Thứ Hai, 12 tháng 5, 2014

Thơ Việt Nam sẵn sàng chiến đấu

Thơ Việt Nam sẵn sàng chiến đấu

Thứ hai - 12/05/2014 16:07

 
              Ảnh  minh hoa

Đỗ Hoàng

KHẨU AK CỦA TÔI

Khẩu AK này đồng đội trao tôi
Tôi đón nó bằng tình yêu chân thực
Khi ôm sùng ghì ngang trước ngực
Tôi hiểu ra lẽ sống đời mình!

Tronmg những ngày đất nước không bình yên
Buổi ra đi lòng náo nức
Tôi có cả niềm tin mơ ước
Lúc quàng khẩu súng qua vai!

Tôi biết quê hương, đồng đội nhìn tôi,
Nghe toàn thân nóng ran cùng súng
Muôn ánh mắt đều nhìn về một hướng
Phía bên kia cao điểm là thù!

*

Khẩu AK này đồng đội trao cho
Tôi hiểu giá từng viên đạn thép
Đồng chí của tôi có người đã khuất
Để tôi khẩu súng lành nguyên!

Ôi tất cả những gì quý mến yêu thương
Và biết bao cảm kích
Tôi biết không thể nào nói hêt
Niêm tin yêu đồng đội gửi cho mình.

Tôi nghĩ đời tôi như khẩu tiểu liên
Lòng căm giận biến thành viên đạn bắn
Cuộc dời tôi trên chiến hào nóng bỏng
Lúc quân thù chưa cút khỏi nơi đây.

Khẩu AK này đồng đội trao tôi
Tôi đón nó bằng tình yêu chân thực
Khi ôm súng ghì ngang trước ngực
Tôi hiểu ra lẽ sống đời mình!

Cao điểm 176  Biên giới Việt Lào năm  1972
Đ - H


               Ảnh minh họa

Tổ quốc ơi, chúng tôi sẵn sàng!

Đăng Bởi  -  
Tàu Cảnh sát biển của Việt Nam bị tàu Trung Quốc xịt vòi rồng - Ảnh: TL
Tàu Cảnh sát biển của Việt Nam bị tàu Trung Quốc xịt vòi rồng - Ảnh: TL
 
"Tôi ghét chiến tranh, nhưng tổ quốc cần tôi sẽ chiến đấu!"
Trước sự kiện Trung Quốc  ào ạt đưa tàu quân sự, máy bay chiến đấu cùng giàn khoan dầu xâm chiếm lãnh hải của VN, trên mạng cá nhân trào lên làn sóng phẫn nộ. Rất nhiều bạn trẻ trên facebook của mình tỏ thái độ cương quyết với hành động láo xược của quân xâm lược.
Hoa Nip, một người viết văn trẻ ở Vũng Tàu đã thay ảnh đại diện trang facebook của mình bằng lá cờ tổ quốc cùng lời kêu gọi: Đất nước đang cần những chí sĩ, chí sĩ ơi, lên đường!Nhà thơ Đoàn Minh Hằng trăn trở:
Tinh thần mạnh từ trong thế mạnh
Tổ quốc ơi ta mãi muốn tự hào
Bạn Ngô Thúy Nga tâm sự với mẹ:
Mẹ à, đứng trước thời cuộc có thể con lặng thinh
Không hô hào chửi quân này, đứa nọ
Không đao to búa lớn để chứng tỏ lòng mình
Nhưng khi đất nước chảy máu con thấy tim con nhức nhối
Khi các anh nằm xuống con bỗng thấy mình đau
Khi biển Đông dậy sóng con thấy lòng mình co thắt
Facebook Ngô Thúy Nga "Khi biển Đông dậy sóng con thấy lòng mình co thắt"
Người mẹ trẻ Ngô Thanh Vân tâm sự với con trai  vừa mới trào đời:
Ngày sinh con biển Đông dậy sóng
Con hãy làm Thánh Gióng
Tiếng nói đầu đời tiếng nói yêu thương.
Khi tổ quốc cần con hãy quên thân
Biến cuồng nộ máu căm hờn loang đỏ
Họa sĩ Nguyễn Mạnh Thắng: Tôi ghét chiến tranh, nhưng tổ quốc cần tôi sẽ chiến đấu. Bạn Cao Hoài  An viết:
Tôi đang nghe tổ quốc gọi tên mình
Bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa dội vào ghềnh đá
Sóng cuồn cuộn lên dáng hình đất nước
Một tấc biển cắt rời vạn tấc đớn đau

