Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

Trung Quốc Đại Hán 100% (tiếp theo...)

Trung Quốc Đại Hán 100%

Thứ tư - 02/07/2014 16:01




     


TRUNG QUỐC ĐẠI HÁN 100%

(Nguyên bản tiếng Trung)
 
Đỗ Hoàng

Trước đây, hai nước Trung Quốc và Việt Nam đầy nghĩa tình anh em đồng chí, núi liền núi sông liền sông!
  Nhân dân hai nước đoàn kết đấu tranh chống đế quốc thắng lợi dưới ngọn cờ lãnh đạo của hai lãnh tụ Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh. Sau đó tự lực cánh sinh cố gắng không ngừng xây dựng đất nước của mỗi nước  cùng nhau tăng cường hợp tác hữu nghị đánh bại mọi âm mưu phá hoại hòa bình của kẻ địch.
  Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc đã giúp đỡ nhân dân Việt Nam hết sức, hết lòng!
  Trước năm 1955, Trung Quốc là một nước nông công nghiệp lạc hậu, dân đói nghèo; bị đế quốc xâm lược nên nên công nghệp không phát triển, sản phẩm công nghiệp không làm ra được và hầu như không có gì. Sau năm 1960, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chính phủ Trung Hoa và giúp đỡ Liên Xô (cũ) cộng với sự cố gắng của nhân dân Trung Quốc, Trung Quốc trở thành một nước công nghiệp phát triển . Trung Quốc tiến hành  xây dựng xã hội chủ nghĩa hiện đại hóa công nghiệp, nông nghiệp; có nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn: cơ khí công nghiệp, cơ khí nông nghiệp, giao thông vận tải đều trên đà thắng lợi mới!  Đặc biết là công nghiệp khoa học vũ trụ, Trung Quốc đã phóng thành công các tàu Thần Châu 5 đến Thần Châu 10 đưa người vào vũ trụ trở về trái đất an toàn!
  Sau khi Trung Quốc gia nhập vào câu lạc bộ các quốc gia đưa người vào vũ trụ, các quan chức Trung Quốc có ý thanh minh không chạy đua vũ trang, nhưng ý nghĩa của Thần Châu 10 thì không nói cũng biết rõ thâm ý quân sự của họ. Một số chuyên gia quân sự của Mỹ và Nhật Bản đưa ra kết luận về sự đe dọa của Trung Quốc ngày một tăng lên!
  Đối với Trung Quốc mà nói, việc phóng thành công Thần Châu 5, Thần Châu 8, Thần châu 10 không chỉ việc đưa người vào vũ trụ mà còn mang niềm tự hào và ước mơ của người Trung Quốc. Thần Châu 10 làm tăng thêm tiến trình đưa Trung Quốc trở thành nước có nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới!
 
    Nhưng tiếc thay, Trung Quốc đem sự thành công khoa học đỉnh cao vũ trụ vào cuộc chiến tranh giành, tranh chấp trên đất liền, trên biển với các nước lân cận
  Quân đội Trung Quốc gồm hải quân, không quân, lục quân tiến hành xâm lấn các lân bang: Nhật Bản, Việt nam, Philippin, Mà Lai, In đô nê sia…
  Đặt biệt nghiêm trọng, tháng 5 năm 2014, Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép Hải Dương 981 thâm nhập sâu vào thềm lục đại của Việt Nam. Tổng đội Hải Giám của trung Quốc và các loại tàu quân sự như: tàu chiến, tàu  rà mìn, tàu chiến chỉ huy, tàu đánh cá có vũ trang, tàu hải giám, hải cảnh… quấy nhiễu Biển Đông hải phận của Việt Nam!

  Đài phát thanh Trung Quốc, truyền hình Trung Quốc, Nhân dân nhật báo, Bộ ngoại giao, các phát ngôn viên của Bộ ngoại Trung Trung Quốc như Hồng Lỗi , Hoa Xuân Oánh …vu váo bỉ ổi là quân dân Việt Nam tấn công tàu cá của Trung Quốc. Thật là vô liêm sỉ!
 Hiện nay Trung Quốc không còn là một nước xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, không còn là Đảng Cộng sản, Trung Quốc là Đại Hán 100%!
    Việt Nam từ  trước đến nay không bao giờ dùng vũ lực, chỉ dùng các phương pháp đấu tranh hòa bình yêu cầu Trung Quốc triệt thoái giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi biển thềm lục địa của Việt Nam.






   Ủy Ban Giám sát Quốc tế, Tòa án Quốc tế và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam!
                                        Hà Nội, ngày 28 – 6 -2014
                                                     Đ - H

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

Trung Quốc - Đại Hán 100%

Trung Quốc Đại Hán 100%

Thứ tư - 02/07/2014 16:01

TRUNG QUỐC ĐẠI HÁN 100%
(Nguyên bản tiếng Trung)
 
