạo để cho nó nhàu nát lổ loang máu. Đến nỗi ngày hội trường, anh Đô Lương bạn học đại học buôn bán ở Ba Lan về nước dự hội trường nói với Bạo: “Tấm băng của mi để như mảnh giấy lau chảo”,  tấm bằng tau, tau cất như cất vàng!
 Bạo ra đi không ai biết, không ai hỏi. Xơ xác, tiêu điều, cô đơn tận cùnag. Nghe tin tôi rất xúc động,cảm thương, viết bài thơ  CHIA LY tặng Bạo:
“Vợ con đành vứt bỏ
Mẹ già đi ăn mày
Một đứa con của biển
Không còn có từ nay.

Mày đi như là hết
Chiều buông nắng rợn người
Có con thuyền nằm chết
Không còn ngày ra khơi.

Ai lê chân trên cát?
Mẹ giá tấm thân gầy
Nước mắt người rơi xuống
Nhiều như nước biển này.

Chia ly không tiếng khóc
Trời xanh biển cứ xanh
Có con còng phơi xác
Bên mép sóng vô tình!

Ngày thường lên mỗi sáng
Đời thường vẫn miết trôi
Có ai người biết đến
Đứa con biển mất rồi!

Huế  1986

*

 Hai năm trước, Bạo ra hội trường nhân kỷ niêm ba bốn mươi năm thành lập trường Đại học Thương Mai. Ngô Minh ốm không đi được, còn Võ Thị Minh Diệt, Phạm Thị Liên, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Như Khai, không hiểu lý do gì mà không về dự hội trường. Bạo có hai nhóm bạn, bạn cùng khoa cùng trường  học năm 1968 như :Ngô Minh, Võ Thị Minh Diệt, Nguyễn Thị Doan, Nguyễn Bách Khoa, Đô Lương, chị Chắt… bạn cùng lớp sau khi đi bộ đội về học lại năm 1975 như anh Tạo, anh Định…Các bạn học của Bạo đều khá giả. Dân thương mại có khác. Anh Tạo ở khu biệt thự Linh Đàm gần nhà tôi, nhà cỡ triệu đô. Anh nói anh mua lại của Nguyễn Thị Doan cùng trường (Bà Doan, Phó Chủ tịch nước). Anh Đô Lương nhà ở đường Bạch Đằng và có nhà bên Ba Lan nữa. Ai cũng có ô tô biệt thự!
  Các bạn cùng học cũ đều thông cảm chia sẻ nỗi mất mát của Bạo. Bạo được anh em quyên góp cho một ít tiền về quê mua thuyền, mua bơ để đánh cá. Cái quan trọng nhất là anh Đô Lương và anh em nói với bạn học Hiệu trưởng Nguyễn Bách Khoa lúc đó chứng nhận cho cái giấy sinh viên của trường đi bộ đội để địa phương xã Hải Thuỷ cho Bạo một miếng đất nhỏ cắm dùi, làm nhà.
     Bạo nhờ tôi đến Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân xin chứng nhận phục vụ ở tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn a,b,c để làm chế độ. Nhưng rất tiếc đơn vị đã chuyển vào Nam và có trả lời là tìm không thấy tên Nguyễn Văn Bạo. Không hiểu sao giấy tờ lưu của bộ đội lại mất?
   - Mình sống đến tuổi gần 70 là quý lắm, đáng chết từ lâu. Mình nuôi một con gà mái, mỗi ngày đẻ cho mình một quả trứng là mình sống được Hoàng ạ! - Bạo chân tình nói với tôi như vậy khi chia tay!
-           Cút rượu nữa chứ - Tôi đùa.
-          Đúng! Đúng, cút rượu nữa! – Bạo cười khả khả.
   Con người có cần gì nhiều đâu. Sao con người lại tranh giành sống, hành hạ nhau, và giết nhau đến như vậy?

Hà Nội 30- 6-2015
Đ - H

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Dấu chân qua trảng có của Thanh Thảo dở, kém toàn diện

Dấu chân qua trảng cỏ của Thanh Thảo dở - kém toàn diện

Thứ hai - 05/01/2015 14:42


                Nhà thơ Thanh Thảo

DẤU CHÂN QUA TRẢNG CỎ CỦA THANH THẢO - DỞ, KÉM TOÀN DIỆN


 

     Đỗ Hoàng



Nguyên bản:

Buổi chiều qua trảng cỏ voi
Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh
Gió nghiêng ngả giữa màu xanh
Tiếng bầy chim két bỗng thành mênh mang

Lối mòn như sợi chỉ giăng
Còn in đậm đặc vô vàn dấu chân
Dấu chân ai đọc nên vần
Nên nào ai biết đi gần đi xa

Cuộc đời trải mút mắt ta
Lói mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường
Những người sốt rét đang cơn
Dấu chân bấm xuống đường trơn, có nhòe?