Đừng hỏi tôi là ai
Đừng hỏi bạn là ai
Tổ quốc bị cướp mất
Chẳng còn ai là ai!
Còn trên báo mạng Một Thế Giới sau thông tin Trung Quốc dùng tàu quân sự tấn công tàu cảnh sát biển của VN trên lãnh hải bất khả xâm phạm của VN ngay lập tức hàng trăm bình luận của bạn đọc từ khắp miền đất nước đã tỏ thái độ của mình. Hãy nghe tiếng nói hừng hực tâm huyết của tuổi trẻ nước nhà như tiếng đáp trả lời gọi hồn thiêng sông núi:
Nguyễn Tất Danh: Tổ quốc cần tôi sẵn sàng lên đường đánh đuổi bọn xâm lược Trung Quốc.
Ngân Hà: Tinh thần tự hào dân tộc. Tinh thần Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. VN đứng lên! VN anh hùng.
Trần Văn Đông: Lãnh thổ VN là xương máu của dân tộc VN, thanh niên chúng tôi sẵn sàng lên đường bảo vệ tổ quốc.
Phạm Văn Khanh: Chỉ cần chính phủ kêu gọi là chúng ta sẽ cho chúng thấy.
Nguyễn Hoàng Hiệp: Chúng tôi sẵn sàng chờ lệnh!
Nguyễn Trung Sơn: Trước sự hống hách của Trung Quốc, cháu sẵn sàng cầm súng chống giặc.
Lâm Thị Nhung: Tôi có con nhỏ gần 16 tháng tuổi, từ khi có con tôi làm bất cứ việc gì cũng cẩn trọng vì nghĩ mình có làm sao thì con mình khổ, nhưng vì Tổ quốc nếu được tôi cũng sẵn sàng hy sinh.
Lê Minh Quốc: Tôi sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng vì đất nước thân yêu.
Võ Thị Nguyệt: Chúng ta là người VN là đời sau của những anh hùng đi trước, chúng ta phải noi theo những tấm gương anh hùng.
Hồng Thơm: Chúng tôi sẵn sàng lên đường bất chấp tuổi tác!
Võ Thị Thảo: Dù già hay trẻ, dù gái hay trai, khi tổ quốc cần hãy sẵn sàng!
Và biết bao những tên tuổi nữa như Ngô Lê, Nguyễn Sỹ Huyền, Tống Đan, Hoàng Văn Hữu, Huỳnh Tấn Bình, Mai Ngọc, Nguyễn Trung Cương, Nguyễn Thị Năm, Lê Nam, Nguyễn Đức Toản, Phạm Văn Hiệp vv và vv….
Facebook Hoa Níp: "Đất nước đang cần những chí sĩ, chí sĩ ơi, lên đường!"
Và lúc này đang có làn sóng của nhiều người Việt không phân biệt chính kiến chính trị, tôn giáo, trong nước hay hải ngoại đang cho in trên các trang cá nhân của mình câu thơ hào hùng của những người anh hùng thời Lý chống quân xâm lược Trung Quốc:             

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Hoàng Thiên dĩ định tại Thiên thư
Như hà Bắc lỗ lai xâm phạm
Bạch nhận Thiên hành phá trúc dư
Dịch

Sông núi nước Nam, vua Nam ngự
Sách Trời định phận rõ non sông
Cớ sao giặc Bắc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!
Như lời nhắn nhủ quân xâm lược hãy nhớ lấy những bài học Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chi Lăng, Đống Đa thuở nào.
Xích xiềng nào ngăn được
Người yêu Tổ quốc mình
Xích xiềng nào ngăn được
Bầu trời xanh tự do
Bao tấc đất tổ tiên
Kẻ thù đang lấn chiếm
Chỉ những kẻ bán nước
Mới có thể ngồi yên
Đừng hỏi tôi là ai
Đừng hỏi bạn là ai
Tổ quốc bị cướp mất
Chẳng còn ai là ai!
Bài: Lưu Trọng Văn

 


Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Thế là liêm chính

Thế là liêm chính

Thứ bảy - 10/05/2014 14:25
          THẾ - LÀ - LIÊM – CHÍNH (1)
                   (Phiếm luận)
 
              Đỗ Hoàng

     Bây giờ nhiều đơn vị, nhiều tổ chức làm ăn nên, do đó họ lập ra các chung cư, nhà tập thể, khu ở riêng lấy tên đơn vị của họ như: khu tập thể Tocontap, Vinacop, Vina mex ,Vina sim, Liên minh HTX mua bán, Thương mai,  Xuất nhập khẩu, Comtimex…
   Ở Huế chúng tôi cũng có một khu nhà tập thế rất đặc biệt như vây. Khu ở ấy có tên : Thê – Là – Liêm – Chính.
  Nó mang tên các vị chức sắc ở đại phương. Ông Thế làm quản lý thuế, ông Là coi về trật tự, Liêm coi việc phân cấp nước, ông Chính coi việc Tổ chức. nhân sự.
   Trước các ông đều có nhà Nhà nước phân cho. Nhưng rồi ngày tháng đi qua, con các ông lơn lên không có nhà, họ nhường nhà cho con cái. Thế là lại tay trắng, lại homeles (ở thùng các tong). Nhà nước lại phân nhà cho các ông ấy. Lần này thì được phân đất phố lớn, mặt tiền ta tiên mặt. Khu nhà, khu đất thuộc loại nhất đắng điền trong xứ.
  Ở phố tôi có ông Bất làm nghề dạy học nghèo rớt mồng tơi. Trong nhà một vảy vàng còn không có, lấy đâu mà có nhà ba mặt phố, có lầu hai mặt tiền. Già như ông Bất biết thậm thụt làm ăn kiếm chút chức quyền thày thế ông Liêm trong xóm nhà trên thì hay biết biết mấy. Xóm nhà sẽ mang tên: Thê – Là – Bất – Chính thì thật hợp lòng trời!