Đỗ Hoàng

Trước đây, hai nước Trung Quốc và Việt Nam đầy nghĩa tình anh em đồng chí, núi liền núi sông liền sông!
  Nhân dân hai nước đoàn kết đấu tranh chống đế quốc thắng lợi dưới ngọn cờ lãnh đạo của hai lãnh tụ Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh. Sau đó tự lực cánh sinh cố gắng không ngừng xây dựng đất nước của mỗi nước  cùng nhau tăng cường hợp tác hữu nghị đánh bại mọi âm mưu phá hoại hòa bình của kẻ địch.
  Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc đã giúp đỡ nhân dân Việt Nam hết sức, hết lòng!
  Trước năm 1955, Trung Quốc là một nước nông công nghiệp lạc hậu, dân đói nghèo; bị đế quốc xâm lược nên nên công nghệp không phát triển, sản phẩm công nghiệp không làm ra được và hầu như không có gì. Sau năm 1960, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Chính phủ Trung Hoa và giúp đỡ Liên Xô (cũ) cộng với sự cố gắng của nhân dân Trung Quốc, Trung Quốc trở thành một nước công nghiệp phát triển . Trung Quốc tiến hành  xây dựng xã hội chủ nghĩa hiện đại hóa công nghiệp, nông nghiệp; có nhiều ngành công nghiệp mũi nhọn: cơ khí công nghiệp, cơ khí nông nghiệp, giao thông vận tải đều trên đà thắng lợi mới!  Đặc biết là công nghiệp khoa học vũ trụ, Trung Quốc đã phóng thành công các tàu Thần Châu 5 đến Thần Châu 10 đưa người vào vũ trụ trở về trái đất an toàn!
  Sau khi Trung Quốc gia nhập vào câu lạc bộ các quốc gia đưa người vào vũ trụ, các quan chức Trung Quốc có ý thanh minh không chạy đua vũ trang, nhưng ý nghĩa của Thần Châu 10 thì không nói cũng biết rõ thâm ý quân sự của họ. Một số chuyên gia quân sự của Mỹ và Nhật Bản đưa ra kết luận về sự đe dọa của Trung Quốc ngày một tăng lên!
  Đối với Trung Quốc mà nói, việc phóng thành công Thần Châu 5, Thần Châu 8, Thần châu 10 không chỉ việc đưa người vào vũ trụ mà còn mang niềm tự hào và ước mơ của người Trung Quốc. Thần Châu 10 làm tăng thêm tiến trình đưa Trung Quốc trở thành nước có nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới!
 
    Nhưng tiếc thay, Trung Quốc đem sự thành công khoa học đỉnh cao vũ trụ vào cuộc chiến tranh giành, tranh chấp trên đất liền, trên biển với các nước lân cận
  Quân đội Trung Quốc gồm hải quân, không quân, lục quân tiến hành xâm lấn các lân bang: Nhật Bản, Việt nam, Philippin, Mà Lai, In đô nê sia…
  Đặt biệt nghiêm trọng, tháng 5 năm 2014, Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép Hải Dương 981 thâm nhập sâu vào thềm lục đại của Việt Nam. Tổng đội Hải Giám của trung Quốc và các loại tàu quân sự như: tàu chiến, tàu  rà mìn, tàu chiến chỉ huy, tàu đánh cá có vũ trang, tàu hải giám, hải cảnh… quấy nhiễu Biển Đông hải phận của Việt Nam!

  Đài phát thanh Trung Quốc, truyền hình Trung Quốc, Nhân dân nhật báo, Bộ ngoại giao, các phát ngôn viên của Bộ ngoại Trung Trung Quốc như Hồng Lỗi , Hoa Xuân Oánh …vu váo bỉ ổi là quân dân Việt Nam tấn công tàu cá của Trung Quốc. Thật là vô liêm sỉ!
 Hiện nay Trung Quốc không còn là một nước xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, không còn là Đảng Cộng sản, Trung Quốc là Đại Hán 100%!
    Việt Nam từ  trước đến nay không bao giờ dùng vũ lực, chỉ dùng các phương pháp đấu tranh hòa bình yêu cầu Trung Quốc triệt thoái giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi biển thềm lục địa của Việt Nam.






   Ủy Ban Giám sát Quốc tế, Tòa án Quốc tế và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Việt Nam!
                                        Hà Nội, ngày 28 – 6 -2014
                                                     Đ - H

Bài "Ở góc phố Tràng Thi" của Trúc Thông không phải Thơ!

 “Ở GÓC PHỐ TRÀNG THI” CỦA TRÚC THÔNG KHÔNG PHẢI THƠ (1)
 

                     ĐAU CHỮ KHÔNG THỂ THÀNH THI SỸ
 

                                                                           Đỗ Hoàng
 
           Ở Đài Tiếng nói Việt Nam trước đây có hai nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi và Trúc Thông. Anh em thường nói đùa, một người đau chữ, một người đau đời.  Nguyễn Bùi Vợi đau đáu quê nhà viết theo thể truyền thống mang đậm chất Xứ Nghệ, khu Bốn; Trúc Thông trước cũng viết theo thể truyền thống nhưng sau đó ông đoạn tuyệt lối thơ cũ tìm cách đổi mới cố đẽo gọt chữ nghĩa muốn mong làm một cuộc cách tân lớn thơ Việt. Nhưng than ôi! Ông biến thơ từ một người có da có thịt trở ra một khung xương méo mó, chỗ có xương, chỗ toàn đất sét nên không ra hình thù gì cả:
“Điêu trác tự thị văn chương bệnh
Kỳ hiểm vưu thương khí cốt đa”
(Cổ nhân)
(Đẽo gọt là bệnh của văn chương/Kỳ quái, tắc tỵ, bí hiểm thì hại đến hồn thơ)