Chiếc bòng con đựng những gì
Mà đi cuối đất mà đi cùng trời
Mang bao khát vọng con người
Dấu chân nho nhỏ không lời không tên

Thời gian như cỏ vượt lên
Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua
Ai đi gần ai đi xa
Những gì gửi lại chỉ là dấu chân

Vùi trong trảng cỏ thời gian
Vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta
Vẫn đằm hơi ấm thiết tha
Cho người sau biết đường ra chiến trường                    

    Nhà thơ Thanh Thảo tham gia cuộc chiến cuộc kháng chiến chống Mỹ  với tư cách dân sự. Ông xếp sau Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm… Ông được cưng nựng và lăng xê khá đều đặn tên văn đàn chính thống. Để có cái nhìn khách quan công bằng vannghecuocsong.com xin in  bài  viết của nhà thơ, nhà phê binh hậu hiện đại Đỗ Hoàng về bài thơ DẤU CHÂN QUA TRẢNG CỎ  của nhà thơ Thanh Thảo.

    Để khỏi mất thì giờ của độc giả, tôi đi thẳng vào phân tích nhận xét luôn bài này. Đây là một bài thơ dở, yếu kém toàn diện từ nội dung cho đến nghệ thuật ngôn từ.
 Tuy viết cổ động tuyên truyền, nhưng Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân còn khắc họa phần nào người chiến sỹ Giải phóng quân:
Không cần nghỉ lái trăm cây số nữa
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
(Tiếu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)
Máu tin anh phun theo lửa đạn cầu vồng
(Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân).
   Nhà thơ Thanh Thảo không được như vậy. Hai bài được lăng xê nhiều nhấtDấu chân qua trảng cỏ và Bài ca ống cống là hai bài thơ làm nhem nhuốc hình ảnh người lính chiến thắng của phe được cuộc!
 Viết về thảo nguyên có bào nhiêu câu thơ hay thơ đẹp truyền lại từ ngàn năm nay:
Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa
(Thơ cổ Trung Quốc)
Cỏ no xanh rợn chân trời 
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
(Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du)
Thanh Thảo có nhiều câu dở dưới mức trung bình:
Buổi chiều qua trảng cỏ voi
Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh

 Anh dân sự, bưu tá giao liên trong thơ Thanh Thảo giữa chiến trường sao cô quanh, trơ trọi “tôi thích thất thểu” như một gã cái bang thua bạc thời nay trong các chiếu bạc ở Campuchia vậy!
Chiếc bòng con đựng những gì
 Mà đi cuối đất mà đi cùng trời
 Chiếc bòng đựng nhiều nhất chỉ bộ áo quần bà ba là cùng hoặc nữa là hai bơ gạo(!)


 Cuộc kháng chiến chống Mỹ, bên ta phải đối đầu với với đế quốc hùng mạnh, giàu nhất thế giới mà chi một anh Vệ túm như vậy làm sao mà đánh đấm, mà chiến thắng !)
  Hình ảnh người lính ra trận từ cổ chí kim, phương Đông hay phương Tây đều là những hình ảnh đẹp, kiêu hùng sang trọng, có thực trong cuộc đời. Có thế mới làm nên chiến thắng:
“Trượng phu thiên lý chí mã cách
Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao
Tiện từ khuê khốn tùng chinh chiến
Tây phong minh tiêu xuất Vị kiều”
(Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn)


Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giã từ đeo bức chiến bào
Thét roi Cầu Vị ào ào gió thu
(Đoàn Thị Điểm dịch)

Trai anh hùng nấm mồ da ngựa
Coi chết chóc nhẹ tựa tơ hồng
Theo quân xa biệt khuê phòng
Vung roi Cầu Vị, bềnh bồng gió Tây
(Đỗ Hoàng dịch)

Thân dũng sỹ không thua sức vóc
Sóng đục lờ sóng đục ngày đêm
Kìa quân giặc đến bờ bên
Mài con dao sắc ở trên đá này
Như cha con dạn dày chiến trận
Suốt một đời lận đận binh đao

À ơi, con ngủ cho lâu
Mai sau khôn lớn mẹ cho diệt thù!
(Bài ca Cô dắc – Bằng Việt dịch)

Còn cái anh giao liên cái bang của Thanh Thảo:
Những người sốt rét đang cơn
Dấu chân bấm xuống đường trơn có nhòe?
Đi không nổi nữa thì đòi làm được cái gì (!)

Các hình ảnh được Thanh Thảo chọn làm đặc trưng trong bài thơ là những hình ảnh hạ cấp không tiêu biểu. Anh chiến sỹ giao liên thuộc dạng cái bang (ăn mày), con chim két thuộc loài mồng két trên đồng trảng là loại hạ điểu kêu choe chóe chứ chẳng linh điểu cất lên tiếng vang chin tầng mây. Loại cỏ voi là loại cỏ ngoại lai nhập đầu thời Mỹ vào miền Nam, cũng là loại hạ thảo, bần tiện không phải linh thảo.
  Tất cả đều ở trên cái đồng không mông quạnh lạnh lẽo trơ trọi, rách nát, hèn kém!