Đ – H
(1) Bài đã in trên báo Giáo dục & Thời đại, báo Lao động – Xã hội năm 1993

Thơ Quảng Bình - Thời tuyến lửa - Thơ Vĩnh nguyên

Thơ Quảng Bình - Thời tuyến lửa - Thơ Vĩnh Nguyên

Thứ bảy - 10/05/2014 13:38

Thơ Quảng Bính đánh Mỹ - Thơ Vĩnh Nguyên

 Thơ Quảng Bình chống Mỹ có hai thế hệ (ở đây chỉ nói đến những nhà thơ sống , viết trưởng thành trên quê hương Quảng Bình.) Còn các nhà thơ quê Quảng Bình thì sống và viết cở khắp đất nước rất nhiều.
   Thệ hệ đàn anh là Nhà thơ Xuân Hoàng, Dương Tử Giang, Hải Bằng, Hà Nhật, Nguyễn Văn Dinh, …Họ là những người sáng lập Hội Văn nghệ Quảng Bình. Thế hệ thứ hai là Nhà thơ Trần Nhật Thu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Hoàng Vũ Thuật, Hải Kỳ, Văn Lợi, Vĩnh Nguyên (Vinh Nguyễn), Đỗ Hoàng. Họ là những hội viên kế tiếp có mặt trong thơ tuyển Quảng Bình năm 1964 – 1974 và Thơ tuyển Quảng Bình năm 1972. Những người sống và viết, trưởng thành – thành danh ngay trên quê hương!
 Thơ họ gắn cái chung với cái riêng. Trách nhiêm vụ công dân và trách nhiệm thi sỹ là một. Bây giờ đọc có thể có người không thích, nhưng một thời họ đã sống và viết như thế cùng dân tộc kháng chiến!
Xin giới thiệu nhà thơ Vĩnh Nguyên (Vinh Nguyễn)
vannghecuocsong.com

     Nhà thơ Vĩnh Nguyên


Vĩnh Nguyên



CÁC ANH ĐI THẮP BÌNH MINH

Các anh ra đi
Khi ánh chiều dọi đỏ
Khi cửa sông hun hút sương giăng
Tôi nhìn theo các anh
Bỗng thấy hoàng hôn xuống chậm
Lòng tôi trải theo bờ sóng tím
Mắt tìm về các anh
Lòng gọi không vang thành tiếng
Cho đến khi sóng nắng khuất dần

Cho đến khi đàn vạc kêu đêm
Nơi các anh đi qua
Cửa sông xòe hình cánh phểu
Nơi cái chết còn nấp náu...

Đêm nay tôi không sao chợp mắt
Nghĩ về các anh
Nghĩ người đi chẳng hề bịn rịn
Nghĩ về chiếc yếm áo sờn qua nắng mưa
Nghĩ cột nổ cách mạn tàu mấy mét?
Nghĩ ngày mai có thể nào chia cách?

Cửa biển sớm nay gió lồng lộng thổi
Các anh đi thắp bình minh trở lại!



NGỌN LỬA

Em ngủ
Quyển sách gối đầu nâng giấc em ngoan
Anh nhìn em ngủ
Đôi tay trần trắng trong

Tối nay em ngủ sớm
Anh bảo cả nhà đi đứng nhẹ nhàng
Thương em theo trường sơ tán
Thứ bảy chiều nay em mới đạp xe về

Nhưng em tôi không thể nào dậy nữa
Giặc Mỹ lẻn vào
Lúc hai giờ khuya
Đêm tháng tư êm mát đầu hè

Nhưng em tôi không thể nào dậy nữa
Ôi em tôi
           mới đây thôi
                         với đôi tay trần trắng trong màu sữa
Giờ biến thành màu than
Mái tóc em- mảng cỏ sém vàng

Em ngủ?
- Không! Em là ngọn lửa!



GIÁ KHÔNG CÓ LOẠT BOM NGÀY ẤY

Giá không có loạt bom ngày ấy
Thì đến nay có thể mẹ đương còn
Mẹ cuốc xới chăm nom vườn tược
Với đôi tay như lưỡi hái lưỡi liềm

Giá không có loạt bom ngày ấy
Ngôi nhà tranh cột táu chôn sâu
Mưa đâu dễ thác xô sập mái
Lũ mối ranh gặm nhắm cũng còn lâu

Giá không có loạt bom ngày ấy
Ngôi nhà mình ấm cúng biết bao
Tiếng trẻ khóc tiếng bà nựng cháu
Con dâu hiền chén nước miếng trầu trao

Giá không có loạt bom ngày ấy
Còn mẹ cho con được đỡ đần
Đời sống khó hàng ngày bao nỗi
Lo toan dồn từng sợi tóc hoa râm

Giá không có loạt bom ngày ấy.

 

       CẦU PHAO

Những tiếng động dồn dập như một trận công đồn
Sông uốn võng đỡ nhịp chuyển rung của sắt
Không phải bom gầm- Tiếng cầu phao trong đêm dạo nhạc!

Ôi chiếc cầu quê hương
Một sáng bom thù cắt nhịp
Chia đôi dòng sông...

Trên dòng sông
Những đôi tay trần cháy nắng
Những tảng ngực đè lên mặt sóng
Những tảng ngực kéo dài theo hình đất nước!

Từng đoàn xe rú ga vững chãi qua cầu
Anh qua cầu phao
Em qua cầu phao
Đất nước qua cầu phao
                                    đi vào tuyến một
Ta hiểu sức ta- Sung sức tự lâu rồi...

Xin chào o dân quân mắt sáng long lanh
Em là ngôi sao đẹp nhất
Đêm nay
              đứng thức
                               canh cầu!
                                                  12/1968


ĐÊM NÔ-EN

Đêm nô-en anh sống xa em
Nếu có Chúa lỗi đâu tại Chúa
Xẻ niềm riêng góp vào cơn bão lửa
Những ngày này cho ta lớn cao thêm

Đêm nô-en anh sống xa em
Nếu có Chúa lỗi đâu tại Chúa
Quân kính Chúa đang tâm phản Chúa
Mang đạn bom cát cứ phân miền

Đêm nô-en anh sống xa em
Nếu có Chúa lỗi đâu tại Chúa
Với điều này loài người biết rõ!

