Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015

Nguyễn Văn Bạo - Bầm dập phận đời

Nguyễn Văn Bạo - Bầm dập một kiếp người

Thứ ba - 30/06/2015 02:54
Đỗ Hoàng

NGUYỄN VĂN BẠO – BẦM DẬP MỘT KIẾP NGƯỜI

 

    Kỹ sư Thương Mai Nguyễn Văn Bạo
 

 Nước ta có hai trường Đại học danh tiếng là trường Đại học Tổng hợp Văn (nay là Đại học khoa học Xã hội – Nhân văn) và trường Đại học Thương nghiệp (nay là trường Đại học Thương Mai), nơi ấy có nhiều người trở thành nhà văn, nhà thơ tên tuổi, chính khách hàng đầu, nhà kinh tế tài năng, nhà quản lý năng động…nhưng cũng có người tuy tốt nghiệp đại học ở các trường ấy rồi nhưng cuộc đời cũng bầm dập chìm nổi không khác gì thảo dân!
  Tôi có dịp viết bài giới thiệu khóa học Đại học Tổng hợp Văn năm 1964-1967 trên báo Giáo & Thời đại nên biết khóa này có người làm nên phụ quốc (cha nước) như Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, có người là nông dân chân lấm tay bùn như Trần Văn Kiểm. Còn khóa học Đại học Thương nghiệp năm 1968-1972  tôi biết đến là vì nhiều bạn cùng quê, cùng học phổ thông với tôi vào học trường này như Ngô Minh Khôi (nhà thơ Ngô Minh), Võ Thị Minh Diệt, Phạm Thị Liên, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Như Khai, Nguyễn Văn Bạo…
  Theo tôi, trường Đại học Thương Mại nổi tiếng vinh dự với bà Nguyễn Thị Doan, Phó Chủ tịch nước, Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo đã đành, nhưng nổi tiếng nhất là một trường kinh tế chính thống mà lại có một nhà thơ tài danh là Ngô Minh (Ngô Minh Khôi). Thật là một vinh dự “đặc cách” cho trường!
  Trường Đại học Thương Mai có người làm nên Mẫu quốc (mẹ nước) như Nguyễn Thị Doan, Phó Chủ tịch nước, thì có người như Nguyễn Văn Bạo làm dân thường cùng đinh, cơ cực, một cựu sinh viên tốt nghiệp đại học – bộ đội chống Mỹ, sỹ quan điều khiển tên lửa có một phận đời bầm dập vô cùng bi thương còn hơn Trần Văn Kiểm bên trường Đại học Tổng Văn, đó là Nguyễn Văn Bạo!
      Bạo học dở năm thứ ba thì nhập ngũ. Anh vào bộ đội tên lửa đi chiến trường A, B (miền Bắc, miền Nam), sau đó về học lại ở hai ba khóa sau. Tốt nghiệp Đại học Thương Mại, anh về Bình Trị Thiên công tác một thời gian thì vướng vào một thương vụ, mắc tội lao lý bốn năm năm mới thoát vòng. Cuộc đời anh từ đó trôi nổi phận bèo bầm dập của một kẻ cùng đinh.
   Tôi và Bạo cùng huyên Lệ Thủy. Bạo ở xã Ngư Thủy (xã cũ). Xã Bạo còn có Ngô Minh Khôi (nhà thơ Ngô Minh), Ngô Văn Vựng cùng học chung một lớp từ lớp 9 đến tốt nghiệp lớp 10 niên khóa 1967-1968
 Bạo, Khôi, Vựng đều quê biển nên họ mang tính cách phóng khoáng, thẳng thắn cương trực ăn sóng nói gió. Tính cách hình thành từ tuổi thơ cho đến trọn đời. Về học lực, Khôi trội hơn, Khôi giỏi cả văn lẫn cả toán, Bạo, Vựng khiêm nhường hơn. Bù lại, Bạo rất nhiều tài vặt, cắt tóc, đóng sổ sách, làm bếp làm tượng…
  Bạo, Khôi đều vào Đại học Thương nghiệp, học cùng khoa, ở cùng phòng. Bạo học năm thứ ba thì nhập ngũ. Khôi năm thứ tư mới nhập ngũ. Bạo vào đơn vị bộ đội tên lửa. Đầu thập kỷ 70 đơn vị tôi và đơn vị Bạo đều ra chiến trường, hai anh em gặp nhau ở tuyến dường 20, biên giới Việt – Lào. Vui lắm, mừng lắm. Đơn vị tôi pháo vác (cối 60) nhìn đơn vị tên lửa của Bạo nể lắm, thấy sang lắm. Bạo đi đứng mạnh mẽ, tác phong con nhà lính.
  Khi chiến tranh kết thúc, sau giải phóng miền Nam 1975 độ bốn dăm năm, tôi về làm phóng viên báo Dân (cơ quan của tỉnh Đảng bộ Bình Trị Thiên) thì nghe tin Bạo vướng vào một thương vụ phải ra pháp đình và thân buộc vào lao lý.
    Năm 1982 khi mình xử tử Mười Vân, trưởng ty công an Đồng Nai, công an Bình Trị Thiên mời một số nhà báo, văn nghệ sỹ đi thăm các nhà tù giam giữ các đối tượng trong tỉnh nhằm tuyên truyền chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đối với tù nhân.
  Sau khi thăm trại Bình Điền (Thừa Thiên), Hoàn Cát (Quảng Trị), chúng tôi được mới ra trại Đồng Sơn (Quảng Bình). Trại Đồng Sơn chỉ giam giữ đối tượng tù kinh tế. Ở Trại Đồng Sơn tôi gặp hai nhân vật thật là “đặc biêt”. Một là gặp một học sinh cũ đang chịu án tù, hai là gặp Bạo trong nhóm tù lao động cải tạo đang bơi trên hồ thủy điện Đồng Sơn kéo gỗ về dựng lán ở.
  Người học sinh cũ gặp tôi lễ phép chào thầy. Tôi động viên em cải tạo tốt để sớm ra tù. Anh em nhà báo, văn nghệ sỹ đùa tôi:
-          Thầy thế này thì học sinh đi tù là phải rồi!
    Còn Bạo không còn oai phong chàng sỹ quan tên lửa ngày xưa nữa mà là một người tù đúng nghĩa đen. Cái mặt vuông, cằm bạnh gồ lên, da đỏ nâu bóng trông rõ là một hảo hán phong trần. Tôi chỉ biết nói những điều cảm thông chía sẻ.
  Bạo cười bất cần:
-          Ai cũng mơ ô tô nhà lầu bạn ạ! Hôm nay phát động toàn trại đi rừng, chứ công việc chính của mình là cắt tóc cho trại. Nếu làm như thế này mình chết lâu rồi.

*

  Hai ba năm sau, đang đêm ở khu tập thể Báo Dân số 2 – Phùng Hưng – Huế, khi vợ con tôi đã ngủ yên thì có tiếng gõ cửa. Tôi nhẹ nhàng ra mở cửa. Và không tin được trước mặt là Bạo. Bạo nói: - Tau vừa mới ra tù thăm vợ chồng mi một tí để tau đi!
  Không để tôi nói điều gì, Bạo quay gót biến vào đêm tối. Huế lúc đó mùa đông nên lạnh rét lắm: “ Mưa Huế đã từng làm ướt áo/ Nỗi buồn bao kiếp thi nhân/ Tầng lá trong đêm gào ảo nảo/ Không manh áo mỏng bạn còn đi!...”
  Rất may là độ hơn tháng sau, Bạo quay trở lại và bạn bè cùng học mới có điều kiện chia ngọt sẻ bùi với Bạo.
 Tôi viết bài thơ: BẠN MỚI RA TÙ tặng Bạo

“Bây giờ mày về đây
Thế là mừng cái đã
Tù tội từng đọa đày
Mày vẫn trơ như đá

Da dẻ mày sạm lại
Mắt tóe lửa xiềng gông
Gặp nhau run lời nói,
Nước mắt đỏ hoe tròng.

Nào những thằng 9c
Có còn gì cho nó
Dù là cái mũ mê
Dù là quần áo cũ.

