Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2013

Tạp chí Nhà & Tác phẩm số 1 yếu kém toàn diện

Tạp chí Nhà văn& Tác phẩm số 1 - Nội dung hình thức chưa đạt như mong muốn

Thứ sáu - 27/09/2013 15:55
TẠP CHÍ NHÀ VĂN & TÁC PHẨM SỐ MỘT – NỘI DUNG & HÌNH THỨC CHƯA ĐẠT NHƯ MONG MUỐN
Đỗ Hoàng

 
  Từ Tác phẩm mới in hai tháng một ký xuất bản tháng 5 năm 1969 rồi tiếp đếnTác phẩm Văn học, rồi trở lại Tác phẩm mới, rồi đổi tên Nhà văn đều thuộc Hội Nhà văn Việt Nam quản lý. Đến nay nó đã có 44 năm thâm niên. Nay nó đã bị xóa tên không còn kế thừa. Ấn phẩm mới hoàn toàn: Nhà văn & Tác phẩmra số 1 tháng 7+8/ năm 2013.
  Cuộc thay đổi tên họ - măng sét này chỉ là việc vẽ rắn thêm chân. Các Ban của Đảng, Đoàn thể của Đảng tên nào, tạp chí nấy, như: Công đoàn có Tạp chí Công đoàn, Tuyên giáo có Tạp chí Tuyên giáo, Đoàn Thanh niên có Tạp chí Thanh niên, Đảng cộng sản có Tạp chí Cộng sản…
  Tạp chí Nhà văn là một tên đã bao hàm ngoài ( từ toán học), tức là nó đã đầy đủ và gói gọn. Còn đặt thêm tên thì nó trở thành bao hàm trong (từ toán học), nhỏ hơn, hẹp hơn. Và có thể đặt thêm rất nhiều tạp chí khác. Ví dụ: Nhà văn & Tình ái, Nhà văn & Chợ trời, Nhà văn & Thuốc phiện, Nhà văn & Chính trị, Nhà văn & Nhà thầu, Nhà văn & ca ve… Cũng như: Công đoàn & quần chúng. Thanh niên & phụ lão, Cộng sản & trí thức…
  Nhà văn & Tác phẩm số 1 vừa ra nhìn chung nó yếu kém toàn diện cả về nội dung và hình thức trình bày.
  Lời mở của nhà thơ Hữu Thỉnh viết không rõ ràng, mù mờ, chung chung: Trong văn học, đối với nhà văn giải phóng tiềm năng sáng tạo mạnh mẽ bao nhiêu, thì đối với bạn đọc, nhu cầu kết tinh cá giá trị gay gắt bấy nhiêu. Mà hình như kết tinh mới là cái đích lớn, cái quan trọng nhất thì phải. (phải khẳng định là quan trọng chứ? Sao lại thì phải?). Nhà thơ Hữu Thỉnh đã quên Tạp chí Nhà văn tồn tại trên dưới 15 năm trong thời kỳ đối mới của Đảng. Ông quên tên Tạp chí Nhà văn mà chính ông cùng Ban biên tập trước đây đặt tên cho nó.
Xin trích tiếp: Nhưng đã đến lúc đòi hỏi nó phải đạt một trình độ mới cao hơn. Đấy là nhiệm vụ rất khó khăn, nhưng chúng ta đã có những tiền lệ rất đẹp. Đó là tạp chi Văn nghệ những năm kháng chiến chống Pháp và Tạp chí Tác phẩm mới những năm chống Mỹ. Những sáng tác chọn lọc, những bài nghiên cứu lý luận, phê bình văn học có chiều sâu và một diễn đàn cởi mở tiếp cận nhiều chiều của đời sống văn học trong và ngoài nước phải là ưu tiên hàng đầu của tạp chí ”.
   Không một chữ nào nhắc đến Tạp chí Nhà văn đã tồn tại suốt các nhiệm kỳ Phó tổng Thư ký đến Chủ hội Nhà văn Việt Nam cùng nhà thơ Hữu Thỉnh.
 Nội dung Nhà văn & Tác phẩm số 1 không có gì mới. Các chuyên mục còn ít hơn, không rõ ràng và lộn xộn hơn thời Tác phẩm mới, tạp chí Nhà văn.
  Trong mục văn xuôi các nhà văn tiêu biểu được in tác phẩm là Đỗ Chu và Ma Văn Kháng là những nhà văn vừa được giải thưởng Hồ Chí Minh nhưng tác phẩm của họ lại quá thường thường không nói là dở.  Tùy bút Đồ Chu Đi trên đường Hà Nội tủn mủn lan man kể lể vặt vãnh. chuyện nay chuyện năm xưa phá kho thóc của Nhật không có gì mới. Hình như Đỗ Chu đã cho in một vài đoạn ở đâu đó. Đỗ Chu thường nói: Tao nói thì nửa địch nửa ta nhưng tao viết thi ta nhiều hơn địch. Ông là người tụng ca đời mới thường né tránh những vấn đề đau thương muôn thuở của con người. Vì vậy văn xuôi Đỗ Chu nhàn nhạt, kheo khéo của Kinh Bắc:
Nhạt nhàn văn xuôi Đỗ Chu
Nhảy qua thơ phú làm hư thi đàn
(Ca dao mới)
