Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

Dấu chân ơn nghĩa - Vô lối phản nghịch

Dấu chân ơn nghĩa - vô lối phản nghịch

Thứ bảy - 15/11/2014 13:31

DẤU CHÂN ƠN NGHĨA – VÔ LỐI PHẢN NGHỊCH
 

Đỗ Hoàng

HAI THÌ (I- Tiếng thơm muôn thuở II- Tiếng xấu ngàn đời)                                              

Ngày trước:

  Chưa bao giờ xuất hiện một tâm hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, mơ màng như Lưu Trọng  Lư, quê mùa như Nguyễn Binh, ảo nảo như Huy Cận, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu.
(Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam)

Ngày nay:

  Chưa bao giờ trong cõi Việt cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, sau cuộc chiến huynh đệ tương tàn lại xuất hiện một kiểu viết vô lối phi văn chương nhạt nhẽo dài dòng gượng gạo như Nguyễn Quang Thiều, cụt lủn vô tâm vô cảm như Thanh Tâm Tuyền, lòng thòng kể lể báo công xu thời như Lê Văn Ngăn, kệch cởm khệnh khạng khô khan như Nguyễn Khoa Điềm, ngô ngọng giả cầy quái gỡ đau ghẻ như Phú Trạm Inrasara, tù mù uốn éo hời hợt nông cạn thô thiển như Nguyễn Bình Phương, tắc tỵ như Văn Cầm Hải, hủ nút như Hoàng Vũ Thuật, dục cảm bệnh hoạn như Vi Thùy Linh…

   ( Đỗ Hoàng – Dịch thơ Việt ra thơ Việt)

  
 Nhà thơ Phú Trạm  - In ra sa ra

Inrasara thuộc loại ngô ngọng, giả cầy, quái gở, đau ghẻ…tiếng Việt còn rất kém mà đòi cách tân thơ Việt thì không làm sao hiểu nổi. Thế mà ông ta được lăng xê lên quá mức !
Hãy xem bài Vô lối quái gỡ sau:

Inrasara – Nguyên bản:


DẤU CHÂN ƠN NGHĨA

Người Champa đã đến đất này
đào mương trồng lúa/ đốt rừng làm rẫy
yêu nhau/ sinh con đẻ cái
làm thơ rồi ra đi
gởi Mỹ Sơn ở lại.
Rồi người Việt từ phương Bắc tới
lại yêu nhau/ nên xóm nên làng

Trước đó
Người Sa Huỳnh – không biết từ đâu/ về đâu
gốm nung làm dấu chân ơn nghĩa
Mốt mai
Còn ai đến trú