Bài thơ lục bát chỉ 24 câu mà Thanh Thảo dùng nhiều vần thông khiên cưỡng và đầy lỗi vận, lỗi vần (10 lỗi):

Những gì gửi lại chỉ là dấu chân
Vùi trong trảng cỏ thời gian
Vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta
                                  
Hay:
Tiếng bầy chim két bỗng thành mênh mang
Lối mòn như sợi chỉ giăng
Còn in đậm đặc vô vàn dấu chân

Hay:
Lối mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường
Những người sốt rét đang cơn

Hay:
Dấu chân bấm xuống đường trơn, có nhòe?
Chiếc bòng con đựng những 
Mà đi cuối đất mà đi cùng trời

Kết bài thơ là tai hại nhất là hỏng toàn bộ bài thơ:

Vẫn đằm hơi ấm thiết tha
Cho người sau  biết đường ra chiến trường.


Sao nhà thơ Thanh Thảo lại xui dại con cháu vào chỗ chết như vậy? Thời chiến tranh chống Mỹ có bom nổ chậm đều có bảng cảnh báo – warning để cho người đi sau nhằm tránh hướng khác chứ không lao vào chỗ chết. Ngay em bé trong phim Chim vành khuyên biết mình hô to mình sẽ bị giặc giết nhưng em vẫn kêu lên cho mọi người tránh giặc: “Đò giặc đừng qua! Đò giặc đừng qua!”. Sao nhà thơ xui như xui trẻ con ăn cứt ca (gà) như vậy nhỉ?


Cho người sau biết đường ra chiến trường

Đáng ra phải viết:
Cho người sau biết tránh xa chiến trường chứ?

Bởi vì dù chính nghĩa hay phi nghĩa vào chiến trường đánh nhau là vào chỗ chết. Ngày cả ra đi cũng đã vào chốn bụi bờ, là chết một ít:
C’ est toujours le deuil d’un voeu
Le dernier vers d’un poème
Partir, c’est mourir un peu

Để tang mãi những câu cầu khẩn
Lời cuối cùng vẫn ánh tình thơ
Đi là chết chốn bụi bờ

(Rondel de L’adieu – Edmond  Harau court 1858 -1942 - France)
(Đỗ Hoàng dịch)

 Nếu biết học tiền nhân một chút thì có thể viết khổ kết bài thơ trên có sức khái quát hơn, nâng tầm thơ lên hơn:
“Tri nhữ viễn lai ưng hữu ý
Hảo thu ngô cốt Chướng giang biên

(Tả thiên chí Lam Quan thị diệt tôn Trương – Hàn Dũ)

Biết cháu từ xa vào có ý
Nhặt nắm xương  ta bến Chướng này!
(Bị giáng chức bị đổi đi xa đến ải Lam viết cho cháu là Trương – Hàn Dũ – Đỗ Hoàng dịch thơ (*)

Kết -  DẤU CHÂN QUA TRẢNG CỎ:
Vẫn còn nhắc tận sau xa
Nhớ vào gom nhặt thịt da, xương tàn
Đưa về đặt những nghĩa trang
Nhớ thời nước Việt cơ hàn giết nhau!

(*) Tham khảo:

Hàn Dũ

TẢ THIÊN CHÍ LAM QUAN THỊ DIỆT TÔN TRƯƠNG

Nhất phong triêu tấu cửu trùng thiên
Tịch biếm Triều Châu lộ bát thiên
Bản vị thánh triều trừ tệ chính
Khẳng trương suy hủ tích tàn iên
Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại
Tuyết ủng Lam Sơn mã bất tiền
Tri nhữ viễn lai ưng hữu ý
Hảo thu ngô cốt Chướng giang biên.

BỊ GIÁNG CHỨC ĐÀY ĐI XA ĐẾN ẢI LAM VIẾT CHO CHÁU LÀ TRƯƠNG


Sớm gửi Cứu trùng lời thẳng ngay
Chiều Triều nghìn dặm lệnh đi đày
Thành tâm lo nước giúp vua sáng
Tận dạ vì dân sá thân gầy
Mây che Tần Lĩnh quê mờ mịt
Tuyết phủ Lam Quan ngựa khói bay
Biết cháu từ xa vào có ý
Nhặt nắm xương ta bến Chướng này!