 Ma Văn Kháng được in liên tiếp 3 truyện ngắn: Thợ học việc, Nỗi nhớ mưa phùn, Lão Siển. Ba truyện được giới thiệu nhà văn mới viết nhưng đều rất cũ cả về nội, tư tưởng, kết cấu, tổ chức truyện ngắn, lạm phát sex.
 Hai truyện Thợ học việc, Nỗi nhớ mưa phùn viết về vấn đề đương đại, Lão Siển viết thời trước Cách mạng xuyên đến hôm nay.
   Ma Văn Kháng là nhà văn có tài trong các nhà văn ca ngợi chế độ.  Nhưng ông biết xa xót trước nhưng thân phận con người trong xã hội nên văn ông có hồn hơn các cây bút tụng ca khác. Những truyện ngăn Tóc Huyền bạc trắn, Trăng soi sân nhỏ và tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ thể hiện sự tài hoa của ông.
  Nhưng khi nổi tiếng ông được nhiều báo, nhiều chí đặt hàng nên ông viết nhanh viết vội nên phần nhiều truyện đặt hàng của ông không bằng truyện ông viết trước đây. Rất nhiều truyện dở. Ba truyện in trên Nhà văn & Tác phẩm cũng rất yếu. Có truyện còn phương hại đến các tổ chức khác như truyện Thợ học việc. Mắc gì nhà văn Ma Văn Kháng cho ông chủ thợ điện đi bộ đội để mè nheo tướng tá quân đội của ta. Lão Trạm bạo dâm và khổ dâm với cô y tá bé nhỏ trên Trường Sơn cũng là một sự thóa mạ bộ đội chống Mỹ.Trong kháng chiến chống Mỹ đâu đó cũng có xảy ra một vài trường hợp như thế, nhưng nó không phổ biến và không phải bản chất của anh bộ đội Cụ Hồ.
  “ Nó cậy nó là con ông tướng. Tướng hai sao, hách lắm. Nhưng nói thật với tao lão là muỗi. Hề hề…Tướng cái đếch gì?...Được về phép, tao phóng xe nước mã hồi…mụ xán vào tao, sờ sịt đùi tao, thích quá kêu: Gì mà đã thượng tướng cả lên thế này (tướng 3 sao, quân đội Cách mạng hơn tướng hai sao – trung tướng). ( Trang 15 dòng 2 trân xuống – tạp chí đã dẫn)
  Ngày xưa Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuấn Hương mới chỉ dám chưởi đám quan võ:
“Đầu đội nón loe vành chóp đỏ
Vai mang bị đạn,cố có râu
Không tai không mắt miệng trên
Chưa ra khỏi cửa mửa như trâu”
Bà chưa dám đả kích tướng soái. Bỡi: “ Sinh vi tướng, tử vi thần” ( Sinh làm tường chết làm thần). Tướng là người có công lớn với dân với nước, không được xúc phạm.
  Truyện Lão Siểm tha hồ chưởi lào hiếp dâm, loạn luân vì thời trước không ai bắt bẻ nhưng Ma Văn Kháng dùng từ không chính xác và sai lỗi chính tả.
Ví dụ theo chữ Tàu nói động dục là đúng chứ nói dục động là đã ra nghĩa khác rồi. “Cái con người đã không biết nghĩa lý, đã rơi vào vòng tắm tối của cơn dục động lại trở thành điên khùng độc ác rồi! ( trang 32,  cột 1,dòng4 trên xuống – Tạp chí đã dẫn). Ma Văn Kháng hiểu bệnh lý cũng không chính xác. “Chơi bời vô độ lão Siển mắc bệnh lậu, cục báu sưng to bằng ấm tích, phải nắm liệt.” (trang 36, cột 1 dòng 19 trên xuống). Bệnh lậu chí chảy mủ, không nằm liệt giường, kẻ mắc bệnh vẫn đi chơi gái khỏe để gieo bệnh cho người khác. Nhà văn Ma Văn Kháng chắc chưa măc bệnh lậu?
Phần thơ không có gì mới. Các nhà thơ Vũ Quần Phương, Phùng Khắc Bắc đã từng được giới thiệu là những tác giả cũ. Thơ của họ cũng đã cũ rồi. Vũ Quần Phương được giải thơ hay Tạp chí Nhà văn năm 2011
  Do gu của người làm Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm họ chọn và lăng xê thứ thơ Vô lối, một loại viết vô hồn, vô cảm, dây cà ra dây muống…đang thịnh  hành. Điển hình là Lê Văn Ngăn. (Xin xem các bài dịch Vô lối của Lê Văn Ngăn sau). Phấn thơ của Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm chắc không ngườì Việt nào hiểu nổi.
*
  Hình thức trình bày Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm rất kém, nó vừa cũ, vừa nhôm nhoam.