KHẢO SÁT TRÌNH ĐỘ TIẾNG VIỆT

Danh từ riêng : 5 từ , danh từ chung : 17 từ, động từ: 11 từ, từ láy, từ đệm, từ luyến… : không có.
Cách nói hàm súc đa nghĩa dân gian : không có
Ẩn dụ, ngoa dụ, khoa trương : không có
Kết luận: Trình độ tiếng Việt chỉ ngang lớp 1 bâc tiểu học hiện nay.
Bài vô lối này chỉ có 4  câu văn xuôi rất dở mà trẻ em người Vân Kiều (Cà lơ) viết hay hơn:
- Câu 1: Người Champa đã đến đất này đào mương trồng lúa, đốt rừng làm rẫy, yêu nhau, sinh con đẻ cái, làm thơ rồi ra đi, gởi Mỹ Sơn ở lại.
Câu 2: Rồi người Việt từ phương Bắc tới, lại yêu nhau nên xóm nên làng
….
Câu 3 :Trước đó người Sa Huỳnh – không biết từ đâu, về đâu gốm nung làm dấu chân ơn nghĩa.
Câu 4: Mốt mai còn ai đến trú?
Bài vô lối này, Inrasara vô tình hay cố ý đã kết tội tộc người mình phá rừng làm rẫy. Một tôi phá hoại môi trường, môi sinh đang được thế giới cảnh báo “Người Champa…đốt rừng làm rẫy”. Tộc người đã không hiểu luật pháp, tác giả lại không hiểu luật pháp. Có thể trước đây họ đốt rừng làm rẫy thật, nhưng lúc đó họ không biết, nhà thơ viết về họ không nên moi cái tội ngày xưa ra mà nên nói vì sinh nhai  họ “trồng cây gây rừng” thì ơn nghĩa nhân ái hơn nhiều, ”.
Nhiều câu chỉ trong khoa sản, nhà hộ sinh người ta mới dùng như “sinh con đẻ cái”. Chắc Phú Trạm In ra sa ra có làm hộ lý đỡ đẻ nên bị bệnh nghề nghiệp chăng?
 Trước đây tôi đã nói Phú Trạm Inrasara viết về nỗi đau mất nước của tộc người mình quá ư nhạt nhẽo, vô tâm, vô cảm, nghèo nàn đơn điệu không biểu lộ một tình cảm đau thương, xa xót nào. Viết như một kẻ không tim, có tội với dân tộc mình!
    Các đạo giáo lớn và các đạo giáo vừa và nhỏ, người lương thiện kể cả người bình thường, không kể tộc người nào, ai cũng muốn thế giới đại đồng, địa cầu là một nước, chỉ có hòa bình, hạnh phúc, không chiến tranh, chết chóc, xâu xé.
Ở con trái đất không có bong đêm
Không có sự chia cắt của những quốc gia chật hẹp
(Con – Nếu trái đất không còn chảy máu – Đỗ Hoàng)
  Nhưng thế giới đến thế kỷ XXI vẫn chưa đạt được. Nỗi đau mất nước vẫn ngự trị trong lòng loài người. Nhà thơ đã nói đến nỗi đau thì phải nói cho thấm thía, không thể nói nỗi đau ghẻ ruồi như Phú trạm In ra sa ra được:
“Rồi người Việt từ phương Bắc tới lại yêu nhau nên xóm nên làng”. – Một câu nhạt nhẽo trơn tuột không đúng cả tâm linh lẩn lịch sử. Người Việt phải tốn bao máu xương, tốn bao thời gian, mất bao người đẹp mới xóa được nước Chăm ra khỏi bản đồ thế giới!. Sống trong cộng đồng đại gia đình dân tộc hôm nay không nên nhắc lại nỗi đau bằng một sự vô cảm lạnh lùng như vậy. Vì nỗi đau của mất tổ quốc của loài người lớn lắm:
Dân Chàm tan nát ai ơi!
Nỗi đau này từ nghìn đời có đâu.
Tim Hời rực cháy địa cầu,                              
Nhà tan nước mất đứng đầu man di!
                 (Đỗ Hoàng)

     Câu kết của bài vô lối trên rất thách thửc “Mốt mai còn ai đến trú ”. Nếu thế giới không đại đồng, thế giới cứ mãi xâu xé nhau thì sẽ có một tộc người khác mạnh hơn tiêu diệt các tộc người nhỏ yếu đang sinh sống trên đất Việt Nam. Cái quy luật ấy thi In ra sa ra nói đúng. Người Chăm chiếm người Sa Huỳnh, người Việt chiếm người Chăm, rôi có thể người Hán chiếm người Việt, người Nga chiếm người Hán, Hung Nô trở lại chiếm người Nga. Không biết đâu mà lường!
  Mình đang sống trong cộng đồng đại đoàn kết dân tộc Việt mà viết cái câu ác khẩu như thế này là làm tổn hại vô cùng đến tinh thần tương thân tương ái của đại gia đình các dân tộc Việt Nam!
(Đỗ Hoàng)

Đỗ Hoàng
Bản dịch ra thơ Việt

DÁU CHÂN ƠN NGHĨA

Người Chăm đẫ đến đất này
Đào mương gieo lúa, trồng cây gây rừng
Yêu nhau đắm đuối tận cùng
Sinh sôi con cháu đã từng chia ly
Làm thơ ca hát rồi đi
Mỹ Sơn gửi lại dầu ghi tầng trời
Người Việt phương Bắc tới nơi
Yêu nhau say đắm như thời Chăm pa
Xóm làng phố mới lập ra
Người Sa Huỳnh trước đã là ở lâu

Không biết từ đâu, về đâu?
Dấu chân ơn nghĩa gốm nâu trưng bày
Mốt mai ai đến trú đây?