Đừng đắn đo gì nữa
Đời đè lên cổ mày
Giờ đã cất gánh nặng
Thì sống cùng tốp say.

Thằng Khôi vẫn như xưa
Làm thơ và làm việc
Thằng Hải vẫn như xưa
Học học và viết

Thằng Ty thì quên chết
Yêu đến là si mê
Sống mở lòng bè bạn
Nó chẳng cần thiết gì.

Thế là gắng mà sống
Cần quái gì nữa đâu
Rượu chia nhau vài chén
Bạn có đứa bạc đầu!
Huế 1982

*
     Hồi ấy cán bộ công nhân viên chức ở tù về đang còn nặng nề lắm. Xin lại vào Nhà nước là một việc nan giải. Nhưng Bạo may mắn có Khôi đang là cán bộ tổ chức Ty Thương nghiệp Bình Trị Thiên, Khôi lại là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Khôi sống quảng giao, hào hiệp cởi mở, không màng chức quyền ham thơ phú nên ngay trong phòng Tổ chức của Ty Thương nghiệp tỉnh tiếng nói của Khôi cũng có trọng lượng. Sau một thời gian dư luận lắng xuống, Khôi đã bố trí cho Bạo làm cán bộ tổ chức ở phòng Thương nghiệp huyện Hương Phú (cạnh Huế). Thế là đời Bạo lên hương!. Ai cũng nghĩ thế. Vì thời ấy, thương nghiệp là chỗ hái ra vàng, giống như bây giờ Viettel, Dầu khí…
  Độ một vài năm gì đó, Bạo bỏ về quê đánh cá. Khôi bào với bọn tôi, Bạo con đông, làm công chức lương không đủ sống. Bạo thích làm tiền tấn. Thế là Bạo thuộc bài “Ông lão đánh cá và con cá vàng”. Bạo trở về với biển cả của mình. Bạo chạy bơ (thuyền nan nhỏ) câu mực, đánh cá ven bờ nuôi vợ, nuôi con làm một ngư dân thực thụ.
  Giữa năm 1986 đang học năm nhất Đại học Viêt văn Nguyễn Du, tôi bị cơ quan cũ cử người ra trường triệu về kỷ luật cách tuột luột mọi thứ, đuổi về địa phương vì tội làm hồ sơ giả.
  Cùng quẩn, tôi lang thang ra quê Bạo tìm cách vượt biên. Hai đứa đã tính con nước, luồng lạch, thời tiết, thời điểm, lương thực nước nôi quảng đường đi đến đảo Hải Nam… và liều chết tìm đường sống.
 Nhưng rủi cho tôi, tôi ra biển đến làng Bạo thì Bạo đi câu mực ngoài khơi xa. Đành quay về Huế và viết bài thơ RƯỢU BIỂN tặng Bạo.

“Rượu biển ngâm rắn biển
Một mình uống với đêm
Hai năm rồi mới đến
Không gặp bạn hàn huyên.

Bạn đang ngoài con sóng
Tảo tần cánh hải âu
Tôi nhận ra dáng bạn
Đốm lửa cuối trời sâu!

Quê mình vẫn như thế
Mỗi ngày chỉ hột cơm
Ra gặp lúc động bể
Khoai ăn chấm muôi không.

Đêm tôi nằm nghe sóng
Đập hoài như tiếng tim
Thương đời tôi đời bạn
Gãy cánh một đời chim.

Tấm lòng ta vẫn thế
Rượu đầy như biển đây
Bạn đến mặc sức uống
Đêm cùng sóng biển say!

1986

*
 Sau đó cuộc sống ở làng biển cũng vô cùng đói khổ, Bạo phải vào Nam làm cửu vạn kiếm sống. Sau này nghe Bạo kể làm cửu vạn một phần sống chín phần chết. Dân cửu vạn tranh nhau việc làm, vác một bao tải mà có khi đánh nhau lõa máu đầu, có kẻ bị đánh chết. Bạo cũng bị đổ máu nhiều lần vì tranh bốc vác hàng trên bến tàu. Tấm bằng tốt nghiệp Đại học Thương nghiệp quý như vậy mà Bạo để cho nó nhàu nát lổ loang máu. Đến nỗi ngày hội trường, anh Đô Lương bạn học đại học buôn bán ở Ba Lan về nước dự hội trường nói với Bạo: “Tấm băng của mi để như mảnh giấy lau chảo”,  tấm bằng tau, tau cất như cất vàng!
 Bạo ra đi không ai biết, không ai hỏi. Xơ xác, tiêu điều, cô đơn tận cùnag. Nghe tin tôi rất xúc động,cảm thương, viết bài thơ  CHIA LY tặng Bạo:
“Vợ con đành vứt bỏ
Mẹ già đi ăn mày
Một đứa con của biển
Không còn có từ nay.

Mày đi như là hết
Chiều buông nắng rợn người
Có con thuyền nằm chết
Không còn ngày ra khơi.

Ai lê chân trên cát?
Mẹ giá tấm thân gầy
Nước mắt người rơi xuống
Nhiều như nước biển này.

Chia ly không tiếng khóc
Trời xanh biển cứ xanh
Có con còng phơi xác
Bên mép sóng vô tình!

Ngày thường lên mỗi sáng
Đời thường vẫn miết trôi
Có ai người biết đến
Đứa con biển mất rồi!

Huế  1986

*

 Hai năm trước, Bạo ra hội trường nhân kỷ niêm ba bốn mươi năm thành lập trường Đại học Thương Mai. Ngô Minh ốm không đi được, còn Võ Thị Minh Diệt, Phạm Thị Liên, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Như Khai, không hiểu lý do gì mà không về dự hội trường. Bạo có hai nhóm bạn, bạn cùng khoa cùng trường  học năm 1968 như :Ngô Minh, Võ Thị Minh Diệt, Nguyễn Thị Doan, Nguyễn Bách Khoa, Đô Lương, chị Chắt… bạn cùng lớp sau khi đi bộ đội về học lại năm 1975 như anh Tạo, anh Định…Các bạn học của Bạo đều khá giả. Dân thương mại có khác. Anh Tạo ở khu biệt thự Linh Đàm gần nhà tôi, nhà cỡ triệu đô. Anh nói anh mua lại của Nguyễn Thị Doan cùng trường (Bà Doan, Phó Chủ tịch nước). Anh Đô Lương nhà ở đường Bạch Đằng và có nhà bên Ba Lan nữa. Ai cũng có ô tô biệt thự!
  Các bạn cùng học cũ đều thông cảm chia sẻ nỗi mất mát của Bạo. Bạo được anh em quyên góp cho một ít tiền về quê mua thuyền, mua bơ để đánh cá. Cái quan trọng nhất là anh Đô Lương và anh em nói với bạn học Hiệu trưởng Nguyễn Bách Khoa lúc đó chứng nhận cho cái giấy sinh viên của trường đi bộ đội để địa phương xã Hải Thuỷ cho Bạo một miếng đất nhỏ cắm dùi, làm nhà.
     Bạo nhờ tôi đến Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân xin chứng nhận phục vụ ở tiểu đoàn, trung đoàn, sư đoàn a,b,c để làm chế độ. Nhưng rất tiếc đơn vị đã chuyển vào Nam và có trả lời là tìm không thấy tên Nguyễn Văn Bạo. Không hiểu sao giấy tờ lưu của bộ đội lại mất?
   - Mình sống đến tuổi gần 70 là quý lắm, đáng chết từ lâu. Mình nuôi một con gà mái, mỗi ngày đẻ cho mình một quả trứng là mình sống được Hoàng ạ! - Bạo chân tình nói với tôi như vậy khi chia tay!
-           Cút rượu nữa chứ - Tôi đùa.
-          Đúng! Đúng, cút rượu nữa! – Bạo cười khả khả.
   Con người có cần gì nhiều đâu. Sao con người lại tranh giành sống, hành hạ nhau, và giết nhau đến như vậy?