      Nhà thơ Trúc Thông

Bài “Ở góc phố Tràng Thi” là một sự điển hình cho lối thơ tìm tòi đến nỗi phi  thơ ca của Trúc Thông.
Bài này từ cách đặt tựa đề đến lập tứ chọn từ, chọn ngữ, cách thể hiện đều không có tý gì gọi là thơ (!)
Tựa đề Ở góc phố Tràng Thi là quá rộng, nó không sát với nội dung bài viết. Vì ở góc phố Trang Thi có bao nhiêu là công sở, tư sở và cả dân du thử du thực lãng vàng ngày đêm nữa. Mà Thư viện Quốc gia tác giả đang nói đến thật sự là nằm trung tâm phố Tràng Thi rất đường bệ, rất khang trang. Trong văn chương đặt tựa đề hay đúng là bài văn đã đạt giá trị trên 50%. Đặt tựa đề như trên là hỏng 100%.
 Tiếp đến hai câu vào bài là hai câu không thơ và kém từ cách chọn chữ, lập ý. “Học làm sao hết chữ cũ trên đời”. Đúng là học là sao hết chữ trên đời. Nhưng ai lại gọi chữ cũ. Chữ làm sao cũ được? Trúc Thông muốn tìm một cách nói cho khác người cho lạ tai, hóa ra lại không khác người mà lại cũ hơn người. Trúc Thông cố làm mới nhưng nó không mới. Cũng như người con gái cố làm đẹp mà mình không đẹp thì làm sao làm đẹp được. Bản thân mình phải đẹp đã chứ!
“Người xấu duyên lặn vào trong
Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài”
(Ca dao)
 Tiếp câu “Sách chồng nên núi”. Câu này lại quá cũ kỷ, thừa ra. Đương nhiên sách của nhân loại thì chồng cao như núi rồi. Điều đó là điều hiển nhiên không cần nhà thơ Trúc Thông phát hiện. Trúc Thông đã không có phát hiện gì ở đây mà lại nói thừa ra. Người ta so với núi là những cái đau thương, cái giàu sang, cái vui, cái bi thảm  không bao giờ như núi nhưng gần như núi mới tạo ra ấn tượng mạnh, có sức liên tưởng lan xa:
-          Xương chất cao như núi
-          Xương chất thành núi
-          Máu chảy thành sông!
-          Vàng chất cao như núi
“Xanh như ngọc thời gian ta đã uống” là một câu nói của nhưng eng, những ả 8x, 9x đong đưa làm duyên làm dáng không phải lối. Câu viết cho có ảo huyền cho có siêu thực nhưng nó là một câu viết rất vô duyên!
 Tiếp sau là các câu viết vô duyên trơn tuột nối theo như thế:
“đuổi theo những mốt
tuột bao bậc thầy
muốn nắm tay ta...”

Tác giả lại dùng từ nửa Anh, nửa Việt: “hotel mười mấy lầu xanh đỏ”. Sao lại viết nguyên từ tiếng Anh hầu theo như vậy? Chữ Việt có kia mà: Lều nghỉ, nhà nghỉ, từ Hán việt hóa như: Khách sạn có phải dễ đọc, dễ nhớ hơn không? Ngay cả từ  Ô - ten tiếng Pháp thì cũng có nhiều người Việt biết hơn là từ hotet.
Câu kết là câu rất phản cảm, nghe nó thô lậu thế nào nhất là nói lái người miền Trung đu nặng: “đu vào bác mấy đời con cháu”. Tìm tòi gì mà quái gỡ như thế này? Câu nói bộ này trong khẩu ngữ nghe đã chối tai đừng nói đưa nó vào thơ mà lại làm câu kết.
  Nhà thơ Trúc Thông rất cố gắng tìm tòi, tự bứt phá mình nhưng:
“Thiên nhai vô bờ
Hồi đầu ngưỡng ngạn”
(Chân trời mênh mông
Ngoảnh lại đã gặp bờ)
Và cuối cùng thì:
“Hòn đá bên đường thành bại
Mỉm cười tay trắng đời trai”
  Người ta chỉ nhớ bài thơ lục bát “Bờ sông vẫn gió” của Trúc Thông và chỉ có nhớ một câu:
“ Bờ sông vẫn gió người không thấy về”.
  Thế cũng đã an ủi lắm rồi!

Hà Nội, ngày 2 – 7 -2014
Đ  H
(1) Bài in trên báo Văn nghệ tháng 6 - năm 2014


Những nhà  Đau chữ  giả vờ; cố làm đau chữ!



Dương Tường



Thi Hoàng



Thanh Tùng



Lê Đạt

Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014

Thơ chống giặc nội, ngoại xâm (tiếp theo...)

Thơ chống giặc nội ngoại xâm (tiếp theo...)

Thứ ba - 24/06/2014 11:46
THƠ CHỐNG GIẶC NỘI NGOẠI XÂM (Tiếp theo ***1
 
  Đỗ Hoàng


      IM RÁO

Hết tiểu cáo rồi lại đến đại cáo
Nhưng có lão gian nào dám ra khai báo.
Đêm ngày lo tấu tán vàng kho
Trước công luận tất thảy đều im ráo!

Hà Nội, ngày 20 – 6 – 2014

        IM RE
Dao búa côn quyền chúng luôn đe
Dân đen cùng khổ dám ho he
Trống mõ thâu đêm hăm với dọa
Giặc vào tận cửa lại im re!

Hà Nội, ngày 20 – 6 – 2014

NGÀY GÁI ĐIẾM

365 ngày, ngày nào cũng kỷ niệm
Nhưng chỉ có một ngày rất hiếm
Đến nay có hơn vạn ca ve
Mà  không có ngày nào dành cho gái điếm!

Hà Nội, ngày 20 – 6 -2014


               ANH HÙNG ĐÁNH GIẶC

Cổ chí kim chỉ có anh hùng đánh giặc
Bọn gian quan bao giờ cũng vắng mặt
Nhưng khi yên bình mà coi
Chúng đến nhiều hơn ruồi liếm mật!

Hà Nội, ngày 20- 6 -2024

  
CÓ TỘI VỚI LỊCH SỬ

Tổ tiên dặn : Không để mất một  tấc đất
Có xương máu ông cha ta nghìn đời
Nhưng chúng vẫn để cho kẻ thù chiếm mất
Trước lịch sử vẫn nhởn nhơ rong chơi!