Hà Nội, ngày 22 – 12 – 2013

                          Đ - H
Nối theo:
Mốt mai ai đến trú đây?
Chắc là người Hán bậc thầy ở bên
Địa cầu vần chưa bình yên
Người Nga lần đến đè lên người Tàu
Hung Nô sống lại biết đâu?
Chú Khách sẽ bị bêu đầu Long Biên…
 

Thơ chống giặc nội ngoại xâm 13 -11 - 2014

Thơ chống giặc nội ngoại xâm ngày 13 -11 - 2014

Thứ bảy - 15/11/2014 18:00


THƠ CHỐNG GIẶC NỘI NGOẠI XÂM (13-11-2014)
 

 

     Đỗ Hoàng

DÂN TỬ TẾ

Đài báo nêu vô kể 
Về phẩm chất con ngài
Dân rất nhiều tử tế
Quan thì chưa thấy ai?

Hà Nội, ngày 13 – 11 – 2014

LŨ QUAN CƯỚP KHO

Nham nhở mặt mày lũ cướp kho
Từ thằng quan nhỏ đến quan to
Xăm xăm dao búa phang rương khóa
Hùng hục đóm đăng sục bể vò
Đôn lẫm đêm ngày đầy cáo chuột
Đồi nương năm tháng lắm chim cò
Hở môi răng lạnh thêm tai vạ
Dân Việt hôm rày chẳng dám ho!

Hà Nội, ngày 13 – 11 – 2014

TỜ KHAI CỦA BỐC MÙI

Tin đài báo: Có 1 triệu tờ kê khai tài sản của quan chức Việt Nam tính đến cuối năm 2014

Một triệu tờ khai rất khắm khai
Báo vàng, báo của quả khôi hài.
Gian tham tráo trở chưa thằng dốt,
Đứng đắn thanh liêm chửa bậc tài
Diệt chuột nên tìm cách diệt đúng,
Đơm ruồi đừng kiếm kiểu đơm sai
Bỏ dùi đánh trống làm như thế,
Dân Việt con Tiên chỉ ngáp dài!

Hà Nội, ngày 13 – 11 – 2014

                    Đ – H

              QUAN THAM (tiếp **)

Mặt mũi đứa nào ngó cũng gian
Tháng năm in dấu chúng quơ càn
Đầu đinh lép kẹp loài bò sát
Bụng phệ bùng bình loại nôốc nan
Thuở trước lèo tèo ba bốn đứa
Thời nay lổn ngổn chín mươi đàn.
Điềm trời đã báo cho sông núi
Trừ sớm không thì nước sẽ tan!

                 Hà Nội, ngày 13 – 11 – 2014
                            Đ - H 

Thơ đói thập kỷ 80 thế kỷ trước (tiếp theo)

Thơ đói thập kỷ 1980 (tiếp theo)

Thứ bảy - 15/11/2014 13:40

(Tiếp theo)

Ltg: Vừa rồi, tháng 10 – 2014 nghe nhìn trên truyền thông đại chúng đưa tin có đôi vợ chồng dân tộc thiểu số đói quá phải ăn lá ngón tự tử để lại bốn đứa con thơ dại . Quả là hết sức đau xót cho dân chúng trong đời thường kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra. Từ sau hậu chiến đến nay con người bần hàn cứ đau khổ triền miên. Cảnh không khác gì năm đói thập kỷ 80, Đỗ Hoàng tôi in lại mấy bài thơ viết từ thời ấy.
 
CHIA LY

Tặng Bao

Vợ con đành vất bỏ
Mẹ già đi ăn mày
Một đứa con của biển
Không còn có từ nay!

Mày đi như là hêt
Chiều buông nắng rợn người
Có con thuyền nằm chết
Không còn ngày ra khơi!

Ai lê chân trên cát?
Mẹ già tấm thân gầy
Nước mắt người rơi xuống
Nhiều như nước biển này!

Chia lý không tiếng khóc
Trời xanh biển cứ xanh
Những con còng phơi xác
Bên mép sóng vô tình

Ngày thường lên mỗi sáng
Đời thưỡng vẫn miết trôi
Có ai người biết đến?
Đứa con biển lụt  mất rồi!

Huế 1 - 8 - 1983

TRÔNG MẸ

Cơn ráng vàng ghê sợ
Điêm lụt lớn đến rồi
Trống trênh ngôi nhà nhỏ
Nước tạt tràn trăm nơi.

Mẹ chạy ăn phương nào?
Để nhà hoang lạnh vắng
Gió mưa rú gầm gào
Làng quê chìm thăm thẳm.