Hà Nội 30- 6-2015
Đ - H

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Dấu chân qua trảng có của Thanh Thảo dở, kém toàn diện

Dấu chân qua trảng cỏ của Thanh Thảo dở - kém toàn diện

Thứ hai - 05/01/2015 14:42


                Nhà thơ Thanh Thảo

DẤU CHÂN QUA TRẢNG CỎ CỦA THANH THẢO - DỞ, KÉM TOÀN DIỆN


 

     Đỗ Hoàng



Nguyên bản:

Buổi chiều qua trảng cỏ voi
Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh
Gió nghiêng ngả giữa màu xanh
Tiếng bầy chim két bỗng thành mênh mang

Lối mòn như sợi chỉ giăng
Còn in đậm đặc vô vàn dấu chân
Dấu chân ai đọc nên vần
Nên nào ai biết đi gần đi xa

Cuộc đời trải mút mắt ta
Lói mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường
Những người sốt rét đang cơn
Dấu chân bấm xuống đường trơn, có nhòe?

Chiếc bòng con đựng những gì
Mà đi cuối đất mà đi cùng trời
Mang bao khát vọng con người
Dấu chân nho nhỏ không lời không tên

Thời gian như cỏ vượt lên
Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua
Ai đi gần ai đi xa
Những gì gửi lại chỉ là dấu chân

Vùi trong trảng cỏ thời gian
Vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta
Vẫn đằm hơi ấm thiết tha
Cho người sau biết đường ra chiến trường                    

    Nhà thơ Thanh Thảo tham gia cuộc chiến cuộc kháng chiến chống Mỹ  với tư cách dân sự. Ông xếp sau Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Khoa Điềm… Ông được cưng nựng và lăng xê khá đều đặn tên văn đàn chính thống. Để có cái nhìn khách quan công bằng vannghecuocsong.com xin in  bài  viết của nhà thơ, nhà phê binh hậu hiện đại Đỗ Hoàng về bài thơ DẤU CHÂN QUA TRẢNG CỎ  của nhà thơ Thanh Thảo.

    Để khỏi mất thì giờ của độc giả, tôi đi thẳng vào phân tích nhận xét luôn bài này. Đây là một bài thơ dở, yếu kém toàn diện từ nội dung cho đến nghệ thuật ngôn từ.
 Tuy viết cổ động tuyên truyền, nhưng Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân còn khắc họa phần nào người chiến sỹ Giải phóng quân:
Không cần nghỉ lái trăm cây số nữa
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
(Tiếu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật)
Máu tin anh phun theo lửa đạn cầu vồng
(Dáng đứng Việt Nam – Lê Anh Xuân).
   Nhà thơ Thanh Thảo không được như vậy. Hai bài được lăng xê nhiều nhấtDấu chân qua trảng cỏ và Bài ca ống cống là hai bài thơ làm nhem nhuốc hình ảnh người lính chiến thắng của phe được cuộc!
 Viết về thảo nguyên có bào nhiêu câu thơ hay thơ đẹp truyền lại từ ngàn năm nay:
Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa
(Thơ cổ Trung Quốc)
Cỏ no xanh rợn chân trời 
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
(Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du)
Thanh Thảo có nhiều câu dở dưới mức trung bình:
Buổi chiều qua trảng cỏ voi
Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh

 Anh dân sự, bưu tá giao liên trong thơ Thanh Thảo giữa chiến trường sao cô quanh, trơ trọi “tôi thích thất thểu” như một gã cái bang thua bạc thời nay trong các chiếu bạc ở Campuchia vậy!
Chiếc bòng con đựng những gì
 Mà đi cuối đất mà đi cùng trời
 Chiếc bòng đựng nhiều nhất chỉ bộ áo quần bà ba là cùng hoặc nữa là hai bơ gạo(!)


 Cuộc kháng chiến chống Mỹ, bên ta phải đối đầu với với đế quốc hùng mạnh, giàu nhất thế giới mà chi một anh Vệ túm như vậy làm sao mà đánh đấm, mà chiến thắng !)
  Hình ảnh người lính ra trận từ cổ chí kim, phương Đông hay phương Tây đều là những hình ảnh đẹp, kiêu hùng sang trọng, có thực trong cuộc đời. Có thế mới làm nên chiến thắng:
“Trượng phu thiên lý chí mã cách
Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao
Tiện từ khuê khốn tùng chinh chiến
Tây phong minh tiêu xuất Vị kiều”
(Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn)


Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao
Giã từ đeo bức chiến bào
Thét roi Cầu Vị ào ào gió thu
(Đoàn Thị Điểm dịch)

Trai anh hùng nấm mồ da ngựa
Coi chết chóc nhẹ tựa tơ hồng
Theo quân xa biệt khuê phòng
Vung roi Cầu Vị, bềnh bồng gió Tây
(Đỗ Hoàng dịch)

Thân dũng sỹ không thua sức vóc
Sóng đục lờ sóng đục ngày đêm
Kìa quân giặc đến bờ bên
Mài con dao sắc ở trên đá này
Như cha con dạn dày chiến trận
Suốt một đời lận đận binh đao

À ơi, con ngủ cho lâu
Mai sau khôn lớn mẹ cho diệt thù!
(Bài ca Cô dắc – Bằng Việt dịch)

Còn cái anh giao liên cái bang của Thanh Thảo:
Những người sốt rét đang cơn
Dấu chân bấm xuống đường trơn có nhòe?
Đi không nổi nữa thì đòi làm được cái gì (!)

Các hình ảnh được Thanh Thảo chọn làm đặc trưng trong bài thơ là những hình ảnh hạ cấp không tiêu biểu. Anh chiến sỹ giao liên thuộc dạng cái bang (ăn mày), con chim két thuộc loài mồng két trên đồng trảng là loại hạ điểu kêu choe chóe chứ chẳng linh điểu cất lên tiếng vang chin tầng mây. Loại cỏ voi là loại cỏ ngoại lai nhập đầu thời Mỹ vào miền Nam, cũng là loại hạ thảo, bần tiện không phải linh thảo.
  Tất cả đều ở trên cái đồng không mông quạnh lạnh lẽo trơ trọi, rách nát, hèn kém!

Bài thơ lục bát chỉ 24 câu mà Thanh Thảo dùng nhiều vần thông khiên cưỡng và đầy lỗi vận, lỗi vần (10 lỗi):

Những gì gửi lại chỉ là dấu chân
Vùi trong trảng cỏ thời gian
Vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta
                                  
Hay:
Tiếng bầy chim két bỗng thành mênh mang
Lối mòn như sợi chỉ giăng
Còn in đậm đặc vô vàn dấu chân

Hay:
Lối mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường
Những người sốt rét đang cơn

Hay:
Dấu chân bấm xuống đường trơn, có nhòe?
Chiếc bòng con đựng những 
Mà đi cuối đất mà đi cùng trời

Kết bài thơ là tai hại nhất là hỏng toàn bộ bài thơ:

Vẫn đằm hơi ấm thiết tha
Cho người sau  biết đường ra chiến trường.


Sao nhà thơ Thanh Thảo lại xui dại con cháu vào chỗ chết như vậy? Thời chiến tranh chống Mỹ có bom nổ chậm đều có bảng cảnh báo – warning để cho người đi sau nhằm tránh hướng khác chứ không lao vào chỗ chết. Ngay em bé trong phim Chim vành khuyên biết mình hô to mình sẽ bị giặc giết nhưng em vẫn kêu lên cho mọi người tránh giặc: “Đò giặc đừng qua! Đò giặc đừng qua!”. Sao nhà thơ xui như xui trẻ con ăn cứt ca (gà) như vậy nhỉ?


Cho người sau biết đường ra chiến trường

Đáng ra phải viết:
Cho người sau biết tránh xa chiến trường chứ?