(Đỗ Hoàng dịch thơ)


Hà Nội, ngày 4- 1 – 2015

Đ – H

Sửa chữa nâng cao Dấu chân qua trảng cỏ

Đặt tựa đề:

QUA TRẢNG CỎ

Buổi chiều qua trảng cỏ voi
Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh
Gió nghiêng ngả giữa màu xanh
Tiếng bầy chim két bỗng thành mênh mang

Lối mòn sợi chỉ dọc ngang
Còn in đậm đặc vô vàn dấu chân
Dấu chân ai đọc nên vần
Nên nào ai biết đi gần đi xa

Cuộc đời trải mút mắt ta
Lối mòn cảnh báo đường ra chiến trường
Những người sốt rét đang cơn
Dấu chân bấm xuống đường trơn đã lì!

Chiếc bòng – trái đất đương thì
Mà đi bùng biển mà đi cùng trời
Mang bao khát vọng con người
Dấu chân cho đất, cho đời có tên

Thời gian như cỏ vượt lên
Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua
Ai đi gần ai đi xa
Những gì gửi lại chỉ là dấu chân

Vùi trong trảng cỏ thời gian
Vẫn âm thầm trải ngút ngàn mắt ta
Vẫn còn gửi tới sau xa
Cho người sau biết tránh xa chiến trường!

Đoạn kết có thể viết như thế này:

Vẫn còn nhắc nhở sau xa
Xin vào nhặt chút thịt da xương tàn
Đem về táng ở nghĩa trang
Nhớ thời nước Việt cơ hàn giết nhau!

                          Hà Nội, ngày 4 -1- 2015

                                      Đ - H           
           

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

Hội thảo thơ chống Mỹ hai phía vào 30 - 4 -2015

HỘI THẢO THƠ CHỐNG MỸ 40 NĂM (30- 4 -1975 – 30 – 4 - 2015) (ước mơ)
 
Hội Nhà văn Việt Nam vừa ra tuyển tập thơ văn chống Mỹ. Phần thơ bên kia chiến tuyến có một Lê Văn Ngăn nguyên trung sỹ quân tiếp vụ Sài Gòn (sau này theo ta – Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam- hội viên Hội Nhà văn Việt Nam). Theo ý kiến của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo sẽ có cuộc hội thảo thơ chống Mỹ cả hai phía để nhìn nhận cuộc chiến khách quan hơn, vannghecuocsong.com xin trich tác phẩm của nhà thơ hai phái để bạn đọc tham khảo.



Phạm Tiến Duật
(Quân đôin nhân dân Việt Nam)

VÒNG TRẮNG


VÒNG TRĂNG

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong yên lặng
Cái yên lặng bình thường đêm sau chiến tranh

Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang, vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.

                                            8 – 1974
                                   (in lần đầu trên tạp chí Thanh niên)
 

Đỗ Hoàng                                                                               
(Quân đôi nhân dân Việt Nsm)

CHẾT OAN

Lính ở bên kia mấy tiểu đoàn?
Vô nhiều đứng chật cả đường quan
Ngày mai không biết nơi nào đánh?
Nhất định có người phải chết oan!

Mặt trận Quảng Trị năm 1972
(in trong tập thơ Tâm sự người lính – Nhà xuất bản Văn học, bị cấm chui)

              
    
Nguyễn Bắc Sơn
(Quân đội Việt Nam Cộng hòa)

GHÉ SÔNG MAO

Nếu mai đụng độ ta còn sống
Về ghé song Mao phá phách chơi
Chia bớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một giờ vui!



Hà Thúc Sinh
(Quân đôi Việt Nam Cộng hòa)

NGHINH ĐỊCH HÀNH (trich)

Giao thừa đâu mà vội
Hày khoan đã chú mày
Cứ đóng xa vài dặm
Mà ăn uống no say

Ta cũng người như chú
Cũng nhỏ bé trong đời
Có núi sông trong bụng
Mà bất lực hôm nay

Chú cứ ăn cho đủ
Mai chết sẽ chết no
Ta cũng cần đêm cuối
Từ giã gió trăng xưa!

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

Nhà văn khu vực Hà Nội gặp nhà thơ Trương Nam Hương

Anh nhà văn khu vực Hà Nộư gặp nhà thơ Trương Nam Hương

Thứ ba - 30/12/2014 08:07

                                               

  Nhà thơ Trương Nam Hương     (ảnh trên)                                          Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