Con không còn phân biệt
Tiếng bom đạn tơi bời
Con không còn phân biệt
Mưa hay nước mắt rơi!

Lúa ngoài đồng vừa cúi
Niềm vui chưa trọn chều
Cơn nước điên cuồng đến
Giữa làng quê bọt bèo!

Năm nay người đói nữa,
Lúa đội không còn chia
Bao nhiêu người thiếu thuế
Tối tăm mặt mày đi!

Con bần thần đứng lặng
Trong bóng nhà thẳm đen
Nóng lòng con trông ngóng
Bóng Mẹ về giữa đêm!

 Từ chiến trường ngưng bắn về quê nhà, làng Thuận Trạch, Lệ Thủy, Quàng Bình năm năm đói 1973
 

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

Thơ năm đói thập kỷ 80 của Đỗ Hoàng

Ltg: Vừa rồi, tháng 10 – 2014 nghe nhìn trên truyền thông đại chúng đưa tin có đôi vợ chồng dân tộc thiểu số đói quá phải ăn lá ngón tự tử để lại bốn đứa con thơ dại . Quả là hết sức đau xót cho dân chúng trong đời thường kẻ ăn không hết, người lần chẳng ra. Từ sau hậu chiến đến nay con người bần hàn cứ đau khổ triền miên. Cảnh không khác gì năm đói thập kỷ 80, Đỗ Hoàng tôi in lại mấy bài thơ viết từ thời ấy.

CẢNH NHÀ PHONG - HƯỜNG

Mình đang còn điên loạn
Quay cuồng vì gạo cơm
Thế mà cái kiếp sống
Phong – Hường còn thảm hơn!

Phong đã từng tại ngũ
Đánh Mỹ tới nhiều năm
Thăng lên hàm trung úy (*)
Rồi phục viên về làng.

Giá trị người chinh chiến
Hơn gì mớ cá tôm
Sao vạch ai nhắc đến
Khi mình là phế binh!

Phong gầy như cây sậy
Sức lực đã kiệt cùng
Hường đau hơn năm ấy
Đốt cháy cả bạc tiền!

Lương giáo viên sao đủ
Gạo cơm thời buổi này
Con thì có bốn đứa
Chạy ăn bay tóc mai.

Một ngày còn khó sống
Một năm sẽ làm sao?
Không gian thì dài rộng
Đời người dạt về đâu?

(*) Tương đương với thượng tá bây giờ

  Ở làng quê nhà Thuận Trạch năm đói 1978
              Đỗ Hoàng

QUA QUẢNG TRẠCH (2 bài)

I
Từ ngày chia ruộng khoán
Trên chỉ thu địa tô
Nông dân ra đồng áng
Người lẩn với trâu bò!

JJ

Kiếp một sương hai nắng
Bùn đất lấm mặt mày
Mơ chén cơm độn sắn
Bố làm trâu, con cày!

Quảng Trạch, Quảng Bình năm  đói 2000

            Đỗ Hoàng


TỨC SỰ QUY NHƠN

Sáng ra ngủ dậy, tiền mất giá
Mười đồng còn lại một đồng thôi
Người ta nhìn nhau mắt trắng dã
Cuộc sống đang mất cả máu người.

Sài Gòn, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Huế…
Một buổi vàng tăng giá mấy lần
Loanh quanh giữa chiều ba mươi tết
Khổ nghèo vô giá cũng tăng nhanh!

Tàu xe, nhà trọ đầy băng cướp
Lục súc, trùm phe chém thẳng tay
Đời xúi đặt đơm người chân thực
Cuộc thế đông thêm kiếp ăn mày.

Sáng nay giữa phố Quy Nhơn lạ
Có người mẹ đói chết mất con!
Nghe đến thất thanh vàn ngọn cỏ
Hỡi ai lương thiện, có còn không?

Quy Nhơn năm đói 1987

                   Đỗ Hoàng
(còn nữa)



Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

Dại gì khai của

Đỗ Hoàng

DẠI GÌ KHAI CỦA

Mắc mớ điều chi chúng lại khai
Bạc vàng, lầu gác cả gia tài
Lô nhô biệt thự thêm tan nước
Lổ đổ điền trang tiếp hại ai
Tham nhũng xưa nay hơn vạn kế
Đút ngầm hôm sớm đến muôn bài
Có tiền, có bạc, tiên mua được
Hạ cánh an toàn, xin gút bai (good bye)!