Đêm nô-en anh sống xa em
Đêm căm giận đạn lên nòng súng
Chúng ta xa nhau hai đầu chiến trận
Loạt đạn tìm thù sẽ nối niềm riêng
                                             Hà Nội, Noel 1972


NÔNG TRƯỜNG MÙA TRĂNG ANH TRỞ LẠI

Anh ăn với em một trái dâu đồi
Trái chín mùa trăng anh trở lại
Ba mươi tuổi anh vụng về biết mấy
Quả lăn tròn ướt tím lòng tay

Muốn nói cùng em sau bấy nhiêu ngày
Cho ta được một chiều thong thả
Chiều miền rừng nắng mềm như lụa
Một miền xanh sóng lá bờ mây

“Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây...”
Bởi bè bạn chưa về đông đủ
Hoa bông trang triền đồi cháy đỏ
Như nói bao điều về những ngày qua...

Đáy mắt em là bể biếc non xa
Anh nghĩ về mùa trăng bên thương bên nhớ
Trăng treo nhành khô trăng úa
Là mùa trăng bom lửa vùng rừng...

Đỉnh núi Đá Đen bom bạt ba phần
Ngôi miếu cổ tụt đi góc mái
Vệt xe lăn cỏ khâu chưa kín lối
Dòng suối Sen thắm một đường hào...

“Kể chi anh những ngày ấy gian lao...”
Lời em nói một làn gió tím
Ngô ngã quả phơi dâu đồi thì chín
Cho nắng chiều bịn rịn những lùm cây...

 

HẢI ÂU

Mỏng manh như chiếc lá thôi
Mà không rớt giữa cao vời- cánh chim
Chim bay đất mở rộng thêm
Cho dài hoa nắng về miền quê xa
Bao ngày đất nổi phong ba
Bao ngày đạn bắn chuyền qua bao ngày
Hải Âu dâng sóng lên mây
Tiếng thanh như lọc chất đầy không gian!
                                
           Biển Đông Bắc,1971
                   V - Ng

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

Thượng liêm chính, hạ bất loạn - Tham nhũng chống được

Thượng liêm chính, hạ bất loạn - Chống được tham nhũng

Thứ tư - 07/05/2014 12:04


     

 
                TBT Nguyễn Phú Trọng

 THỜI SỰ BÌNH LUẬN

THƯỢNG LIÊM CHÍNH,  HẠ BẤT LOẠN  - CHỐNG ĐƯỢC THAM NHŨNG

 
Thánh Không Thán

   Vừa qua, tối 5 - 5 – 2014, chương trình VTV1 Việt Nam phát bài nói nói chuyện của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị chống tham nhũng Trung ương rất ấn tượng.
    Ông nói: “Tham nhũng là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực. Tham nhũng thời nào cũng có, chế độ nào cũng có. Nó biểu hiện ít hay nhiều mà thôi!... Chúng ta phải có sự kiểm soát và đãi ngộ để tránh tham nhũng cho cán bộ có chức, có quyền.”
  Ngày trước đó, ông cũng đã từng nói: “Tham nhũng như ghẻ lở tràn lan khắp cơ thể, đụng vào chỗ nào cũng có”. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng nói: “Tham nhũng không còn là một con sâu mà là cả bầy sâu”. Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan : “Họ ăn chặn của dân không từ một thứ gì (tiền trợ cấp liệt sỹ, tiền tuất, tiền cứu trợ người nghèo đói) – (Báo Người cao tuổi – cuối tuần thứ 6 ngày 4/4/2014).
 Tham nhũng đã trở thành quốc nạn!
 Tham nhũng dịch ra tiếng Việt là ăn của đút, tham lam của công, của tư vô độ. Ăn của đút chí có kẻ có quyền, có chức, Ngày xưa là quan lại, ngày nay là cán bộ có chức có quyền thoái hóa, biến chất
  Chế độ nào cũng chống tham nhũng. Không chống tham nhũng thì chế độ ấy sẽ tiêu vong.
  Tháng 6 năm 1975, mới giải phóng Đà Nắng, chúng tôi vào một nhà dân thấy trên tường có ghi dòng chữ lớn: “Chống tham nhũng như chống cộng sản”. Chế độ Việt Nam Cộng hòa là một chế độ tham nhũng cùng cực.
 Cha ông ta ngày xưa coi chống tham nhũng là quốc sách. Muốn quan lại bớt tham nhũng vua chúa đặt ra tiền “ dưỡng liêm” và “lộc thánh” để bù vào lương cho các quan nhằm tránh cho quan ăn của đút. Bỡi ăn của đút thì không làm việc công tâm và nghiêm minh được.
“Chúa phát dưỡng liêm thì cáo trả
Vua ban lộc thánh cũng xin thôi”
(Gương liêm khiết – Đỗ Hoàng)
  Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang làm gương công khai tài chính, tài sản của mình, cán bộ cấp dưới tất răm rắp làm theo. Ai tham nhũng sẽ lộ ra. Cả 90 triệu đồng bào ủng hộ hai vị nguyên thủ quốc gia thì chắc rằng việc chống tham nhũng do Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa phát động nhất định thành công!