Bởi vì dù chính nghĩa hay phi nghĩa vào chiến trường đánh nhau là vào chỗ chết. Ngày cả ra đi cũng đã vào chốn bụi bờ, là chết một ít:
C’ est toujours le deuil d’un voeu
Le dernier vers d’un poème
Partir, c’est mourir un peu

Để tang mãi những câu cầu khẩn
Lời cuối cùng vẫn ánh tình thơ
Đi là chết chốn bụi bờ

(Rondel de L’adieu – Edmond  Harau court 1858 -1942 - France)
(Đỗ Hoàng dịch)

 Nếu biết học tiền nhân một chút thì có thể viết khổ kết bài thơ trên có sức khái quát hơn, nâng tầm thơ lên hơn:
“Tri nhữ viễn lai ưng hữu ý
Hảo thu ngô cốt Chướng giang biên

(Tả thiên chí Lam Quan thị diệt tôn Trương – Hàn Dũ)

Biết cháu từ xa vào có ý
Nhặt nắm xương  ta bến Chướng này!
(Bị giáng chức bị đổi đi xa đến ải Lam viết cho cháu là Trương – Hàn Dũ – Đỗ Hoàng dịch thơ (*)

Kết -  DẤU CHÂN QUA TRẢNG CỎ:
Vẫn còn nhắc tận sau xa
Nhớ vào gom nhặt thịt da, xương tàn
Đưa về đặt những nghĩa trang
Nhớ thời nước Việt cơ hàn giết nhau!

(*) Tham khảo:

Hàn Dũ

TẢ THIÊN CHÍ LAM QUAN THỊ DIỆT TÔN TRƯƠNG

Nhất phong triêu tấu cửu trùng thiên
Tịch biếm Triều Châu lộ bát thiên
Bản vị thánh triều trừ tệ chính
Khẳng trương suy hủ tích tàn iên
Vân hoành Tần Lĩnh gia hà tại
Tuyết ủng Lam Sơn mã bất tiền
Tri nhữ viễn lai ưng hữu ý
Hảo thu ngô cốt Chướng giang biên.

BỊ GIÁNG CHỨC ĐÀY ĐI XA ĐẾN ẢI LAM VIẾT CHO CHÁU LÀ TRƯƠNG


Sớm gửi Cứu trùng lời thẳng ngay
Chiều Triều nghìn dặm lệnh đi đày
Thành tâm lo nước giúp vua sáng
Tận dạ vì dân sá thân gầy
Mây che Tần Lĩnh quê mờ mịt
Tuyết phủ Lam Quan ngựa khói bay
Biết cháu từ xa vào có ý
Nhặt nắm xương ta bến Chướng này!

(Đỗ Hoàng dịch thơ)


Hà Nội, ngày 4- 1 – 2015

Đ – H

Sửa chữa nâng cao Dấu chân qua trảng cỏ

Đặt tựa đề:

QUA TRẢNG CỎ

Buổi chiều qua trảng cỏ voi
Ngước nhìn mút mắt khoảng trời long lanh
Gió nghiêng ngả giữa màu xanh
Tiếng bầy chim két bỗng thành mênh mang

Lối mòn sợi chỉ dọc ngang
Còn in đậm đặc vô vàn dấu chân
Dấu chân ai đọc nên vần
Nên nào ai biết đi gần đi xa

Cuộc đời trải mút mắt ta
Lối mòn cảnh báo đường ra chiến trường
Những người sốt rét đang cơn
Dấu chân bấm xuống đường trơn đã lì!

Chiếc bòng – trái đất đương thì
Mà đi bùng biển mà đi cùng trời
Mang bao khát vọng con người
Dấu chân cho đất, cho đời có tên

Thời gian như cỏ vượt lên
Lối mòn như sợi chỉ bền kéo qua
Ai đi gần ai đi xa
Những gì gửi lại chỉ là dấu chân

Vùi trong trảng cỏ thời gian
Vẫn âm thầm trải ngút ngàn mắt ta
Vẫn còn gửi tới sau xa
Cho người sau biết tránh xa chiến trường!

Đoạn kết có thể viết như thế này:

Vẫn còn nhắc nhở sau xa
Xin vào nhặt chút thịt da xương tàn
Đem về táng ở nghĩa trang
Nhớ thời nước Việt cơ hàn giết nhau!

                          Hà Nội, ngày 4 -1- 2015

                                      Đ - H           
           

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2015

Hội thảo thơ chống Mỹ hai phía vào 30 - 4 -2015

HỘI THẢO THƠ CHỐNG MỸ 40 NĂM (30- 4 -1975 – 30 – 4 - 2015) (ước mơ)
 
Hội Nhà văn Việt Nam vừa ra tuyển tập thơ văn chống Mỹ. Phần thơ bên kia chiến tuyến có một Lê Văn Ngăn nguyên trung sỹ quân tiếp vụ Sài Gòn (sau này theo ta – Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam- hội viên Hội Nhà văn Việt Nam). Theo ý kiến của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo sẽ có cuộc hội thảo thơ chống Mỹ cả hai phía để nhìn nhận cuộc chiến khách quan hơn, vannghecuocsong.com xin trich tác phẩm của nhà thơ hai phái để bạn đọc tham khảo.



Phạm Tiến Duật
(Quân đôin nhân dân Việt Nam)

VÒNG TRẮNG


VÒNG TRĂNG

Khói bom lên trời thành một cái vòng đen
Trên mặt đất lại sinh bao vòng trắng
Tôi với bạn tôi đi trong yên lặng
Cái yên lặng bình thường đêm sau chiến tranh

Có mất mát nào lớn bằng cái chết
Khăn tang, vòng tròn như một số không
Nhưng bạn ơi, ở bên trong vòng trắng
Là cái đầu bốc lửa ở bên trong.

                                            8 – 1974
                                   (in lần đầu trên tạp chí Thanh niên)
 

Đỗ Hoàng                                                                               
(Quân đôi nhân dân Việt Nsm)

CHẾT OAN

Lính ở bên kia mấy tiểu đoàn?
Vô nhiều đứng chật cả đường quan
Ngày mai không biết nơi nào đánh?
Nhất định có người phải chết oan!

Mặt trận Quảng Trị năm 1972
(in trong tập thơ Tâm sự người lính – Nhà xuất bản Văn học, bị cấm chui)

              
    
Nguyễn Bắc Sơn
(Quân đội Việt Nam Cộng hòa)

GHÉ SÔNG MAO

Nếu mai đụng độ ta còn sống
Về ghé song Mao phá phách chơi
Chia bớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một giờ vui!



Hà Thúc Sinh
(Quân đôi Việt Nam Cộng hòa)

NGHINH ĐỊCH HÀNH (trich)

Giao thừa đâu mà vội
Hày khoan đã chú mày
Cứ đóng xa vài dặm
Mà ăn uống no say

Ta cũng người như chú
Cũng nhỏ bé trong đời
Có núi sông trong bụng
Mà bất lực hôm nay

Chú cứ ăn cho đủ
Mai chết sẽ chết no
Ta cũng cần đêm cuối
Từ giã gió trăng xưa!

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

Nhà văn khu vực Hà Nội gặp nhà thơ Trương Nam Hương

Anh nhà văn khu vực Hà Nộư gặp nhà thơ Trương Nam Hương

Thứ ba - 30/12/2014 08:07

                                               

  Nhà thơ Trương Nam Hương     (ảnh trên)                                          Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo

ANH EM KHU VỰC HÀ NỘI GẶP GỠ CUỐI NĂM VỚI NHÀ THƠ TRƯƠNG NAM HƯƠNG & NGUYỄN TRỌNG TẠO…

Đỗ Hoàng

 
  Trương Nam Hương và Nguyễn Khắc Thạch vừa họp xong hội đồng thơ, Nguyễn Trọng Tạo cũng vừa tọa đàm xong thơ chống Mỹ, các nhà thơ gọi bạn bè đến quán bia đầu đường Nguyền Đình Chiểu đàm đạo
 Nhiều nhà thơ ở khu vực Hà Nội có mặt như: Trần Quang Đạo, Phạm Đông Hưng, Nguyễn Thành Phong, Nguyễn Quang Thiều,Trần Hậu, Phạm Khải, Đỗ Hoàng…
      Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo kể: “Tôi vừa có ý kiến phát biểu khá ấn tượng là hai miền Nam Bắc đã thống nhất gần 40 năm, chúng ta nên mới các nhà văn phía bên kai cùng tọa đàm để nhìn lại cuộc chiến vừa qua. Bởi vì phía bên kia chiến tuyến cũng có nhiều nhà thơ viết hay”
  Tôi đùa đế theo: “Nếu mời phía bên kia chiến tuyến tọa đàm thơ cuộc chiến với Mỹ vừa qua thì cũng phải mời Đỗ Hoàng nữa chứ!. Tôi có tập thơ Tâm sự người lính kia mà”
Anh Tạo cười: “Mời chứ. Đỗ Hoàng là bộ đội mình nhưng viết thơ hay theo kiểu ngụy thì cũng nên mời!”.Câu chuyện bắt đầu vào hồi rôm rả.
  Tôi tiếp; “Các nhà thơ bên kia chiến tuyến v iết hay vì họ nhìn ra bi kịch chiến tranh của loài người và của dân tộc mình. Phía bên kia chiến tuyến có một khoảng tời tự do cho sáng tác nên tác phẩm của họ được phổ biến. Còn bên ta nhiều tác giả và tác phẩm bị lãng quên! Vừa rôi nghe Hoàng Nhuận Cầm đọc lại những bài thơ cổ động tồn ào trên ti vi, thấy Cầm vẫn u mê như thời sinh viên vào bộ đội- một thời làm thơ véo von, con nít. Lúc ấy tuổi đôi mươi còn ngây ngô  “Mùa thu này ta hát khắp Trường Sơn” (Hoàng Nhuận Cầm) “Tường Sơn ta hát/ Có chú nai vàng giương đôi tai ngơ ngác” (Gia Dũng). Bây giờ hơn 40 năm nhìn lại cuộc chiến huyhn đệ tương tàn mà còn đọc một cách vô hồn như vậy thì không thể hiểu nổi


           Nhà thơ Hoàng Nhuận Càm

Nguyễn Linh Khếu: “Thời ấy mà Đỗ Hoàng viết Tâm sự người linh có những suy nghĩ, có một nhãn quan triết học như thế là đi trước thời đại” (Nguyễn Linh Khiếu nói điều này nhiều lần rồi!)
  Trần Quang Đạo nói; “Thơ phản chiến của Đỗ Hoàng như nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn, có khi mạnh mẽ hơn! (Trần Quang Đạo đã viết trong Đỗ Hoàng - người bay dịch lại Kim Vân Kiều truyện in báo Tiền Phong năm 2010)
   Nguyễn Thanh Phong: “Tôi mà công an, tôi đã bắt Đỗ Hoàng từ lâu (Phong cũng nói điều này nhiều lần, nói đùa thôi!)
  Phạm Khải cũng nói đùa:
  Tâm sự người lính của Đỗ Hoàng đến Mỹ nó cũng bỏ tù chứ gì mình! Khải đọc thơ như đọc gần 30 năm trước lúc nó vừa được in ra:
“ Ta nghĩ nếu ta giành chính quyền
Thì ta cũng phải có ưu tiên
Cũng ra đạo luật phòng ai phản
Cũng sống nhà hơn vạn kiếp phiền.

Rồi bao tòa án với nhà lao
Ai chống thì ta nhét chặt vào
Đến mọt gông cùm ta mới thả,
Vạn năm ai phản được ta đâu!”
(Mộng không thành – Tâm sự người lính)
  Sau một lúc, Văn Công Hùng ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn ra uống với anh em.
  Sau đó chuyển sang chủ đề Bọ Lập vừa bị bắt. Nói chung anh em đều thống nhất là không nên giam Nguyễn Quang Lập, nên có một giải pháp nào đó hay hơn!
  Tôi đọc bài KÊU CHO BỌ LẬP in trên blogs của tôi cho anh em nghe:
Nhe tin Bọ Lập bị còng tay.
Bắt đến nhà văn thật xót thay!
Đối mắt bạo quyền chơi mặt thớt
Giơ đầu ác bá chọi dao phay
Tự do cho nước bao thây đổ,
Dân chủ dâng trời lắm trôốc bay
Xin rán vài năm mùi ngục tối
Danh truyền hơn vạn cái mề đay!
  Anh em khen 4 câu đầu.
 Cuộc vui đấn chiều. Tôi về trong lảo đảo cơn say!


                                                 Hà Nội, ngày 24-12-2014
                                                                 Đ - H