Hà Nội, ngày 21 – 6 – 2014

CHO VÀO LỬA

Giặc đã vào biển Đông tận cửa
Mà lũ tham vẫn chia lô, tậu biệt thự
Và lo con cháu ra nước ngoài
Thật đáng cho chúng vào lửa.

Hà Nội, ngày 21- 6 -2014

TỘI ĐEM NƯỚNG

Ăn tiền thuế dân viết văn lên hàng tướng tá
Mà viết ra toàn tắc tỵ, vô lối, chơi khăm nặng mùi có rả.
Những kẻ kia phải tự mình luận tội của mình
Có đáng cho thân vào lả!

Hà Nội ngày 21 – 6 – 2014
 


TƯỚNG Ở ĐÂU?

Tàu giặc đêm ngày vây bủa
Chúng giơ cao vói, giơ cao búa
Tướng năm sao, tướng bảy sao đâu rồi?
Sao chắng thấy ông nào mang gươm, cưỡi ngựa!

Hà Nội ngày 21- 6 -2014

NGÃ GỤC


Đất nước như cây gỗ mục
Mà lũ gian quan vẫn đêm ngày đêm đang đục
Nếu không chóng thì chầy
Giang sơn này một lúc thì cũng gục!

Hà Nội, ngày 22 – 6 -2014

RAO GIẢNG

Chúng luôn luôn rao giảng đạo đức
Lời lời bôi nước hoa thơm phức
Nhưng bát cơm nông phu để ở nào
 Như chuột, chúng cũng tìm cách để xực!

Hà Nội, ngày 22- 6 - 2014

LÁI SÚNG

Tàu và Á châu đang độ đụng
Sẽ có kẻ phát lên giàu khủng
Máu dân lành trái đất lại đổ ra
Để làm mồi cho bọn lái súng!

Hà Nội, ngày 22 – 6 -2014

 XUẤT HIỆN

Đố ai tìm ra được con cháu quan tham nào ngoài cuộc chiến?
Mặc cho dân đen đánh nhau đỏ bẫm máu biển
Mốt mai hòa bình mà thử xem
Chúng lại về trên ngôi cao phản biện!

Hà Nội, ngày 22 – 6 -2014



XEM LỤC LẠC VÀNG

Xem mục Ti vi Lục lạc vàng
Lại thấy quê nhà quá  tan hoang
Dân tình đói khổ sao nhiều thế?
Còn phải phơi hình giữa tóc tang!
 





Hà Nội, ngày 23 – 6 – 2014



VUA PHẢI KÊU

Đến bậc vua rồi còn phải kêu
Gian quan vô lại phát ra nhiều.
Nhìn ngoài ruộng lúa sâu bò đám,
Tất thảy hoa màu chỉ có tiêu!

Hà Nội, ngày 24 – 6 – 2014


KÍNH ĐẠI TƯỚNG (*)

Có ông thì bọn lục lâm không dám máy mó
Đại tướng mất đi, giặc bắt đầu dòm ngó
Nhân dân thương tiếc vị anh hùng
Trời đất hôm nào sao trăng cũng lệ rỏ!

Hà Nội 24 – 6 -2014


KÍNH ĐẠI TƯỚNG (**)

 Đại tướng như Lý Quảng nếu còn sống
Giặc Hung Nô không dám ra khơi, vào lộng
Tàu Madoc Mỹ còn bị ta đánh chìm
Thá gì mấy cái thuyền nan Tàu cộng!

Hà Nội, ngày 24 – 6 – 2014



QUAN XÃ (***…)

Bây giờ có thêm nhiều loài quan xã
Mặt mũi y  những bầy xỏ lá
Lý trưởng, chánh tổng xưa cũng vái dài.
Chúng gian thâm hơn những phường ác bá!

Hà Nội, ngày 24 – 6 -2014

QUAY LẠI VẠCH XUẤT  PHÁT

Dân đen thì một cổ mười tròng
Ruộng đất, rẫy nương cũng đặt vòng.
Xưa khổ đói thì nay đói khổ.
Chạy hết đường quay lại vạch số không!

Hà Nội, ngày 24 – 6 -2104
 

Thứ Năm, 19 tháng 6, 2014

Thơ chống giặc nội ngoại xâm

Thơ chống giặc nội, ngoại xâm

Thứ năm - 19/06/2014 14:15

   Đỗ Hoàng

THƠ CHỐNG GIẶC NỘI XÂM VÀ NGOẠI XÂM


TÀU Ô BỊ PHANG

Thập kỷ 60 thế kỷ trước, Tàu đánh Ấn độ tình hình rất căng thẳng
Sau đó đánh Liên Xô ở biên gới cũng không thể thắng
Gây hấn với Nhật Bản chẳng được điều gì
Nắm 1979 chiến tranh biên giới Việt Nam thì bị phang cho què cẳng!

Hà Nội, ngày 7- 6 – 2014

GIAN THƯƠNG – QUAN LẠI
Gian thương thường cấu kết với quan lại
Chúng rút ruột của công thì chúa Chỗm cũng phải vái
Những nước độc tài bao giờ cũng thế mà thôi
Bọn ấy sẽ làm cho quốc gia đại bại!

Hà Nội, ngày 7 – 6 – 2014

PHƯỜNG ĂN CỦA ĐÚT

Lồ lộ mặt phường ăn của đút
Như vòi rồng của tàu Trung Quốc đang hút
Máu lân bang và máu dân lành
Tại họa chúng gây ra còn hơn bão lụt!