Hà Nội, ngày 7-5-2014
T  - Kh - Th

 

Thơ một lứa bên trời Quảng Bình - Thơ Quảng Bình đánh Mỹ - Thơ Hà Nhật 


 Thơ Quảng Bình chống Mỹ có hai thế hệ (ở đây chỉ nói đến những nhà thơ sống , viết trưởng thành trên quê hương Quảng Bình.) Còn các nhà thơ quê Quảng Bình thì sống và viết cở khắp đất nước rất nhiều.
   Thệ hệ đàn anh là Nhà thơ Xuân Hoàng, Dương Tử Giang, Hải Bằng, Hà Nhật, Nguyễn Văn Dinh, …Họ là những người sáng lập Hội Văn nghệ Quảng Bình. Thế hệ thứ hai là Nhà thơ Trần Nhật Thu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Hoàng Vũ Thuật, Hải Kỳ, 
Văn Lợi, Vĩnh Nguyên (Vinh Nguyễn), Đỗ Hoàng. Họ là những hội viên kế tiếp có mặt trong thơ tuyển Quảng Bình năm 1964 – 1974 và Thơ tuyển Quảng Bình năm 1972. Những người sống và viết, trưởng thành – thành danh ngay trên quê hương!
 Thơ họ gắn cái chung với cái riêng. Trách nhiêm vụ công dân và trách nhiệm thi sỹ là một. Bây giờ đọc có thể có người không thích, nhưng một thời họ đã sống và viết như thế cùng dân tộc kháng chiến!
Xin giới thiệu nhà thơ Hà Nhật
vannghecuocsong.com

                        
                       


  THƠ HÀ NHẬT

Nhà thơ Hà Nhật nổi tiếng với bài thơ được phổ nhạc công chúng quen gọi là “Nhổ neo ra khơi”. Thức ra đó là bài thơ “Tâm tình người thủy thủ” được nhác sỹ Hoàng Vân phổ nhạc từ thập kỷ 60 thế kỷ trước. Đến hôm nay vẫn được mọi người hát. vannghecuocsong.com xin giới thiệu chùm thơ của Nhà thơ



 Đêm ở Quảng Bình nghe dân ca
 
 

Có lẽ bởi em đang đi đò qua sông
Cho lòng anh chòng chành những sóng
Đêm Quảng Bình bốn bề cháy bỏng
Xanh bốn bề lân tinh

Em đang qua cầu nào cho nón gió bay
Cái nhện giăng tơ khiến trời cũng nhớ
Đêm Quảng Bình bốn bề cháy lửa
Xanh bốn bề lân tinh

Em đứng hát nơi góc nào vườn mẹ
Mà tiếng ca hồng một sắc mây
Đêm Quảng Bình bốn bề cháy lửa 
Xanh bốn bề lân tinh

Sẽ không gì có thể giết tôi
Trong đêm tối đã trở nên huyền diệu 
Trong đêm tối đã trở nên yên ả
Người ơi, người ở đừng về...

                                                1969


 Nỗi buồn không trung
 


Cơn mưa này từ rừng ấy về chăng ?
Cơn mưa này từ biển ấy về chăng ?
Cuồn cuộn đỏ sông Hồng tháng Bảy
Một chiếc cầu xe lửa qua sông

Ôi, chiếc cầu xe lửa qua sông
Trong mưa dài thêm dài mênh mông
Những giọt mưa thầm thì gõ cửa
Có chuyến tàu nào về xa đó không ?

Nỗi buồn này là nỗi buồn không trung 
Nỗi buồn này là nỗi buồn mênh mông
Cầu nối chi hai bờ cho cầu thêm đơn độc
Ôi chiếc cầu xe lửa qua sông.

                                                Hà Nội, 1969


 Tình yêu và mối thù

                             Tưởng niệm bạn Hoàng Bình*
                                    tức nhà thơ Xích Bích

Trời Thủ đô sáng ấy rất bình yên
Mây trắng trong như tâm hồn con trẻ
Tôi vô tư ngắm một nhành hoa huệ
Đâu biết quê nhà bom nổ dưới chân anh 

Cho dẫu trăm lần thấy chuyện tử sinh
Cái chết vẫn là điều vô lý
Trời sáng ấy sao xanh, xanh thế
Tưởng không hề xảy ra tội ác dưới mặt trời

Tôi bỗng hiểu giờ đây khi anh đã xa xôi
Con người ta không bao giờ đo hết chiều sâu tình bạn
Không bao giờ ta đi đến tận cùng giới hạn
Tình yêu của ta.

Ôi thế ra
Những ngày đã qua
Với người tôi yêu, tôi yêu chưa đủ !
Với kẻ tôi thù, tôi thù chưa đủ !

                                                1968




THỊ XÃ HOA HỒNG

                   Thời trước chiến tranh, thị xã Đồng Hới có
                        rất nhiều hoa hồng đẹp, tự hào là Thị xã hoa hồng
                                       
                                       
Thị xã đi rồi
Còn để lại hoa thôi
Hoa hồng đỏ, đỏ như nỗi nhớ
Hồng hạnh phúc là hồng vàng, vàng rỡ
Hồng nhung chia tay, hồng trắng đợi chờ...

Một năm rồi
Lại một năm qua
Lại một năm qua nữa
Trong thị xã những ngôi nhà đổ
Một bức tường vỡ đôi...

Nơi ngã tư xưa trẻ nhỏ đến đùa chơi
Một hòm thư treo
                        sần sùi vết đạn
Như người lính không nghĩ mình dũng cảm
Vẫn trầm tư những chuyến thư đi

Nhớ cô bé ngày xưa
Thường gửi những bức thư dài mực tím
Bây giờ nơi sơ tán
Có còn gửi đi những lá thư xa ?