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

Thơ Nguyễn Việt Anh - Trần Mạnh Hảo giới thiệu

“THỨC CÙNG BÓNG TỐI” TẬP THƠ HAY NHẤT NĂM 2014:
MẶT TRỜI KHIẾM THỊ VÀO THƠ

      Trần Mạnh Hảo 
.
Sau khi chúng tôi (TMH) đưa lên FB một số bài thơ, câu thơ hay của nhà thơ khiếm thị Nguyễn Việt Anh trích trong tập thơ lục bát “Thức cùng bóng tối” (NXB Hội nhà văn 10-2014) chưa đầy một ngày đã có mấy chục “còm” hưởng ứng khen thơ hay. Trong số “còm” này, có lời của nhà thơ Trần Đăng Khoa (tên FB là “Đảo chìm” viết như sau: “Nhiều câu quả là hay thật, và hay nhất là không ngửi thấy mùi Trần Mạnh Hảo. Sợ bố Hảo lại vẽ ra một nhà thơ, như lão đã từng vẽ ở... thế kỷ trước. Bác đưa hết thơ cô bé này lên fb đi. Tuyệt!”
Thưa với nhà thơ Trần Đăng Khoa, tác giả tập thơ lục bát “Thức cùng bóng tối” Nguyễn Việt Anh không phải là một cô bé, mà là một người đàn ông đã 32 tuổi, hiện sống tại Hà Nội. Năm 15 tuổi, cậu thiếu niên Nguyễn Việt Anh mắt đang sáng rỡ như mọi người đã bị ngã đứt dây thần kinh thị giác, hỏng hai con mắt, bị mù. Nghĩa là suốt 17 năm nay Nguyễn Việt Anh sống toàn phần trong bóng tối.
Mất đôi mắt, mặt trời đối với Nguyễn Việt Anh cũng chỉ là mặt trời khiếm thị. Anh đã tập nhìn bằng trái tim mình: nhìn bằng tai, nhìn bằng tay, nhìn bằng xúc giác, vị giác, nhìn bằng hơi thở, nhìn bằng cả bàn chân và nhìn bằng chiếc gậy dắt anh đi…
Hóa ra trong tâm hồn và thân xác nhà thơ trẻ này đã xuất hiện tinh thần nghìn tay nghìn mắt của Phật. Anh đã nhìn thấy những gì mà người có đôi mắt sáng chưa nhìn thấy. Có lẽ trong nền thi ca Việt Nam và thi ca thế giới chưa ai viết về giọt mưa hay như Nguyễn Việt Anh trong bài thơ 2 câu sau:
“Giọt mưa làm ướt nỗi buồn
Hay buồn làm ướt tâm hồn giọt mưa?”
Nhà thơ chắc đã mang “tâm hồn giọt mưa” trong nỗi buồn ướt nước mắt của mình, hay giọt mưa từng là hóa thân của anh, một giọt mưa cô đơn, một giọt mưa buồn, một giọt mưa khiếm thị? Chỉ đọc câu lục bát thần kỳ này của Nguyễn Việt Anh đã khiến tôi ngơ ngẩn suốt cả chiều. Tôi đang có cảm giác phiêu bồng như thuở xa xưa được đọc bài thơ lục bát tuyệt vời của nhà sư Huyền Quang dịch bài thơ chữ Hán “Hữu không” của Đạo Hạnh thiền sư thời Lý:
Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không
Kìa xem bóng nguyệt lòng sông
Ai hay không có, có không là gì?
Hữu không
Tạc hữu trần sa hữu,
Vi không nhất thiết không.
Hữu, không như thuỷ nguyệt,
Vật trước hữu không không.
Thế giới trong lòng ta hay thế giới ngoài ta cái nào thật hơn?
Tính “sắc không” nhà Phật ám ảnh hồn thơ Nguyễn Việt Anh khi chừng như anh đã vượt qua bể khổ đắng cay như hai câu viết về bóng với hình trong loạt thơ 2 câu:
“Nâng ly bóng chạm với hình
Tưởng ta cay đắng một mình mà đôi”
Thân không còn đôi mắt, nhà thơ dùng tâm nhãn nhìn ra thế giới. Anh cụng ly với bóng mình. Tưởng chỉ mình cay đắng, hóa ra bóng cũng đắng cay! Không nhìn thấy ánh sáng, không thấy mặt trời nhưng nhà thơ khiếm thị vẫn nhìn thấy bóng mình đang sẻ chia cay đắng cùng anh. Hình như hai nỗi cô đơn cộng lại làm con người bớt cô đơn chăng? Nhưng hai nỗi đắng cay cộng lại có thành ngọt ngào?
Nhà thơ khiếm thị hình như có thiên nhãn bên trong; anh có khả năng thấy cái thật xa hơn cái thật gần; anh ngẫm nghĩ về cái lẽ đuổi theo thì mất mà buông ra thì còn, cái thân xác vuột mất nhưng cái hồn thì ở lại, tưởng thực mà hư, tưởng hư mà thực:
Xin độc giả đọc bài "Em" trang 26:
Em là thực hay là mơ
Xa thì rõ gần lại mờ... mờ sương
Sao em như thể làn hương
Đuổi tìm thì mất nhãng buông thì còn?
Nguyễn Việt Anh viết về cái nhớ thương đến tận cùng: yêu đến dửng dưng, thương đến lạnh lùng cằn khô, nhớ đến cạn kiệt thờ ơ, mong nhớ quá tới mức hững hờ... Bài "Không đề 4" trang 33 là bài lục bát tài tình của một người yêu đến cạn lòng cạn ý. Những câu thơ viết nhẹ như không mà day dứt lòng người, mà làm lòng ta chẳng đặng đừng thương cảm:
Yêu em yêu đến dửng dưng
Thương em thương đến lạnh lùng cằn khô
Nhớ em nhớ đến thờ ơ
Mong em mong đến hững hờ cả em
Anh có câu thơ viết về cái hôn rất hay, mãnh liệt chưa từng có trích trong bài "Ngọn lửa":
Trong ta ngọn lửa chập chờn
Muốn hôn lại sợ nụ hôn cháy bùng
Chao ôi hôn em anh sợ lắm: sợ lám cháy bùng em bởi anh đang là lửa hôn rơm mà!
Nguyễn Việt Anh mượn chuyện em nhổ tóc sâu cho anh mà nghĩ ngợi đến muôn vàn mai hậu, nghĩ đến nấm mồ anh sau này ai nhổ cỏ, khiến người đọc rùng mình bi thương trong bài "Tóc và cỏ" trang 48:
Giờ em nhổ tóc dùm anh
Ai người nhổ cỏ giúp mình ngày sau
Yêu đi cho tóc bền màu
Lo gì cỏ mọc trên đầu một mai
Câu thứ bốn của bài thơ này làm bài thơ sâu lắng, ngậm ngùi, nâng chuyện em nhổ tóc sâu cho anh lên một tầm triết học mới: cỏ thiên thu là tóc xanh của con người mãi mãi… Em cũng đâu còn để nhổ tóc cho anh!
Nguyễn Việt Anh có nhiều tứ thơ lạ, bất ngờ. Thơ anh ngẫm chuyện đời buồn vui, thảng thốt. Chỉ có chuyện ta vui đùa ném sỏi xuống hồ mà anh cũng viết thành thơ, viết thành một nỗi niềm sâu kín: có khi cái vui vô tình của ta là cái đau buồn của kẻ khác, cái nghịch ngợm của ta có khi làm thương tổn cá tôm trong bài "Thú vui" trang 52:
Nhặt những hòn sỏi ven bờ
Ném vào vô định mặt hồ du dương
Thú vui tưởng rất bình thường
Ai ngờ chú cá bị thương một ngày
Nhà thơ khiếm thị không nhìn thấy hòn sỏi, không nhìn thấy cái hồ, không nhìn thấy cá bị thương do hòn sỏi vô tình ném xuống. Nhưng tâm hồn anh có đủ sỏi, đủ hồ, đủ cá cho bao bạn đọc đến ném và đến đọc thơ anh, đặng bật chợt xót xa cho chú cá bé nhỏ biết đâu vừa bị thương vì trúng đạn sỏi! Bài thơ này anh viết với tâm trạng một thiền sư, một con người giàu lòng bác ái muốn ôm vào lòng mình vạn vật dấu yêu.
Với những câu lục bát bình dị, sâu lắng của con người sống và nhìn bằng nội tâm, Nguyễn Việt Anh làm ta ngạc nhiên ngay cả trước cái vô thường của biển trong bài "Trước biển" trang 55:
Hải âu giờ đã khác rồi
Cái vỏ ốc cũng qua thời mê say
Cát là cát của hôm nay
Chỉ riêng con sóng vỗ đầy ngày xưa
Câu thứ tư bài thơ này là thần bút: “Chỉ riêng con sóng vỗ đầy ngày xưa”… Sóng xưa vẫn vỗ trong lòng anh đầy ắp. Hôm nay vẫn là ngày xưa. Tâm hồn nhà thơ không có không gian và thời gian, biển của tình yêu không có quá vãng, hiện tồn và vị lai… Mọi cái thay đổi nhưng tâm hồn anh vẫn còn nguyên biển ấy, sóng ấy. “Vỗ đầy ngày xưa” quả là diễm lệ lưu tình; sóng nay vẫn vỗ vào biển xưa đầy ắp nỗi niềm hôm nay…
Một chiếc lá rơi vào tay thi sĩ cũng u hoài trầm mặc, cũng mang số phận con người từng phút phải chia li với chính mình hay chia tay với hoài niệm khổ đau theo gió cuốn đi chiếc lá ước lệ cuối cùng của buồn thương u uẩn trong bài "Trắng tay" trang 56:
Thu đi em cũng đi rồi
Chỉ còn hoang vắng tôi ngồi với cây
Ngậm ngùi đón chiếc lá bay
Biết đâu gió giật khỏi tay nỗi buồn
Còn một giọt buồn cầm trên tay gió cũng có cơ giật mất. Buồn ơi, em như một chiếc lá vàng rơi cuối cùng của cây đời yêu dấu đậu vào tay anh một thời xa vắng, xin gió đừng tàn nhẫn giật phăng! Còn một chiếc buồn cỏn con cũng không giữ nổi, nhà thơ anh còn cái gì để nhớ để thương ngoài chút lá vàng của mùa thu cũ?
Trong tập thơ lục bát này, Nguyễn Việt Anh đã tặng bạn đọc nhiều câu thơ hay; ví dụ câu hay trang 58 bài "Vô hình":
Em tin trong cõi vô hình
Có bàn tay đỡ tay mình không em?
Từ cõi hữu hình, nhà thơ buông một nghi vấn vào cõi vô hình: rằng trong cõi hư vô kia có ai chìa cho anh một cái gậy, một bàn tay dìu anh không? Hỏi tức là anh đã trả lời: cái tâm nhân hậu của anh lúc nào cũng chìa niềm nâng đỡ anh dù trong đời thật hay trong cõi vô hình mai sau.
Tôi yêu câu thơ hay bất ngờ này: “Gửi em trang giấy viết đầy trắng tinh” trong bài "Viết cho em" trang 59:
Suốt đêm thức với mưa rơi
Thức hoài chẳng biết trả lời sao đây
Tâm tư thật khó giãi bày
Gửi em trang giấy viết đầy trắng tinh
Ba câu đầu chỉ là sự, câu kết mới là tình, là cõi mênh mông của tuyết trắng tình yêu gửi em mà chỉ người khiếm thị Nguyễn Việt Anh mới nhìn thấy, để hồn anh “viết đầy trắng tinh” lên màn đêm vĩnh cửu vây quanh.
Hầu hết phẩn cuối tập thơ là những câu thơ hay, chúng tôi chỉ xin trích ba câu lục bát làm bằng:
Trăng dan díu với dòng sông
Bỏ tôi khuyết với mênh mông đất trời...
Trăng đa tình bỏ tôi dan díu với dòng sông khiến cả đất trời cùng khuyết! Nhà thơ đang dan díu với ngôn từ thơ ca bỏ người đọc cùng khuyết với vầng trăng… Cho hay cái mênh mông đất trời trong cái nhìn tâm nhãn của Nguyễn Việt Anh cũng vừa ló thành trăng lá lúa…
Nguyễn Việt Anh trong hành trình đi tìm cái tôi đã hóa con dế mèn thi ca đào rỗng nội tâm mình, xem trong mình có mấy cái tôi; hay có ai ngộ nhận mình nấp trong hồn mình làm ra mấy cái tôi giả chăng? Nhưng anh không thấy cái tôi nào ngoài cái chân tôi; rằng tôi chính là tôi trời đất ạ:
Ngoài trời còn có trời cao
Trong tôi biết có tôi nào tôi hơn
Tìm thấy mình rồi nhưng anh lại vấp phải bậu cửa kiếp người có tên là sắc không; rằng sao ta vẫn có chút nghi ngờ mình không không có có:
Gồng mình lên để nói không
Chi bằng nói có cho lòng nhẹ vơi
Vâng, có tôi đây, tôi là Nguyễn Việt Anh, tôi đang có mặt trên cuộc đời này để mang vầng mặt trời khiếm thị vào tập thơ lục bát: “Thức cùng bóng tối”…
Có lẽ đây là tập thơ hay nhất năm 2014 mà chúng tôi hân hạnh giới thiệu cùng bạn đọc?
Nguyễn Việt Anh, chàng trai khiếm thị sinh năm 1982 đang sống ở Hà Nội, với số điện thoại: 0973820249. Bạn đọc nào muốn có tập thơ lục bát hay này xin gọi về cho Nguyễn Việt Anh…
Thật lạ lùng, một nhà thơ thiếu đôi mắt đã có tài biến tất cả tay chân, biến khứu giác, xúc giác, vị giác, linh giác, vô giác, biến tâm hồn và tư tưởng mình thành rất nhiều con mắt để nhìn sâu vào con người, nhìn sâu vào vạn vật. Và ở đó, anh đã gặp một người tình chung thủy, ấy chính là thi ca. Anh đã sờ thấy một giọt sương lúc rạng đông đang rớm lệ và hỏi: sương ơi em có mù không? Và hạt sương chừng như đang trả lời anh: chúng ta, em và anh đang cùng ánh mặt trời ban mai chơi trò bịt mắt bắt dê… Không, Nguyễn Việt Anh hình như đang thầm trả lời: sương ơi, anh cùng em đang chơi trò bịt mắt bắt thơ đấy.,.
Sài Gòn ngày 22-12-2014
T.M.H.