Hà Nội, ngày `12- 6 – 2014

TÀU Ô SANG

Xưa nay đều xảy ra như thế trên đất Việt
Khi bọn quan tham làm cho Tổ quốc khánh kiệt
Khi trong nước chính sự phiền hà.
Là đám Tàu Ô đưa quân sang vơ vét!

Hà Nội, ngày 12 – 6 – 2014

VỮNG BÀN THẠCH

Chống giặc ngoại xâm dề hơn chống quạn lại ngày đêm đục khoét
Đứa gặm đất của dân, đứa thì tìm cách thụt két
Quốc gia nào diệt được loại này
Thì giang sơn vững như bàn thạch!

Hà nội, ngày 12 - 6 – 2014

MẤT GIANG SƠN

Tất cả những bờ xôi ruộng mật
Đã lọt vào tay những trùm chúa đất
Chúng đều là những đứa cướp không của dân
Giang sơn này chưa biết lúc nào sẽ mất!

Hà Nội, ngày 12 – 6 -2014

VIỆC ÍT THẤY

Chẳng thấy vị quan tham nào trả lại của đút
Dù đó là hủ nhút
Cho nên cả thế gian nước mắt đầy
Đến trời cao kia rồi cũng bị ngập lụt!

Hà Nội, ngày 12 – 6 – 2014

NÓI MỘT ĐẰNG LÀM MỘT NẺO

Bọn quan tham nói mười nhưng không làm được một
Chúng nói xuôi nhưng toàn làm ngược
Cuối cùng chỉ chết dân đen
Họ bị lột da như con chẫu chuộc!

Hà Nội, ngày 12 – 6 - 2014

ĐỪNG NGHE QUAN THAM

Đừng nghe bọn quan tham chúng nói
Chúng nói thì vô cùng giỏi
Đến như Gơben cũng tôn chúng bậc thầy
Còn chúng làm thì không việc gì là không trọng tội!

Hà Nội ,ngày 12 – 6 -2014

CHƯA TỪNG THẤY

Chúng đút tiền để đừng đi lính
Chứ chưa từng thấy chúng đút tiền để  được cầm súng
Biển Đông đang đỏ máu hàng ngày
Nhưng trùng khơi chưa thấy mặt một viên quan tham nhũng!

Hà Nội, ngày 12 – 6 – 2014

NẠN QUAN THAM

Đất nước mà độ một vạn quan tham
Thế là đã đủ cho quốc gia điêu tàn
Nếu nước nào còn nhiều hơn nữa
Thì giặc vào không cần đánh cũng tan!

Hà Nội, ngày 12 – 6 -2014

MANH MÚNG

Tiền công chức lương không đủ sống
Từ xưa đến nay họ quay như chong chóng
Cán bộ cao thì bỗng lậu vào
Cán bộ cấp thấp thì chui rúc manh múng!

Hà Nội, ngày 13 – 6 – 2014

QUAN THAM NHŨNG (***)

Chúng không có cửa hàng, cửa hiệu
Cũng không có công trinh khoa học, phát minh lừng danh.
Mà chúng giàu nhất nhì thế gới
Thì chỉ có chúng ăn cướp của nhân dân!

Hà Nội, ngày 13 – 6 – 2014

LỜI KHUYÊN CỦA TỔNG THỐNG  Ô BA MA

Với sinh viên, tổng thống Ôbama có lần nhắc nhủ
Các bạn đừng nên nuôi ước mơ làm cầu thủ
Mà nên nuôi ước mơ làm nhà khoa học tài năng
Đó là lời khuyên vô cùng đầy đủ!

Hà Nội, ngày 14 -6 -2014

XỬ QUAN THAM

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan từng ca thán:
Bọn quan tham ăn của đút dân nghèo không biết chán.
Ăn tiền chống bão lụt, tiền thương binh liệt sỹ, trẻ mồ côi.
Chính bọn ấy nên đem pháp trường không cần xử án!

Hà Nội, ngày 14 – 6 – 2014

LẠI VÊ QUAN THAM

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng cũng phải thật kinh:
Tham nhũng là khuyết tật quyền lực bẩm sinh.
Chế độ nào, thời nào cũng có.
Vấn đè là phải đưa chúng vào luật tội hình!

Hà Nội, ngày 14 - 6 - 2014

LIÊN KÊT CHỐNG TÀU

Tàu muốn cướp Biển Đông và thế giới
Mộng xâm lăng đầy tội lỗi.
Các nước khối Asian phải biết đồng lòng
Thì giặc Hán không làm gì nổi!

Hà Nội, ngày 14 – 6 – 2014

MẶT QUAN THAM (***)

Lạ gì cái mặt lũ quan tham
Lời nói khác xa với việc làm
Của đút nhiều năm chất như núi
Giặc đến nhà rồi chúng vẫn còn ham!

Hà Nội, ngày 14 – 6 – 2014

MẶT QUAN THAM (****)

Có khác gì đâu mặt quan tham
Chúng vừa nhìn dọc, lại nhìn ngang.
Kho đụn, công quyền đâu sơ hở,
Chúng cố tìm cách cướp bạc vàng!

Hà Nội, ngày 14 – 6 – 2014

NHỚ VỊ XUYÊN NĂM XƯA

Chiến trường Vị Xuyên năm xưa, bộ đội ta phản pháo
Quân Tàu xác xơ như lá vàng trước bão
Biến Đông hôm nay dậy sóng từng giờ
Nếu chúng đến đây vạn quân Tàu mất gáo.

Hà Nội, ngày 14 – 6 – 2014


QUAN THANH TRA

Quan Thanh tra há miệng mắc quai
Thử hỏi ai cho mình ngồi lên ngai?
Thanh tra chỉ đánh mấy con rệp
Bao nhiêu năm im re không dám động đến các Ngài!