Ăn cắp minh họa bên Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam


Chữ dùng cũ và xấu còn thua tạp chí Văn nghệ in trong kháng chiến chống Pháp. Minh họa vi nhét minh họa thì  gần như bê nguyên xi bên báo Văn nghệ, Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam sang.



Gần bê nguyên xi bãi phân trâu bên báo Văn nghệ sang

Minh họa là vẽ cho rõ cho sáng nội dung bài văn bài thơ, đằng này minh họa của Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm số 1 đen ngòm ngòm không trông ra cái hình thù gì, chẳng khác gì bãi phân trâu bết lên trang báo.



Hao hao minh họa bên các sách báo khác...

Chân dung nhà văn nhìn vào như con ngáo ộp.


Nhà văn Khuất Quang Thụy (phải)

Nhất là chân dung nhà văn Khuất Quang Thụy, ngó cứ tưởng con hà mã lên hù dọa người lương thiện! Nhiều minh họa cóp hoàn toàn bên tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam. Không có một sáng tạo gì . Khổ tạp chí 20 X 28 là khổ nghị quyết, khổ báo liếp phát không, cho không, nó không phải khổ tạp chí trong kinh tế thị trương và trong cuộc sống,. Nhận tạp chí về không biết để nó vào đâu trên giả sách.
  Qua những trận tranh đấu loại bỏ tranh giành với một người đàn bà chân yếu tay mềm, Hội Nhà văn đã đẻ ra Tạp chí Nhà văn & Tác phẩm số 1 thật sự vô cùng yếu kém toàn diện cả nội dung lẫn hình thức.
  Thật là:
Hội Nhà văn nhổ lúa trồng đay
Đẩy lùi Văn nghệ về ngày hoang sơ!