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2014

Thơ chống giặc nội ngoại xâm ngày 15-12-2014

THƠ CHỐNG GIẶC NỘI NGOẠI  XÂM  ngày 15-12-2014

 

Đỗ Hoàng

 
 
PHỤC

Phục bao nghĩa sỹ sống vì dân.
Phục bậc chí cao biết xả thân!
Phục tổ tiên thiêng dành lộc thánh
Phục cha ông giỏi gửi ơn thần!
Phục người giúp nước qua nghèo đói,
Phục  đấng  cho dân được thoát bần
Phục chí khí cao dân nước Việt.
Phục trông sông núi vẫn hùng anh!

Hà Nội, ngày 12-12-2014




LẠI NÓI VỀ TƯƠNG MĂM

Hòa bình đằng đẳng bốn mươi năm
Giặc dữ cong vòi đã biệt tăm
Làng xóm yên bình không súng nổ,
Phố phường ổn thỏa chằng bom xăm!
Nườm nượp trên non đầy tướng uống,
Nhấp nhô dưới suối lắm quân ăn!
Hai vạn tấn thóc năm dân nộp (*)
Để cho nghìn tướng chỉ tài măm!

Hà Nội, ngày 11-12-2014

(*) Bình quân một tướng ăn 20 tấn thóc/năm. 1 000 tướng x 20 tấn = 20 000 tấn.
(20 000 tấn x 10 triệu đồng/tấn = 200 000 000 000 đồng)  -  200 tỷ VND (tính giá thóc  thị trường năm 2014)




HẬU HOA, HOA HẬU

Ngắm hình hoa hậu thật là vui
Răng chính mấy lần vẫn tiến lui.
Móm mém mồm như con cá ngão,
Gồ ghề trán tựa đực trâu cui!
Ngoại hìnhchỉnh sửa trông xơ xác
Nội tạng nắn bơm ngó búi xùi!
Nước Việt chắc không còn ả xấu?
Nên tôn người đẹp thật là xui!



 



HẬU HOA, HOA HẬU


Cuộc thi hoa hậu lắm đam mê.
Ó kẻ để thơ phải cháy khê.
Đứa đợi vợ con không trở lại,
Thằng trông bồ bịch chẳng quay về!
Mấy đêm hoan hý thân tê dại,
Một phút huy hoàng xác mệt mê
Nén bạc thọc vào cung thắm ấy.
Mỹ nhân người ngọc quá ê chề!

Hà Nội, 9-12-2012



LUẬN VỀ CẨU

I
Cứ tha hồ chười chó
Cứ tha hồ chưởi mèo
Chẳng ai làm gì được
Đời cứ êm veo veo!

Hà Nội, 15-12-2014

II

CHÓ VIỆT


Khốn cùng kiếp chó Việt
Cứt không có mằn.
Pháp nó đã vét hêt (*)
Chỉ còn đứng nhăn răng!

15-12-2014
(*) Thời Pháp thuộc, Pháp lấy cứt người Việt chở về nước để trồng nho.


III

Đã làm cái kiếp chó
Bị chủ chưởi suốt ngàổ

Như bao lớp cùng khổ
Ở trên cõi thế này!

15-12-2014

IV

Chó là loài ăn cứt
Nhưng làm tình tuyệt vời
Con người sành điệu nhất
Phải học nó kiều chơi!

15-12-2104


V

Chó mà đeo áo mũ
Rồi đặt nó lên ngôi
Trái đất sẽ chao đảo
Chó sẽ xơi tái người!

15-12-2014

VI

Khuyển mã loại chi tình
Con người không thương tiếc
Sau những cuộc giao tranh
Chúng đều bị chọc tiết!

Hà Nội, ngày 15-12-2014


VII

Đừng cậy mình là đỏ.
Đừng ỷ mình nhiều ló (*)
Riêng có một cách chới
Người phải đều học chó!

Hà Nội, ngày 15-12-2014

(*) Lúa



DÒM HOA

Lạ lùng thì ai cũng ham dòm.
Đỏ đỏ đen đen hòm hỏm hom.
Gia lão nhón chân cong cổ gập,
Trai tơ trèo gối thắng lưng khom.
Nhìn xuôi thì thấy trên hai chiếc,
Ngó ngược thời trông dưới một chòm.
Cha mẹ sinh ra toàn cục thịt.
Bọn cò bày biện mất tiền nom!

Hà Nội, ngày 13-12-2014


NHỐ NHĂNG

Lũ trộm bây giờ rất nhố nhăng.
Đáng ông thì chúng gọi là thằng.
Một nền kinh tế đem san phẳng,
Hai cơ xã hội bị cào bằng.
Đưa thằng vô lại làm sao sáng,
Đưa ả giang hồ tạc hỏa đăng!
Thua xa cái thời mông muội ấy.
Dân Việt bây chừ có biết chăng?

Hà Nội, 18-12-2014

TAM CƯỜNG MỸ, NGA, TÀU

Mỹ Nga Tàu, Tàu Mỹ Nga
Ba cường quốc muốn chia ba địa cầu.
Tàu Ô kế hiểm mưu sâu,
Sẽ làm chúa tể đứng đầu hành tinh!