Mùa thu về
Hồng mấy độ ra hoa
Và kỳ lạ, nơi ngã tư bom phá
Đung đưa trong gió
Vẫn long lanh những đóa mắt cười
Tưởng ta đi đến tận cuối đường này
Ta sẽ gặp những con người độ trước
Đất vẫn dịu một màu đất ngọt...

Khi quân thù mang cái chết đi qua
Ta bỗng nhận ra
Những đóa hoa
Đã giúp ta bình tĩnh thế
Tưởng như 
Những đóa hoa nhỏ bé
Đẩy cái chết lùi xa
Tưởng như
Những đóa hoa
Từ đất sinh ra
Là một nửa trái tim ta gửi lại
Là một nửa cuộc đời ta gửi lại
Những ngày ta đi xa
                                  
1968


Lời chúc


Nhân danh hạnh phúc loài người
Chúc tiếng em cười
Trong như hạt mưa
Ngọt như mật ong
Và nồng say như rượu mạnh

Chúc cho dưới mỗi bước em đi
Nở một đóa hoa hạnh phúc

Chúc lòng em trong sáng như trăng 
Thơm như sen thơm mùa hạ

Chúc cho tiếng hát của em
Như tiếng chim gọi mùa xuân trở lại

Chúc bầu trời soi trong mắt em
Có chim én mùa xuân và chim câu cánh trắng

Chúc ngày vui của em
Dài mãi với tóc em

Chúc những giấc mơ em gặp từng đêm
Đều khiến em cười
Tiếng cười vui 
Khiến kẻ tội đồ cũng quên ngày khổ ải.

                                                1963



Cây dương


Cây dương trước cửa nhà tôi
Tháng ngày reo mãi bao đời lá tuôn
Cha tôi xưa bảo dương buồn
Nghe như tiếng khóc từ phương xa vời
Hôm nay tôi thấy dương cười
Nghe như tiếng hát của người tôi yêu

Mỗi lần nghe tiếng dương reo
Thương cha chưa biết một chiều dương vui

                                                1963
 

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2014

Thơ một lứa bên trời - Thơ Đỗ Hoàng

Thơ một lứa bên trời Quảng Bình - Thơ Đỗ Hoàng

Chủ nhật - 04/05/2014 13:33
 Thơ Quảng Bình chống Mỹ có hai thế hệ (ở đây chỉ nói đến những nhà thơ sống , viết trưởng thành trên quê hương Quảng Bình.) Còn các nhà thơ quê Quảng Bình thì sống và viết cở khắp đất nước rất nhiều.
   Thệ hệ đàn anh là Nhà thơ Xuân Hoàng, Dương Tử Giang, Hải Bằng, Hà Nhật, Nguyễn Văn Dinh, Văn Lợi…Họ là những người sáng lập Hội Văn nghệ Quảng Bình. Thế hệ thứ hai là Nhà thơ Trần Nhật Thu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Mây, Hoàng Vũ Thuật, Hải Kỳ, Đỗ Hoàng. Họ là những hội viên kế tiếp có mặt trong thơ tuyển Quảng Bình năm 1964 – 1974 và Thơ tuyển Quảng Bình năm 1972. Những người sống và viết, trưởng thành – thành danh ngay trên quê hương!
 Thơ họ gắn cái chung với cái riêng. Trách nhiêmnj công dân và trách nhiệm thi sỹ là một. Bây giờ đọc có thể có người không thích, nhưng một thời họ đã sống và viết như thế cùng dân tộc kháng chiến!
Xin giới thiệu nhà thơ Đỗ Hoàng
vannghecuocsong.com

             Đỗ Hoàng
                         (Bộ đội)
         Thơ tuyển Quảng Bình 1972

EM LÀ CÔ THỢ

Qua cổng nhà máy
Em là cô thợ
Đi làm ca đêm

Bàn tay của em
Có bàn tay phay
Có bàn tay tiện
Có bàn tay điện
Thắp sáng nông trường!

Đôi mắt của em
Có tia lửa hàn
Nhìn sắt chớp lóe
Nhìn trời
Sao lên!


Lấp lánh đêm nay
Em bước qua đây
Cổng nhà máy đón
Chào em
Chào em

Đáng người xinh thế
Dáng cô thợ trẻ
Đang vào thay ca

Cái chết quân thù
Chẳng làm em sợ
Mặc cho bom đổ
Dáng em con thoi
Đâu vợi cái vui
Cười trong sơ tán

Qua cổng nhà máy
Em là cô thợ
Đi làm ca đêm!

Nông trường Lệ Ninh năm 1971

LÊN BA RỀN

Ba Rền ngày ngập nắng
Trời mênh mang gió lùa
Suối như làn mây trắng
Bồng bềnh bay giữa trưa

Gập ghềnh ngang vực thắm
Dấu bom xăm mái lèn
Nhưng rừng sắc lạ lắm
Riêng màu xanh Ba Rền

Tiếng chim trong rừng khộp
Tiếng hò trâu đèo xa
Bên rừng ai đốn gỗ
Gió chuyền vọng tiêngs qua.

Chàng trrai nay đã biết
Vung búa cao hơn người
Năm tháng trong ánh mắt
Có màu rừng xanh tươi

Còn em em đã ở
Tháng năm cũng suối trrong
Để bao rừng xa lạ
Hội về thành quê chung

Vách  lèn đưa tiếng võng
Giữa lòng thung bồi hồi
Tiếng của bao mầm sống
Gọi rừng đó rừng ơi!