ANH EM KHU VỰC HÀ NỘI GẶP GỠ CUỐI NĂM VỚI NHÀ THƠ TRƯƠNG NAM HƯƠNG & NGUYỄN TRỌNG TẠO…

Đỗ Hoàng

 
  Trương Nam Hương và Nguyễn Khắc Thạch vừa họp xong hội đồng thơ, Nguyễn Trọng Tạo cũng vừa tọa đàm xong thơ chống Mỹ, các nhà thơ gọi bạn bè đến quán bia đầu đường Nguyền Đình Chiểu đàm đạo
 Nhiều nhà thơ ở khu vực Hà Nội có mặt như: Trần Quang Đạo, Phạm Đông Hưng, Nguyễn Thành Phong, Nguyễn Quang Thiều,Trần Hậu, Phạm Khải, Đỗ Hoàng…
      Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo kể: “Tôi vừa có ý kiến phát biểu khá ấn tượng là hai miền Nam Bắc đã thống nhất gần 40 năm, chúng ta nên mới các nhà văn phía bên kai cùng tọa đàm để nhìn lại cuộc chiến vừa qua. Bởi vì phía bên kia chiến tuyến cũng có nhiều nhà thơ viết hay”
  Tôi đùa đế theo: “Nếu mời phía bên kia chiến tuyến tọa đàm thơ cuộc chiến với Mỹ vừa qua thì cũng phải mời Đỗ Hoàng nữa chứ!. Tôi có tập thơ Tâm sự người lính kia mà”
Anh Tạo cười: “Mời chứ. Đỗ Hoàng là bộ đội mình nhưng viết thơ hay theo kiểu ngụy thì cũng nên mời!”.Câu chuyện bắt đầu vào hồi rôm rả.
  Tôi tiếp; “Các nhà thơ bên kia chiến tuyến v iết hay vì họ nhìn ra bi kịch chiến tranh của loài người và của dân tộc mình. Phía bên kia chiến tuyến có một khoảng tời tự do cho sáng tác nên tác phẩm của họ được phổ biến. Còn bên ta nhiều tác giả và tác phẩm bị lãng quên! Vừa rôi nghe Hoàng Nhuận Cầm đọc lại những bài thơ cổ động tồn ào trên ti vi, thấy Cầm vẫn u mê như thời sinh viên vào bộ đội- một thời làm thơ véo von, con nít. Lúc ấy tuổi đôi mươi còn ngây ngô  “Mùa thu này ta hát khắp Trường Sơn” (Hoàng Nhuận Cầm) “Tường Sơn ta hát/ Có chú nai vàng giương đôi tai ngơ ngác” (Gia Dũng). Bây giờ hơn 40 năm nhìn lại cuộc chiến huyhn đệ tương tàn mà còn đọc một cách vô hồn như vậy thì không thể hiểu nổi


           Nhà thơ Hoàng Nhuận Càm

Nguyễn Linh Khếu: “Thời ấy mà Đỗ Hoàng viết Tâm sự người linh có những suy nghĩ, có một nhãn quan triết học như thế là đi trước thời đại” (Nguyễn Linh Khiếu nói điều này nhiều lần rồi!)
  Trần Quang Đạo nói; “Thơ phản chiến của Đỗ Hoàng như nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, có khi mạnh mẽ hơn! (Trần Quang Đạo đã viết trong Đỗ Hoàng - người bay dịch lại Kim Vân Kiều truyện in báo Tiền Phong năm 2010)
   Nguyễn Thanh Phong: “Tôi mà công an, tôi đã bắt Đỗ Hoàng từ lâu (Phong cũng nói điều này nhiều lần, nói đùa thôi!)
  Phạm Khải cũng nói đùa:
  Tâm sự người lính của Đỗ Hoàng đến Mỹ nó cũng bỏ tù chứ gì mình! Khải đọc thơ như đọc gần 30 năm trước lúc nó vừa được in ra:
“ Ta nghĩ nếu ta giành chính quyền
Thì ta cũng phải có ưu tiên
Cũng ra đạo luật phòng ai phản
Cũng sống nhà hơn vạn kiếp phiền.

Rồi bao tòa án với nhà lao
Ai chống thì ta nhét chặt vào
Đến mọt gông cùm ta mới thả,
Vạn năm ai phản được ta đâu!”
(Mộng không thành – Tâm sự người lính)
  Sau một lúc, Văn Công Hùng ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn ra uống với anh em.
  Sau đó chuyển sang chủ đề Bọ Lập vừa bị bắt. Nói chung anh em đều thống nhất là không nên giam Nguyễn Quang Lập, nên có một giải pháp nào đó hay hơn!
  Tôi đọc bài KÊU CHO BỌ LẬP in trên blogs của tôi cho anh em nghe:
Nhe tin Bọ Lập bị còng tay.
Bắt đến nhà văn thật xót thay!
Đối mắt bạo quyền chơi mặt thớt
Giơ đầu ác bá chọi dao phay
Tự do cho nước bao thây đổ,
Dân chủ dâng trời lắm trôốc bay
Xin rán vài năm mùi ngục tối
Danh truyền hơn vạn cái mề đay!
  Anh em khen 4 câu đầu.
 Cuộc vui đấn chiều. Tôi về trong lảo đảo cơn say!