                             Hà Nội, ngày 27 tháng 9 năm 2013
                                                 Đ - H
Phụ lục Dịch Vô lối Lê Văn Ngăn


DỊCH VÔ LỐI CỦA LÊ VĂN NGĂN

TRONG MƠ (nguyên bản)

Trong mơ, tôi thấy nàng trở về từ quá khứ
đôi mắt vẫn là đôi mắt dịu dàng của năm hai mươi tưổi nhưng chợt nhuốm nỗi buồn
nàng khẻ hỏi vì sao lòng trung thực nơi anh anh đã nguội lạnh
vì sao nỗi ham muốn quyền lực đồng tiền đang thay chỗ cho lòng quý trọng con người
 Trong mơ,
tiếng khóc của nàng bắt đầu lẫn vào tiếng gió ngoài hiên nhà
Nàng đã bảo ngay cả tình em đã dành cho anh
giờ cũng chỉ còn lại vài cánh hoa tàn trên mặt bàn đêm khuya trống trải.
Thôi vậy từ đây
Hơi ấm sẽ không tạo ra lối về để chúng ta gặp lại.
Tôi nói không em ạ, chúng ta sẽ bắt đầu làm lại đời mình
Nhưng giấc mơ đã tan, nàng không còn ở bên tôi để chia xẻ niểm hy vọng

(1) Bài in trên Tạp chí Thơ số 10 - 2011

VIẾT LIỀN VĂN XUÔI

        Trong mơ, tôi thấy nàng trở về từ quá khứ. Đôi mắt vẫn là đôi mắt dịu dàng của năm hai mươi tưổi nhưng chợt nhuốm nỗi buồn. Nàng khẻ hỏi vì sao lòng trung thực nơi anh anh đã nguội lạnh? Vì sao nỗi ham muốn quyền lực đồng tiền đang thay chỗ cho lòng quý trọng con người?  Trong mơ, tiếng khóc của nàng bắt đầu lẫn vào tiếng gió ngoài hiên nhà. Nàng đã bảo ngay cả tình em đã dành cho anh giờ cũng chỉ còn lại vài cánh hoa tàn trên mặt bàn đêm khuya trống trải. Thôi vậy từ đây, hơi ấm sẽ không tạo ra lối về để chúng ta gặp lại Tôi nói không em ạ, chúng ta sẽ bắt đầu làm lại đời mình. Nhưng giấc mơ đã tan, nàng không còn ở bên tôi để chia xẻ niểm hy vọng

  Cũ kỷ, mòn vẹt, nhàm chán, lủng ca, lủng củng, ngô không ra ngô, ngọng không ra ngọng mà cho là thơ thì không hiểu bây giờ tâm hồn nhạy cảm con người họ thưởng thức văn nghệ như thế nào? Thật thua một bức thư của một anh nông dân thời nay gửi cho người tình nơi luỹ tre xanh!


 “Dịch” VÔ LỐI  ra thơ Việt:

TRONG MƠ

Trong mơ, tôi thấy nàng về,
Dịu dàng ánh mắt hồn quê thuở nào.
Nhuốm buồn, phiền muộn xiết bao!
Chợt nàng khẻ hỏi vì sao anh hèn?
Vì sao ham muốm chức quyền,
Vì sao lại lấy đồng tiền thay tim!

Trong mơ, nàng khóc lặng im,
Lẫn vào tiếng gió lặn chìm ngoài sân.
Nàng rằng: - "Tất cả cho anh,
Tình yêu trong trắng em dành đôi ta!“
Giờ còn lại cánh tàn hoa,
Mặt bàn trống trải trơ ra đêm dày!
Vậy thôi, thôi vậy từ nay,
Ấm êm không có lối này về nhau!

Em ơi! Làm lại từ đầu!
Giấc mơ tan biến còn đâu trên đời!