Hà Nội, ngày 14 – 6 – 2014

DƯỚI TRẦN KIA

Ở dưới trần kia một bầy quan lớn.
Bụng to, mắt híp, tham như lợn
Bao Công nhọc lòng phải tìm đâu
Nên gọi Triển Chiêu đến tóm!

Hà Nội, ngày 14 – 6 – 2014

OAI THƯỢNG ĐẾ

Thượng Đế đã bao nhiêu lần ra sấm sét
Kể cả kêu gào, kể cả gầm thét
Nhưng đám gian quan ở dưới trần,
Chúng vẫn sống nhăn răng, không thằng nào chết!

Hà Nội, ngày 14 – 6 -2014

NGHỊ GẬT HỌP

Một nghị gật họp mất mấy lượng vàng.
Cho chúng vào Nam ra bắc thăm thú tiêu hoang
Họp đi họp lại nhiều như thế?
Thử hỏi còn gì cái nước Nam!

Hà Nội, ngày 14 – 6 - 2014


LOẠN HỌP

Đi họp từ khi chưa mọc râu
Họp xong nhìn lại bạc trơ đầu.
Trái đất mà họp nhiều như thế.
Chắc chắn rồi ra sập địa cầu!

Hà Nội, ngày 14 – 6 – 2014

HẰNG HÀ VÔ SỐ
Quan tham nhũng từ xã đến huyện nhiều như cát biển
Từ tỉnh đến trung ương lại nhiều hơn kiến
Sản phẩm của chế độ độc tài
Vì thế nên nhiều quốc gia dễ dàng tan biến!

Hà Nội, ngày 14 – 6 - 2014

HIẾM QUAN THANH LIÊM

Quan thanh liêm đời nay hiếm như dấu chân người trong sa mạc
Nên nhìn đâu cũng thấy dân tình nhớn nhác
Đất nước nào để cho chúng hoành hành.
Thì sớm muộn gì thì quốc gia cũng tan tác!

Hà Nội, ngày 14 – 6 – 2014

BỌN GƠBEN

Bọn Gơ ben đời nào cũng leo lẻo
Mồm miệng của chũng vô cùng tuyệt khéo.
Nhưng thần dân đừng có bao giờ tin
Rằng chúng không bao giờ  biết đéo!

Hà Nội, ngày 15 – 6 – 2014

NHẬT VÀ TÀU

Nhật như là con hổ
 Tàu như là con voi
Chúng vật nhau xuống hố
Thằng nào  rồi cũng toi !

Hà Nội, ngày 16 – 6 - 2014

QUAN THAM –  THƯƠNG GIAN

Bọn gian thương thường cấu kết với quan lại
Nên chúng làm việc thất đức chẳng ngại
Mặc cho dân đen lầm than.
Đứng dưới trần cứ tha hồ van vái!

Hà Nội, ngày 16 – 6 – 2014

I RĂNG, I RẮC

Gã Một (I) răng và gã Một (I) rắc
Trong sa mạc họ là loài độc sắc.
Thế mà chi vì một miếng dầu ăn
Hai quốc gia cam tâm làm giặc !

Hà Nội, ngày 16 – 6 – v2014

HƯU MUỘN, HƯU SỚM

Các quan ngồi chơi hưởng lương cao
Trăm tuổi cũng chưa muốn thoái trào
Công nhân trực tiếp chui bụi khói
Muốn sớm về hưu đỡ cuốc cào !

Hà Nội, ngày 16 – 6 – 2014

LIÊN KẾT ĐÁNH TÀU

Tàu như con bọ ngựa mọc cánh non là háu đá
Chúng đá lân bang và đá tất cả.
Các quốc gia nhỏ yếu phải đồng lòng
Thì thằng không lồ chân đất kia sẽ rã !

Hà Nội, ngày 17 – 6 - 2014-06-19


TÀU XÁC PHƠI

Xưa này Tàu vẫn thế
Hay lấy thịt đè người
Nước Việt nhiều mưu kế
Đại Hán sẽ xác phơi !

Hà Nội, ngày 17 – 6 – 2014

Ô DANH

Tàu là một nước lớn
Vu khống không ngượng mồm
Chẳng khác gì trâu lợn
Còn ô danh nào hơn !

Hà Nội, ngày 17 – 6 – 2014

DÁNH TAN

Việt Nam đã thắng Mỹ
Nếu diệt được quan tham
Tên giặc nào cũng thế
Bước vào là đánh tan !

Hà Nội, ngày 17 – 6 – 2014

LÒNG DÂN LY TÁN

Trong nước lòng dân rất ly tán
Trước bọn quan tham vơ vét bạc vàng tẩu tán.
Có cách gì kết lại lòng dân ?
Để chống quân Tàu đông gấp vạn !

Hà Nội ,ngày 17 – 6 – 2014

DÂN TANG THƯƠNG

Dân tình đã đổ hết máu xương
Để cho chúng ngôi cao đế vương
Thế mà chúng vẫn ngồi đục khoét
Giặc chúng vào thì tan giang sơn !

Hà Nội, ngày 18 – 6 – 2014

MẶT QUAN THAM (*****)

Cứ nhìn cái mặt lũ quan tham
Trông chúng đứa nào cũng rất gian
Và tâm địa mưu mô đầy xảo quyệt
Không ăn cắp bạc cũng cắp vàng!