Ba Rền 1975

NGÀY MÙA VUI

Đồng Đại Phong tròn như chiếc nong
Mà cái cặp nong là bờ tre xanh cườm mây trắng
Trong sân ngoài vườn ngập tràn ánh nắng
Phơi lúa vàng giữa trời trưa mênh mông!

Thường xáo động là màu xanh dòng song
Nơi dập dềnh là màu xanh bến nước
Vàng bát ngát là cánh đồng hợp tác
Vui rộn ràng chở lúa giữa đò đông.

Trai gái đùa nhau khoát nước giữa dòng
Cười ra rả chèo đua vui như hội
Công việc xong rồi người quên mệt mỏi
Niềm vui nào cứ mãi lâng lâng!

Mười lăm ngày sao mà qua nhanh
Biết chưa hết tên
Quen chưa hết mặt
Hỏa tuyến lên đường
Mùa còn đang gặt
Chia rồi xao xuyến cả lòng sông

Đại Phong, Lệ Thủy năm 1971

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

hùm truyện ngắn của Lê Văn Thảo - Sơ sài, nhạt, dở

Chùm truyện ngắn Lê Văn Thảo - Sơ sài, nhạt, dở

3
CHÙM TRUYỆN NGẮN CỦA LÊ VĂN THẢO – SƠ SÀI, NHẠT, 


DỞ


 
                 Đỗ Hoàng

 
      Lê Văn Thảo vừa rồi có chùm truyện ngắn (3 truyện) in trên Tạp chí Nhà vắn & Tác phẩm số 4 (tháng 3 +4/2014) gồm: Đứa con bị bắt cóc, Trúng số, Khắp nẻo đường rừng.với một sa pô giới thiệu rất kêu: “ Từng thử qua lối văn cả trăm chữ không cần chấm câu, trong câu ngoại hạng còn cả đối thoại lẩn lời dẫn chuyện, vậy nhưng nhờ các khẩu đầu ngữ Nam Bộ mà ông rất nắm vững, văn Lê Văn Thảo vẫn ánh lên nhiều sắc thái cảm xúc một cách mạch lạc. Tài. Thế mà bây giờ lại chịu khó chấm câu…”
      Đọc mấy dòng giới thiệu này, tôi lại nhớ cách đây hơn nửa thế kỷ khi vào bếp núc văn chương có đọc đoạn Sê khốp viết thư cho cộng tác viên. Việc như thế này:  Có một tác giả gửi bản thảo đến cho Sê khốp và viết: “Xin ông bỏ qua dấu chấm phẩy, vì tôi không chú ý đến nó.”
 Sê khốp liền viết trả lời: “ Lần sau nếu gửi bài cho tôi, anh chỉ cần gửi dấu chấm phẩy là đủ”.

  
     
        Nh
à văn Lê Văn Thảo 

 Dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm than, dấu hai chấm là sáng tạo của loài người trong ngôn ngữ. Trải qua nghìn năm mới có được. Trong khẩu ngữ nói phải có chỗ dừng hơi ngắn, dừng hơi dài; trong viết văn có ngắt ý khi chưa trọn câu, có chấm than để thể hiện văn cảnh, không khí… Một nhà văn mà bỏ hết tất cả dấu chấm phẩy thì đó là người không biết viết văn, không hiểu ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết của dân tộc mìnhvaf của nhân loại.
  Trong 3 truyện ngắn của Lê Văn Thảo thì chỉ có truyện Trúng số là được hơn cả. Truyện có một chút nội tâm nhân vật, có một ít ngậm ngùi được mất trong cuộc đời. Nhưng nó nhạt và quá cũ. Người ta đã viết nhiều về việc trúng số và ước mơ trúng số rồi. Hai truyện còn lại thì rất sơ sài, đơn giản và cũng quá cũ kỷ. Nó như các phóng sự in nhan nhản trên các mặt báo hôm nay. Nhiều phóng sự còn xót thương, đau đớn nhiều hơn hai truyện ngắn này.
  Truyện ngắn Đứa con bị bắt cóc kể về một cô giáo Lan có chồng là Phương làm ở địa chất đang đưa con đi khám bệnh viên. Vào viện để con trên giường bệnh rồi vào phòng vệ sinh thì bị một phụ nữ ôm đi không biết đâu mà tìm. Sau đó làm đơn và cùng chồng cầu cứu công. Sau tám tháng thì tìm được con về. Người bắt cóc trẻ con là một đàn bà vô sinh, muốn có con nên bắt về nuôi. Vì phạm tội như thế nên cô ta phải đi tù.
  Truyện chẳng có gì mới, lại viết trúc trác trúc trẳng, lổn ngổn, câu chữ không một âm vang, thao thiết nên rất khó đọc, khó cảm; mặc dù nhân vật cô giáo Lan nhiều lần tác giả cho khóc rống lên