                                                 Hà Nội, ngày 24-12-2014
                                                                 Đ - H

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

Thơ Nguyễn Việt Anh - Trần Mạnh Hảo giới thiệu

“THỨC CÙNG BÓNG TỐI” TẬP THƠ HAY NHẤT NĂM 2014:
MẶT TRỜI KHIẾM THỊ VÀO THƠ

      Trần Mạnh Hảo 
.
Sau khi chúng tôi (TMH) đưa lên FB một số bài thơ, câu thơ hay của nhà thơ khiếm thị Nguyễn Việt Anh trích trong tập thơ lục bát “Thức cùng bóng tối” (NXB Hội nhà văn 10-2014) chưa đầy một ngày đã có mấy chục “còm” hưởng ứng khen thơ hay. Trong số “còm” này, có lời của nhà thơ Trần Đăng Khoa (tên FB là “Đảo chìm” viết như sau: “Nhiều câu quả là hay thật, và hay nhất là không ngửi thấy mùi Trần Mạnh Hảo. Sợ bố Hảo lại vẽ ra một nhà thơ, như lão đã từng vẽ ở... thế kỷ trước. Bác đưa hết thơ cô bé này lên fb đi. Tuyệt!”
Thưa với nhà thơ Trần Đăng Khoa, tác giả tập thơ lục bát “Thức cùng bóng tối” Nguyễn Việt Anh không phải là một cô bé, mà là một người đàn ông đã 32 tuổi, hiện sống tại Hà Nội. Năm 15 tuổi, cậu thiếu niên Nguyễn Việt Anh mắt đang sáng rỡ như mọi người đã bị ngã đứt dây thần kinh thị giác, hỏng hai con mắt, bị mù. Nghĩa là suốt 17 năm nay Nguyễn Việt Anh sống toàn phần trong bóng tối.
Mất đôi mắt, mặt trời đối với Nguyễn Việt Anh cũng chỉ là mặt trời khiếm thị. Anh đã tập nhìn bằng trái tim mình: nhìn bằng tai, nhìn bằng tay, nhìn bằng xúc giác, vị giác, nhìn bằng hơi thở, nhìn bằng cả bàn chân và nhìn bằng chiếc gậy dắt anh đi…
Hóa ra trong tâm hồn và thân xác nhà thơ trẻ này đã xuất hiện tinh thần nghìn tay nghìn mắt của Phật. Anh đã nhìn thấy những gì mà người có đôi mắt sáng chưa nhìn thấy. Có lẽ trong nền thi ca Việt Nam và thi ca thế giới chưa ai viết về giọt mưa hay như Nguyễn Việt Anh trong bài thơ 2 câu sau:
“Giọt mưa làm ướt nỗi buồn
Hay buồn làm ướt tâm hồn giọt mưa?”
Nhà thơ chắc đã mang “tâm hồn giọt mưa” trong nỗi buồn ướt nước mắt của mình, hay giọt mưa từng là hóa thân của anh, một giọt mưa cô đơn, một giọt mưa buồn, một giọt mưa khiếm thị? Chỉ đọc câu lục bát thần kỳ này của Nguyễn Việt Anh đã khiến tôi ngơ ngẩn suốt cả chiều. Tôi đang có cảm giác phiêu bồng như thuở xa xưa được đọc bài thơ lục bát tuyệt vời của nhà sư Huyền Quang dịch bài thơ chữ Hán “Hữu không” của Đạo Hạnh thiền sư thời Lý:
Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
Kìa xem bóng nguyệt lòng sông
Ai hay không có, có không là gì?
Hữu không
Tạc hữu trần sa hữu,
Vi không nhất thiết không.
Hữu, không như thuỷ nguyệt,
Vật trước hữu không không.
Thế giới trong lòng ta hay thế giới ngoài ta cái nào thật hơn?
Tính “sắc không” nhà Phật ám ảnh hồn thơ Nguyễn Việt Anh khi chừng như anh đã vượt qua bể khổ đắng cay như hai câu viết về bóng với hình trong loạt thơ 2 câu:
“Nâng ly bóng chạm với hình
Tưởng ta cay đắng một mình mà đôi”
Thân không còn đôi mắt, nhà thơ dùng tâm nhãn nhìn ra thế giới. Anh cụng ly với bóng mình. Tưởng chỉ mình cay đắng, hóa ra bóng cũng đắng cay! Không nhìn thấy ánh sáng, không thấy mặt trời nhưng nhà thơ khiếm thị vẫn nhìn thấy bóng mình đang sẻ chia cay đắng cùng anh. Hình như hai nỗi cô đơn cộng lại làm con người bớt cô đơn chăng? Nhưng hai nỗi đắng cay cộng lại có thành ngọt ngào?
Nhà thơ khiếm thị hình như có thiên nhãn bên trong; anh có khả năng thấy cái thật xa hơn cái thật gần; anh ngẫm nghĩ về cái lẽ đuổi theo thì mất mà buông ra thì còn, cái thân xác vuột mất nhưng cái hồn thì ở lại, tưởng thực mà hư, tưởng hư mà thực:
Xin độc giả đọc bài "Em" trang 26:
Em là thực hay là mơ
Xa thì rõ gần lại mờ... mờ sương
Sao em như thể làn hương
Đuổi tìm thì mất nhãng buông thì còn?
Nguyễn Việt Anh viết về cái nhớ thương đến tận cùng: yêu đến dửng dưng, thương đến lạnh lùng cằn khô, nhớ đến cạn kiệt thờ ơ, mong nhớ quá tới mức hững hờ... Bài "Không đề 4" trang 33 là bài lục bát tài tình của một người yêu đến cạn lòng cạn ý. Những câu thơ viết nhẹ như không mà day dứt lòng người, mà làm lòng ta chẳng đặng đừng thương cảm:
Yêu em yêu đến dửng dưng
Thương em thương đến lạnh lùng cằn khô
Nhớ em nhớ đến thờ ơ
Mong em mong đến hững hờ cả em
Anh có câu thơ viết về cái hôn rất hay, mãnh liệt chưa từng có trích trong bài "Ngọn lửa":
Trong ta ngọn lửa chập chờn
Muốn hôn lại sợ nụ hôn cháy bùng
Chao ôi hôn em anh sợ lắm: sợ lám cháy bùng em bởi anh đang là lửa hôn rơm mà!
Nguyễn Việt Anh mượn chuyện em nhổ tóc sâu cho anh mà nghĩ ngợi đến muôn vàn mai hậu, nghĩ đến nấm mồ anh sau này ai nhổ cỏ, khiến người đọc rùng mình bi thương trong bài "Tóc và cỏ" trang 48:
Giờ em nhổ tóc dùm anh
Ai người nhổ cỏ giúp mình ngày sau
Yêu đi cho tóc bền màu
Lo gì cỏ mọc trên đầu một mai
Câu thứ bốn của bài thơ này làm bài thơ sâu lắng, ngậm ngùi, nâng chuyện em nhổ tóc sâu cho anh lên một tầm triết học mới: cỏ thiên thu là tóc xanh của con người mãi mãi… Em cũng đâu còn để nhổ tóc cho anh!
Nguyễn Việt Anh có nhiều tứ thơ lạ, bất ngờ. Thơ anh ngẫm chuyện đời buồn vui, thảng thốt. Chỉ có chuyện ta vui đùa ném sỏi xuống hồ mà anh cũng viết thành thơ, viết thành một nỗi niềm sâu kín: có khi cái vui vô tình của ta là cái đau buồn của kẻ khác, cái nghịch ngợm của ta có khi làm thương tổn cá tôm trong bài "Thú vui" trang 52:
Nhặt những hòn sỏi ven bờ
Ném vào vô định mặt hồ du dương
Thú vui tưởng rất bình thường
Ai ngờ chú cá bị thương một ngày
Nhà thơ khiếm thị không nhìn thấy hòn sỏi, không nhìn thấy cái hồ, không nhìn thấy cá bị thương do hòn sỏi vô tình ném xuống. Nhưng tâm hồn anh có đủ sỏi, đủ hồ, đủ cá cho bao bạn đọc đến ném và đến đọc thơ anh, đặng bật chợt xót xa cho chú cá bé nhỏ biết đâu vừa bị thương vì trúng đạn sỏi! Bài thơ này anh viết với tâm trạng một thiền sư, một con người giàu lòng bác ái muốn ôm vào lòng mình vạn vật dấu yêu.
Với những câu lục bát bình dị, sâu lắng của con người sống và nhìn bằng nội tâm, Nguyễn Việt Anh làm ta ngạc nhiên ngay cả trước cái vô thường của biển trong bài "Trước biển" trang 55:
Hải âu giờ đã khác rồi
Cái vỏ ốc cũng qua thời mê say
Cát là cát của hôm nay
Chỉ riêng con sóng vỗ đầy ngày xưa
Câu thứ tư bài thơ này là thần bút: “Chỉ riêng con sóng vỗ đầy ngày xưa”… Sóng xưa vẫn vỗ trong lòng anh đầy ắp. Hôm nay vẫn là ngày xưa. Tâm hồn nhà thơ không có không gian và thời gian, biển của tình yêu không có quá vãng, hiện tồn và vị lai… Mọi cái thay đổi nhưng tâm hồn anh vẫn còn nguyên biển ấy, sóng ấy. “Vỗ đầy ngày xưa” quả là diễm lệ lưu tình; sóng nay vẫn vỗ vào biển xưa đầy ắp nỗi niềm hôm nay…
Một chiếc lá rơi vào tay thi sĩ cũng u hoài trầm mặc, cũng mang số phận con người từng phút phải chia li với chính mình hay chia tay với hoài niệm khổ đau theo gió cuốn đi chiếc lá ước lệ cuối cùng của buồn thương u uẩn trong bài "Trắng tay" trang 56:
Thu đi em cũng đi rồi