Hà Nội, ngày 18 – 6 - 2014
 

Thứ Tư, 18 tháng 6, 2014

Tìm hiểu Tiền Dưỡng liêm

Tiền dưỡng liêm
 
  Tiền dưỡng liêm là khoản tiền do nhà nước thời Nguyễn cấp thêm ngoài lương bổng để nuôi lòng liêm khiết của quan lại. Tùy theo từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà mỗi triều đại có mức độ tiền dưỡng liêm khác nhau.
Lịch sử
  

Lương các quan chức ngày xưa thường không nhiều. Như trường hợp ông Lương Đắc Bằng làm đến thượng thư mà con là Lương Hữu Khánh còn phải đi cày thuê như tá điền để có đủ ăn.



Khái niệm “tiền dưỡng liêm” chính thức được đặt ra dưới thời nhà Lý và sau này nhấn mạnh trong thời Lê sơ. Vua Lý Thánh Tông, với chính sách ưu dụng đại thần, cho là : “Ân riêng mưa móc đượm nhuần / Đã tiền lại lúa ân cần dưỡng liêm”.Năm 1473, vua Lê Thánh Tông định chế độ bổng lộc cho quan lại trong kinh, ngoài trấn, và đãi ngộ người hiền tài hợp lý: “Đặt quan để làm việc, tất phải có lương bổng để nuôi, rồi sau mới bắt phải thanh liêm được. Bởi vì người làm quan có đầy đủ thì mới bắt đầu làm điều thiện. Mặt khác, triều đình có gia ơn cho người làm quan thì họ mới gia ơn cho dân. Do đó, để cho người làm quan giữ được đức thanh liêm thì lương bổng phải hậu và phải bảo đảm nuôi sống được họ” và “Những nơi ít việc và nơi rất ít việc, những chức thong thả và những chức rất thong thả, tiền bổng có khác nhau”.Cũng trong thời Hồng Đức, theo Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, vua cấp thêm cho các quan "Liêm lộc điền" (ruộng dưỡng liêm cho các quan), tức là cấp ruộng đất để tự làm cho đủ ăn, khỏi lấy tiền của dân, cũng như Luật Hồng Đức quy định hình phạt rất nghiêm khắc với hành vi tham nhũng, hối lộ. Năm 1498, vua Lê Hiến Tông đã ban lệnh “cấp tiền quý bổng liêm khiết” cho quan lại liêm chính như tiền thưởng thêm.
Đối tượng được hưởng
Vào thời Nguyễn, lệ cấp tiền dưỡng liêm chỉ được đặt ra trong những năm cuối triều Gia Long và lúc đầu chỉ để dành cho quan lại đứng đầu cấp phủhuyện như tri phủtri huyện. Vua Gia Long cho rằng "Phủ, huyện ở gần nhân dân, chức nhỏ nhưng việc nhiều, ngoài bổng chính ra, cấp thêm tiền gạo dưỡng liêm để tỏ đặc cách"[3]. Còn vua Minh Mạng thì nói rằng "tiền dưỡng liêm là để khuyến khích tiết tháo trong sạch"



Sau này, các chức như thự Tri phủ, thự Tri huyện, Tri châu, Đồng tri phủ cũng được cấp loại tiền này. Đặc biệt, vào đầu triều vua Tự Đức còn cấp tiền cho các phái viên thu thuế quan và từ khi có lệ cấp tiền bổng lộc cho quan lại tại kinh thành thì một số chức quan cấp tỉnh cũng được hưởng như Quản đạoÁn sátBố chánhTuần vũTổng đốc.
Mặc dù cùng là đối tượng được hưởng chế độ tiền dưỡng liêm nhưng tất cả đều là quan lại cấp địa phương. Quan chức thuộc bộ máy trung ương ở kinh thành đều không nằm trong chế độ ưu đãi này.
Chế độ tiền dưỡng liêm
Năm 1815 khoản dưỡng liêm của Tri phủ gồm 25 quan tiền, 25 phương gạo. Tri huyện thì 20 quan tiền, 20 phương gạo. Việc cấp tiền dưỡng liêm cho phủ, huyện cũng chia thành 4 kỳ trong năm để cấp phát cùng chế độ lương bổng.
Từ năm 1831, vua Minh Mạng chia các phủ, huyện, châu cả nước làm 4 hạng là tối yếu khuyết (tối quan trọng), yếu khuyết (quan trọng), trung khuyết (bình thường), giản khuyết (ít việc). Tùy theo 4 hạng trên mà mức độ tiền dưỡng liêm khác nhau. Đầu năm 1840, lệ tiền, gạo dưỡng liêm có thay đổi, khoản dưỡng liêm chỉ cấp bằng tiền, số gạo kèm theo cũng được đổi ra thành tiền. Quy chế nhận tiền dưỡng liêm ngày càng chặt chẽ : ban đầu được cấp phát theo hàng quý, quan mới đến trấn nhậm dù vào tháng giữa quý vẫn được cấp cả quý, quan thuyên chuyển đi nơi khác dù vào tháng đầu quý cũng không được trả lại tiền đã nhận ở quý đó. Về sau thì quan đến trấn nhậm vào tháng đầu quý thì cấp cả quý, đến tháng giữa thì cấp nửa quý, tháng cuối thì miễn cấp. Quan thuyên chuyển vào tháng đầu quý thì phải trả lại cả quý, vào tháng giữa quý thì trả lại một nửa, vào tháng cuối quý thì không cần phải trả lại.
Giá trị thực tế của khoản tiền dưỡng liêm dưới triều Gia Long, Minh Mạng rất lớn, tương đương với số lương bổng họ được nhận thực hàng tháng. Điều này có ý nghĩa rất lớn về vật chất vì quan lại có thể dựa vào tiền dưỡng liêm để đủ tiền sinh sống và bảo vệ tính thanh liêm cần thiết cho mình. Tiền dưỡng liêm thật sự là một biện pháp tương đối hữu hiệu trong việc ngăn ngừa tệ nạn tham nhũngtrong hàng ngũ quan lại triều Nguyễn.