  Văn của Lê Văn Thảo vô cùng sơ sài, rất non nớt, không một chút hàm súc, gợi cảm, văn như người Nam bộ mới tập viết truyện ngắn!
 Tôi phải đọc truyện này vài lần để xem bối cảnh truyện xảy ra ở đâu. Lúc đầu tưởng là Lê Văn Thảo lấy bối cảnh từ thời Hồ Biểu Chánh viết Cười gượng, khi thì tướng thời Sơn Nam viết Mùa len trâu, sau ngờ là quảng Doãn Quốc Sỹ viết Hương lửa ba sinh. Cuối cùng mới biết là viết thời sau giải phóng miền Nam 1975!
 Xin trích:
 “Phương về nhà. Viên thiếu tá đã có mặt, đang ngồi đối diện với Lan.Trên bàn có tấm danh thiếp. Lan ngồi dịch vào cho Phương ngồi cạnh bên, cầm đưa tấm danh thiếp. Phương cầm nhưng không đọc (trang 6 cột 1, dòng 17 dưới lên - Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm số 4 tháng 3+4/năm 2014)
 Hay:
“Lan nhận được điện của viên thiếu tá, báo là đã tìm được đứa con , kêu Lan điện báo cho chồng. Đáng ra viên thiếu tá bàn chuyện với Phương, nhưng có lẽ anh nghĩ tin tốt lành nên báo với người mẹ” (trang 7 cột 2, dòng 13 trên xuống, sách đã dẫn)
 Đọc  hai đoạn này thì sao không tin bối cảnh truyện lấy từ thời Việt Nam Cộng hòa.
  Thời Việt Nam Cộng hòa, các nhà báo, nhà văn trên sách báo hay dùng đại từ viên để chỉ các chức sắc trong quân đội, cảnh sát Sài gòn. Ở miền Bắc khi đọc đến viên thiếu úy, thiếu tá là biết đám ngụy rồi.  Các chiến sỹ công an hoặc quân đội ta không nhà văn, nhà báo nào nói và viết viên trung úy, viến thượng úy, viên đại tướng cả.
Chắc là nhà văn Lê Văn Thảo đổi mới cách gọi công san để lấy lòng anh em bên kia chiến tuyến ở lại xây dựng đất nước với mình(!)
 Xin mở ngoặc thêm: công an hay cảnh sát đều là từ Hán. Ngoài Bắc gọi như Trung Quốc là công an: Bộ Công an, côn an tỉnh, công an huyên, công an xã, công an xóm… Bây giờ còn gọi thêm nhiều bộ phận là Cảnh sát như: Học viện Cảnh sát nhân. Cảnh sát cơ động, Cảnh sát biển. Còn trong Nam thời trước chỉ gọi là Cảnh sát như Tổng Nha cảnh sát
 Tôi nghĩ Lê Văn Thảo viết viên thiếu tá  hoặc viên đại tướng cũng không sao, nhưng để người đọc hiểu lầm là không nên.
  Truyện ngắn Khắp ngả đường rừng gọi nó là phiếm văn hay đoản văn thì đúng hơn. Truyện quá đơn giản, quá sơ sài, nó thua cả một phóng sự báo viết. Truyện kể có một kể chỉ làm công việc lặt vặt bếp núc ở một trạm đón đưa - trạm giao liên chuyên hóng hớt chuyệnn người khác và nhận thành tích trong các trận chiến đấu đó là của mình. Trên đời có loại người như thế. Tác giả muốn lên án trong chiến tranh và trong cuộc sống lắm kẻ vô tích sự  chỉ giỏi tâng công, tranh công.
 Nhưng cách viết, cách bố cục truyện nó như một bài báo. Vấn đề cũ, bố cục truyện kém, câu văn thô kệch, giản đơn nên truyện thất bại.
  Về nghệ thuật, thi phấp truyện ngắn của Lê Văn Thảo không có gì mới, có thể nói là nó quả cũ và quá nhiều chỗ vô lý, vô lối. Cách bỏ dấu ngang trong đối thoại để thay bằng dấu ngoặc kép cũng chẳng có gì sáng tạo mà phải viết thêm một dấu ngoặc kép nữa.
  (Lan hiểu ra sự việc, lạnh toát cả người, gào vang cả phòng”:
“Con tôi đâu rồi? Ai bắt con tôi?” (trang 5, cột 1, dòng 19 trên xuống – Sách đã dẫn)
Nếu viết cách sau thì bỏ được một ngoặc kép:
  - Con tôi đâu rồi? Ai bắt con tôi?
  Lê Văn Thảo còn tiết kiệm câu là gộp câu nói của nhân vật và nhân vật vào cùng một câu:
  “Em sẽ thăm mộ ba, Lan nói.  (trang 9, cột 1, dòng 17 dưới lên – Sách đã dẫn)
  “Gần đây thôi, Phương đáp.  (trang 9 cột 2, dòng 22 trên xuống – Sách đã dẫn)
 Dấu phẩy dùng để ngắt ý trong câu văn để tiếp nối ý khác cho câu trọn nghĩa, chứ không thể dùng ngắt nhân vật đang nói mà làm thành một câu văn.  Hay bây giờ văn Việt có cách viết câu hậu hiện đại như vậy. Tôi không biết nữa. Rất nhiều và rất nhiều những câu như vậy và cả như câu không chính xác, sai cả logic, sai cả tâm lý nhân vật trong truyện của Lê Văn Thảo..
“Đầm nước ở tận đâu?”,  Lan thấy mình buột miệng hỏi.  (trang 9, cột 2, dòng 20 trên xuống – Sách đã dẫn).
 Nhân vật Lan thấy được mình buột miêng hỏi thì Lan đây là thần thánh rồi. Hay Lan hóa thân thành nhà văn Lê Văn Thảo, đứng ngoài quan sát mới thấy mình buột miệng tự hỏi mình
 Vô lí, vô lối hết cỡ!
    Chùm truyện ngắn của Lê Văn Thảo là một chùm truyện ngăn quá yếu, sơ sài, nhạt và rất dở, không nên in.
Vậy có thơ rằng:
Sơ sài truyện ngắn Thảo ông
Về quê thuê lại mấy công ruộng cày
Kiếm rau, kiếm cháo qua ngày
Viết văn như thế thì gay quá trời!
                                    Hà Nội, ngày 1 – 5 – 2014
                                                  Đ - H