Chỉ còn hoang vắng tôi ngồi với cây
Ngậm ngùi đón chiếc lá bay
Biết đâu gió giật khỏi tay nỗi buồn
Còn một giọt buồn cầm trên tay gió cũng có cơ giật mất. Buồn ơi, em như một chiếc lá vàng rơi cuối cùng của cây đời yêu dấu đậu vào tay anh một thời xa vắng, xin gió đừng tàn nhẫn giật phăng! Còn một chiếc buồn cỏn con cũng không giữ nổi, nhà thơ anh còn cái gì để nhớ để thương ngoài chút lá vàng của mùa thu cũ?
Trong tập thơ lục bát này, Nguyễn Việt Anh đã tặng bạn đọc nhiều câu thơ hay; ví dụ câu hay trang 58 bài "Vô hình":
Em tin trong cõi vô hình
Có bàn tay đỡ tay mình không em?
Từ cõi hữu hình, nhà thơ buông một nghi vấn vào cõi vô hình: rằng trong cõi hư vô kia có ai chìa cho anh một cái gậy, một bàn tay dìu anh không? Hỏi tức là anh đã trả lời: cái tâm nhân hậu của anh lúc nào cũng chìa niềm nâng đỡ anh dù trong đời thật hay trong cõi vô hình mai sau.
Tôi yêu câu thơ hay bất ngờ này: “Gửi em trang giấy viết đầy trắng tinh” trong bài "Viết cho em" trang 59:
Suốt đêm thức với mưa rơi
Thức hoài chẳng biết trả lời sao đây
Tâm tư thật khó giãi bày
Gửi em trang giấy viết đầy trắng tinh
Ba câu đầu chỉ là sự, câu kết mới là tình, là cõi mênh mông của tuyết trắng tình yêu gửi em mà chỉ người khiếm thị Nguyễn Việt Anh mới nhìn thấy, để hồn anh “viết đầy trắng tinh” lên màn đêm vĩnh cửu vây quanh.
Hầu hết phẩn cuối tập thơ là những câu thơ hay, chúng tôi chỉ xin trích ba câu lục bát làm bằng:
Trăng dan díu với dòng sông
Bỏ tôi khuyết với mênh mông đất trời...
Trăng đa tình bỏ tôi dan díu với dòng sông khiến cả đất trời cùng khuyết! Nhà thơ đang dan díu với ngôn từ thơ ca bỏ người đọc cùng khuyết với vầng trăng… Cho hay cái mênh mông đất trời trong cái nhìn tâm nhãn của Nguyễn Việt Anh cũng vừa ló thành trăng lá lúa…
Nguyễn Việt Anh trong hành trình đi tìm cái tôi đã hóa con dế mèn thi ca đào rỗng nội tâm mình, xem trong mình có mấy cái tôi; hay có ai ngộ nhận mình nấp trong hồn mình làm ra mấy cái tôi giả chăng? Nhưng anh không thấy cái tôi nào ngoài cái chân tôi; rằng tôi chính là tôi trời đất ạ:
Ngoài trời còn có trời cao
Trong tôi biết có tôi nào tôi hơn
Tìm thấy mình rồi nhưng anh lại vấp phải bậu cửa kiếp người có tên là sắc không; rằng sao ta vẫn có chút nghi ngờ mình không không có có:
Gồng mình lên để nói không
Chi bằng nói có cho lòng nhẹ vơi
Vâng, có tôi đây, tôi là Nguyễn Việt Anh, tôi đang có mặt trên cuộc đời này để mang vầng mặt trời khiếm thị vào tập thơ lục bát: “Thức cùng bóng tối”…
Có lẽ đây là tập thơ hay nhất năm 2014 mà chúng tôi hân hạnh giới thiệu cùng bạn đọc?
Nguyễn Việt Anh, chàng trai khiếm thị sinh năm 1982 đang sống ở Hà Nội, với số điện thoại: 0973820249. Bạn đọc nào muốn có tập thơ lục bát hay này xin gọi về cho Nguyễn Việt Anh…
Thật lạ lùng, một nhà thơ thiếu đôi mắt đã có tài biến tất cả tay chân, biến khứu giác, xúc giác, vị giác, linh giác, vô giác, biến tâm hồn và tư tưởng mình thành rất nhiều con mắt để nhìn sâu vào con người, nhìn sâu vào vạn vật. Và ở đó, anh đã gặp một người tình chung thủy, ấy chính là thi ca. Anh đã sờ thấy một giọt sương lúc rạng đông đang rớm lệ và hỏi: sương ơi em có mù không? Và hạt sương chừng như đang trả lời anh: chúng ta, em và anh đang cùng ánh mặt trời ban mai chơi trò bịt mắt bắt dê… Không, Nguyễn Việt Anh hình như đang thầm trả lời: sương ơi, anh cùng em đang chơi trò bịt mắt bắt thơ đấy.,.
Sài Gòn ngày 22-12-2014
T.M.H.