Hà nội ngày 12 – 11- 2014
Đ - H


Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

Loạn tướng phong bao


Do Hoang đã thêm 2 ảnh mới.
1 phút · 
Đỗ Hoàng
LOẠN TƯỚNG PHONG BAO
Chống Pháp, Mỹ chỉ dăm bảy tướng
Mà bọn đế quốc đã chạy dài
Nay bình yên đờn ca, sáo xướng
Tướng phong bao đến cả nghìn ngài!
Hà nội, ngày 8 tháng 11 năm 2014

Thứ Năm, 6 tháng 11, 2014

Cõi lặng và cõi ồn?

Cõi lặng có được như cõi ồn?

Thứ năm - 06/11/2014 15:56
    

CÕI LẶNG VÀ CÕI ỒN


Đỗ Hoàng

  Tôi được Trung tâm văn hóa Đất Việt mời giảng dạy nhiều lớp bồi dưỡng kỹ năng sáng tác văn học. Học viên nhiều thành phần, nhiều lứa tuổi và nghề nghiệp. Đa số là có tuổi và có nhiều kinh nghiệm sống. Nhiều người giữ cương vị cao trong các ngành của Nhà nước.
 Những lần kiểm tra năng khiều tôi đều đưa những bài mẫu để học viên nhận xét sửa chữa phê bình, rút kinh nghiệm. Tôi cũng đưa bài CÕI LẶNG – Tên bài được tác giả Nguyễn Khoa Điềm lấy tên tập thơ – Tập thơ được giải thưởng văn học cô đô Huế cho học viên đọc thẩm định, đánh giá và ai có khả năng dịch ra thơ Việt thì cứ làm (Tất nhiên tôi phải dấu tên tác giả). Đa phần là không hiểu được và không thích lối viết này, có người dịch được và dịch tốt.Xin giới thiệu một vài tác giả để độc giả được biết.

Nguyên. bản:

Nguyễn Khoa Điềm

CÕI LẶNG

Cõi lặng. Anh soi thấy mặt mình
Với nỗi buồn trong sạch

Cõi lặng. Không tiếng động nào khác

Người ơi, tôi yêu người tha thiết
Tôi sống vì người , chết vì người

Cõi lặng. Tôi vượt qua ghềnh thác
Đến những miền trong xanh…

             Ngày 17.1.2003
                 Ng – Kh – Đ


Các học viên thẩm định (trích):
Học viên Kim Thư: - Bỏ thích
Học viên Công Thị Xuân Thủy – Không đạt
Học viên Thúy Lan – Không hợp, không thích
Học viên Nguyễn Lương Ái – Không thích


CÁC HỌC VIÊN DỊCH RA THƠ VIỆT

Học viên Việt Khoa dich ra lục bát:

CÕI LẶNG (*)

Cõi lặng là cõi lặng im
Không gian yên lặng con tim dạt dào
Cõi lặng – không tiếng động nào
Nhưng tình yêu cứ xôn xao cõi lòng

Anh yêu má đỏ môi hồng
Bắt anh nhảy xuống sông Hồng vẫn yêu

Trong xanh cõi lặng một chiều
Dẫu muôn nghìn thác vẫn liều vì em.

(*) Sửa thơ vẫn giữ nguyên ý – Việt Khoa

Học viên Bùi Văn Thuyết dịch ra thơ khổ bốn câu

CÕI LẶNG (dịch)

Cõi lặng anh soi bóng mình
Vui buồn trong sạch nghĩ lặng thinh
Cõi lặng một mình thêm tĩnh lặng
Thôi đừng lặng nữa đón bình minh

Người yêu tôi yêu người tha thiết
Sống với người cùng biết quý người
Cõi lặng vươn lên vượt ghềnh thác
Chào muôn miền xanh đất nước tôi!

                    B – V – Th

Học viên Phạm Thị Giáp dịch ra thơ Việt


CÕI LẶNG

Lặng im soi mặt mình
Vào nỗi buồn trong sạch

Sống và chết vì người
Mà mình yêu tha thiết

Vượt qua mọi thác ghềnh
Đến miền xanh tuyệt đẹp!

                     26 -3 -2014
                Phạm Thị Giáp
              Cầu Giấy – Hà Nội

                              Hà Nội, ngày 2 -11 – năm 2014
                                                  Đ - H