Hà Nội, ngày 18-12-2014

LÀM THUỘC ĐỊA

Có sừng, có mỏ
Thì khỏ lẩn nhau.
Dân nào ngu lâu
Chịu làm thuộc địa

18-12-2014

AO NHÀ HÁN

Tàu muốn biến Biển Đông
Làm ao nhà nước Hán
Mua bọn quant ham ăn
Thì thế nào cũng thắng

18-12-2014

Cho quan Việt giữ ngôi
Vỗ về như man tộc
Chiếm An Nam dễ thôi
Không tốn một cân thóc!

18-12-2014

CŨNG VẬY THÔI

Tàu hay Nga cũng vậy
Chỉ lấy thịt đè người
Dân thường cũng đã thấy
Chúng sắp tràn đến nơi!

18-12-2014

SẼ CÓ PHÙ ĐỔNG MỚI

Sau cái thời tướng măm.
Chỉ đánh giặc bằng mồm
Giang sơn sẽ xuất hiện những người anh hùng cầm thanh gươm nghìn cân ra trận
Họ chẳng có quân hiệu quân hàm, sao vạch gì lấp lánh
Họ chỉ có bụi tre ngà và niêu cơm Thạch Sanh
Học Phù Đổng vươn vai, lũ giặc sẽ tan thành.

Rồi lặng lẽ lên trời!

18-12-2014

CỨU NẠN DÂN LÀNH

Cả nước vô cùng cảm kích và xúc động
Khi cứu nguy cho dân lành mười hai mạng sống
Mà thần chết muốn cướp đi.
Những cán bộ cao cấp bộ trưởng tỉnh trưởng, những sỹ quan và những chiến sỹ binh nhì
Bằng nghị lực tài trí và tấm lòng quả cảm

Dân tộc rất tự hào
Những con dân Việt
Biết làm những việc phi thường.

Việt Nam rất nhiều người tốt
Bao tấm lòng sẻ chia từ Nam chí Bắc
Với nghĩa đồng bào.

Trả lại mười hai mạng sống cho dân lành.
Công này vang vọng trời xanh!

Hà nội, ngày 19- 12-2014

 

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

Trao đổi vé cuốn sách " Nhữngvị tướng lừng danh trong lịch sử dân tộc"

Trao đổi - Cuốn sách "Về những vị tướng lừng danh trong lịch sử dân tộc

Thứ sáu - 19/12/2014 09:44
TRAO ĐỔI



 
 
Về cuốn sách Những vị tướng lừng danh trong lịch sử dân tộc, công bố với báo giới ngày 5-12-2014 của các tác giả: Ts. Nguyễn Hoàng Điệp, Đại tá, Bs. Đức Thông và Nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải. Sách do Trung tâm Dịch thuật, Dịch vụ Văn hóa và Khoa học – Công nghệ (CTCS) (thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ Thuật Việt Nam) phối hợp với Nhà sách Tân Việt và Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin xuất bản.
Sau cuộc họp báo công bố cuốn sách này, trên tờ báo mạng của báo “Nông Nghiệp” xuất hiện bài viết “Tôn vinh hay nhạo báng danh nhân” (8-12-2014). Bài viêt này đã nêu một số thiếu sót của cuốn sách và đã vội vàng phê phán, kết tội các tác giả cuốn sách theo tội chưa thỏa đáng!. Rất tiếc, đây là vấn đề nhạy cảm, ngay sau đó chưa đầy 10 ngày, khoảng hai chục tờ báo đã viết những điều tương tự chỉ thay đổi tít như: “Bôi tro trát trấu vào tiền nhân”, “Đem các danh nhân danh tướng ra làm kinh doanh, gây dựng thương hiệu”, “Cẩu thả những học giả lớn”, “Hậu trường và chiêu bài mua danh”, “Có hay không việc tùy tiện  “vẽ rắn thêm chân” làm sai lệch lịch sử danh tướng?” v.v và v.v… Nhiều bài nghe rất kinh khủng!?.
Một cuốn sách xuất hiện, ngoài thủ tục pháp lý về xuất bản, người ta quan tâm hai điều: nội dung và hình thức. Tôi đã đọc cuốn sách trên về nội dung các tác giả tuy không phải các nhà sử học nhưng đã thành tâm tập hợp nghiên cứu, căn cứ vào các tài liệu về khoa học lịch sử để biên soạn. Về căn bản không có chuyện “nhạo báng”, “Bôi tro trát trấu”, “Vẽ rắn thêm chân”,… như một số tác giả các bài báo đã dựa vào các hình minh họa suy diễn kết luận vội vàng.
Về hình thức (tức phần bìa sách và hình minh họa các danh tướng). Trước hết, đây là phần rất khó thống nhất ý kiến nên phải bình tĩnh xem xét. Có nhiều phương án:
Phương án chân thực dễ được mọi người đồng lòng chấp thuận nhất, là minh họa tất cả bằng ảnh. Nhưng minh họa tất cả các danh tướng và sự kiện bằng ảnh không khả thi vì phần nhiều các nhân vật và sự kiện lịch sử lại xuất hiện trước khi máy ảnh ra đời. Ảnh dương bản đầu tiên mới được in vào năm 1839 do nhà vật lý người Anh  William Henry Fox Talbot (1800-1877) (xem Petit Robert II). Trong khi ở Việt Nam, ảnh còn phải đợi lâu hơn nhiều nhờ các cụ Đặng Huy Trứ và Khánh Ký.
Phương án tiếp theo là dựa vào tranh chân dung của trường phái hiện thực Cổ điển. Điều này chỉ dễ dàng ở một số nước như Ai Cập, Hy Lạp, La Mã, Trung Hoa… Vì từ thời Cổ đại cách đây hơn 2000 năm đã thịnh hành làm tranh tượng giống hệt người thực. Ở Việt Nam, ta lại không có truyền thống ấy. Vậy nên, dựa vào chức tước mà con cháu đời sau chỉ có thể hình dung, tưởng tượng thể hiện các tiền nhân một cách đại thể  và tương đối. Chẳng thế mà trên một tờ báo lớn cách đây khoảng 25 năm đã in nhầm Nguyễn Trãi thành Phan Thanh Giản vì rất giống nhau về câu đai mũ mão, râu tóc thậm chí cả dáng ngồi.
Một phương án khác: Những nhân vật Cận và Hiện đại có ảnh dùng ảnh. Những nhân vật không có ảnh, chân dung sẽ được một họa sỹ giỏi về lĩnh vực này căn cứ vào sử liệu để khắc họa.
Phương án tôi nghĩ là tốt nhất nên chăng thay các ký họa chân dung nói trên bằng các ảnh về tranh tượng chân dung của các nhân vật trong Bảo tang Lịch sử và Mỹ thuật hiện có đã được tranh luận và thừa nhận của công chúng rộng rãi. Đây cũng là cách làm của rất nhiều sách tham khảo uy tín trên Thế giới như: Encyclopedie, Larousse, Petit Robert II, v.v…
Một số vấn đề minh họa trong cuốn sách chưa được thống nhất phong cách và gần gũi, dân tộc. Nhưng không đáng để hàng chục tờ báo rầm rộ đánh hội đồng với những lời lẽ gay gắt nặng nề như vậy.
Tôi đồng tình với ý kiến phản hồi các nhà báo của Tiến sỹ Nguyễn Đức Trạch. Ông đã phân tích có tình, có lý về những vấn đề các nhà báo đặt ra và cung cấp nhiều thông tin làm sáng tỏ một số nội dung đã được trình bày trong cuốn sách này.
Phải khẳng định đây là cuốn sách có sự công phu và nội dung không có gì sai phạm. Phần văn bản được các tác giả thể hiện với tinh thần trách nhiệm. Phần hình thức minh họa, mong rằng các tác giả lắng nghe rút kinh nghiệm, thể hiện tốt hơn, thống nhất hơn để cuốn sách này sớm được phát hành đến tay các bạn đọc trong và ngoài nước.
                                                                      Hà Nội, ngày 16-12-2014
 
 
                                                                   Họa sỹ TRƯƠNG THẢO
   Xưởng vẽ tại nhà 31, 9/14 Lương Định Của,
                                                                   Kim Liên, Đống Đa, Hà Nội.
                                                           Di động: 0914 006 993