Đỗ Hoàng (ST)

Thơ Đỗ Hoàng

GƯƠNG LIÊM KHIÊT
 

Gương sáng như ông 
mãi rạng ngời
Lo dân, lo nước phút nào ngời
Vua ban lộc thánh thì xin trả
Chúa phát dưỡng liêm cũng cáo thôi.
Mỏi mắt thâu đêm lo việc nước
Đau đầu suốt tháng nghĩ cơ trời!
Công thần liêm khiết xưa nay hiếm.
Sánh được như ông có mấy người?

Quảng vào năm 1990

Đ - H
 

Bài thơ cũ của Nguyễn Bình Phương - Phi thơ ca

Bài thơ cũ của Nguyễn Bình Phương - Không phải thơ

Thứ tư - 18/06/2014 15:23
BÀI THƠ CŨ – NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG – MỘT BÀI VÔ LỐI KHÔNG PHẢI THƠ (!)
 
      Đỗ Hoàng
 

Nguyên văn:

Ta sinh ra cô đơn
giờ cô đơn đã cũ
ta trưởng thành bởi sợ hãi
sợ hãi cũng cũ rồi

Này tôi một khuôn mặt công chức
đứng nhìn
những cuộc họp rạc rài
tiêu ma bao ý tưởng
xa xa trải một mùa bệnh hoạn
bệnh hoạn cũng cũ rồi

Số mệnh già như trời
lọm khọm đi giữa công viên đầy nắng
nắng có gì hay hớm nữa đâu

Đèn bật sáng không còn nơi ẩn náu
đám @ đánh võng như bay
thời gian ngã, máu tuôn, thời gian không thể dậy
tốc độ ư?
thì cũng cũ lắm rồi

Những ngày dài, thật dài
ngồi kín đáo trong phòng tưởng tượng
sông Hồng đê mê hóa một nén hương
dẫn ý nghĩ vào nới chưa hề biết

Trong bóng râm lạnh lùng vang vang lời nhắc:
ta lớn lên bằng kiếm tìm
kiếm tìm giờ đã cũ

(1)   Bài in trên báo Văn nghệ số 24 ngày 14 - 6 – 2014

Những người làm thơ dù vụng dại, yếu kém, học vấn thấp…đều có thể tha thứ được. Nhưng cái bệnh giả dối, điệu đàng làm ra vẻ ta đầy là con người siêu nhân  mà trong trí não, con tim rỗng tuyếc thì không thể nào tha thứ được. Nguyễn Bình Phương thuộc loại thứ hai!
  Bài thơ cũ không thể gọi là bài thơ, dù tác giả Nguyễn Bình Phương cố đeo khuyên vàng gọi nó là thơ(!) . Nó là một loại quái thai mà Nguyễn Bình Phương sính viết để làm phù thủy đánh lừa độc giả.

Cái gì trong bài vô lối này đều giả dối hết.
 Ta sinh ra cô đơn.  – Anh làm sao sinh ra cô đơn được?
- Ta trưởng thành bởi sợ hãi? Anh sợ hãi làm sao anh lớn lên được. Mẹ anh đẻ anh ra mà chó sói tru, cọp gầm thì mẹ anh lấy gì cho anh bú mà anh lớn lên?

Nguyễn Bình Phương muốn làm ra cho phi lý nhưng nó quái dị, kệch cởm, vô duyên!
Cô đơn, sợ hãi thử hỏi trên đời này có bao giờ cũ?
Nói một cách lấy được, nói ra cho vẻ mới mà nó chẳng có gì mới, lại ngỡ như lời nói của kẻ tâm thần!

  Anh cũng lấy vợ, sinh con. Thằng con anh nên đsatj tên là Cô Đơn!
Anh sinh ra thằng con anh nó cô đơn nên anh phải chơi đánh trận giả với nó chứ gì? Nó đã chắc gì cô đơn? Nó còn mẹ nó, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cậu dì, làng xóm nữa chứ?

Này tôi một khuôn mặt công chức? Anh là một người lính tẩy, trưởng thành từ lính lên sỹ quan, mà sỹ quan cao cấp. Sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam là cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động trong lĩnh vực quân sự. Sĩ quan là lực lượng nòng cốt để xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Anh có phải công chức đâu?
Công chức theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước[1], đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu nhập từ ngân sách nhà nước[2]
Viết lộn xa, lộn xộn, chữ nghĩa cũ rich, làm dáng:
-         Số mệnh già như trời
-         Lọm khọm đí giữa công viên đầy nắng.
-         Sông Hồng đê mê hóa một nén hương…
Nguyễn Bình Phương cũng sính dùng âm Hán - Việt chưa Việt hóa. Dùng một mình hoặc lẻ loi thuần Việt có phải được hơn không?
 Cách đẩy gần 2 000 năm Trần Từ Ngang không nói một từ nào cô đơn mà người đọc thấy sự lẻ loi, một mình tê tái biết nhường nào:
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thương nhiên nhi thế hạ

Trần Tử Ngang
Dịch nghĩa:

BÀI CA LÚC LÊN ĐÀI U CHÂU

Trước không thấy người xưa,

Sau chẳng thấy ai tới
Khấn trời đất mịt mờ,

Một mình lệ như xối!


Đỗ Hoàng dịch thơ

 Nói chung là không nên mất thì giờ với những bài Vô lối như thế này. Cái đáng trách là người viết đã tâm thần, người bình

nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm cũng không biết thơ ca là gì, thần kinh nốt. Tất cả chỉ làm tổn hại đến thẫm mỹ của độc giả!

Hà Nội, ngày 18 – 6 -2014
   Đ - H