Hà Nội ngày 19 – 11 - 2011
                        Đ - H



Thơ Vô lối Lê Văn Ngăn

Thứ bảy - 21/09/2013 16:01
  •  
  •  
  •  
 
Khi dịch bài Vô lối Chị Ba ở Phan Rang của Lê Văn Ngăn tôi những tưởng Lê Văn Ngăn trốn được lính ngụy. Nhưng khi đọc lại tiểu sử Báo điện tử Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh thì nói Lê Văn Ngăn từng là trung sỹ quân tiếp vụ quân đội Sài Gòn. Sau này Lê Văn Ngăn vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Lình ngụy hay bộ đội Cụ Hồ thì cũng là một thời đã qua. Cái đáng nói là Lê Văn Ngăn viết những thứ vô lối không phải văn chương, thơ ca. Đã không phải thì phải lên án những nơi lăng xê.


VÔ LỐI
Lê Văn Ngăn
Nguyên bản:
 THƠ TẶNG CHỊ BA Ở PHAN RANG (1)
 Bác Hồ có viêt:
...Nói về văn nghệ, Bác thú thật có ít thì giờ xem các bài văn nghệ. Có lẽ vì thế mà có lúc xem đến thì thấy cách viết thường ba hoa, dây cà, dây muống; và hình như viết là để đếm dòng lấy tiền, có những bài nhạt nhẽo thế nào ấy.
Còn viết về chính trị thì khô khan và có hai cái tệ: một là rập khuôn, hai là dùng quá nhiều chữ nước ngoài. Cái bệnh dùng chữ, là phổ biến trong tất cả các ngành. Đáng lẽ báo chí phải chống lại cái bệnh đó, nhưng trái ngược lại báo chí lại tuyên truyền cho cái tệ đó. Cố nhiên, có những chữ không thể dịch được thì ta phải mượn chữ nước ngoài. Ví dụ: những chữ kinh tế, chính trị... thì ta phải dùng. Hoặc có những chữ nếu dịch ra nếu dịch ra thì mất cả ý nghĩa, như chữ “độc lập”. Nếu “Việt Nam độc lập” mà nói “Việt Nam đứng một” thì không thể nghe được.
Nhưng có những tiếng ta sẵn có, thì tại sao lại dùng chữ nước ngoài. Ví dụ: vì sao không nói “đường to” mà lại nói “đại lộ”, không nói “người bắn giỏi” mà lại nói “xạ thủ”, không nói “hát múa” mà lại nói “ca vũ”?... Những ví dụ như vậy nhiều lắm, nhiều lắm. Các báo Nhân dân, Thời mới, Quân đội nhân dân... đều dùng chữ nhiều lắm.
Tóm lại chúng ta dùng chữ nhiều quá, có khi lại còn dùng sai nữa. Mong rằng báo chí cố gắng sửa đổi cái tệ ấy đi. Tiếng nói là một thứ của rất quý báu của dân tộc, chúng ta phải hết sức giữ gìn lấy nó, chớ để bệnh nói chữ lấn át nó đi.
Khoa học ngày càng phát triển, có những chữ mới mà ta chưa có, thì ta phải mượn. Ví dụ: ta phải nói “kilô”, vì nếu nói chữ “cân”, thì không đúng nghĩa là 1.000 gram. Song những chữ dùng tiếng ta cũng đúng nghĩa thì cứ dùng tiếng ta hơn. Có những người hình như sợ nói tiếng ta thì nói xấu hổ thế nào ấy! Họ làm cho các cháu học sinh cũng bị lây bệnh nói chữ, như “phụ đạo”, “giáo cụ trực quan”... Thật là tai hại!
HỒ CHÍ MINH
Trích bài nói chuyện tại Đại hội lần thứ hai Hội nhà báo Việt Nam, 16-4-1959 
Hồ Chí Minh toàn tập
  Bài "Thơ tặng chị Ba ở Phan Rang" của Lê Văn Ngăn in trong chùm 6 bài trên báo Nghệ thuật mới, Phụ trương báo Người Hà Nội ra số 1 tháng 2 năm 2012. Lê Văn Ngăn được nhiều báo, nhiều tổ chức lăng xê và tự gọi cách viết của mình là thơ. Cá nhân tôi, tôi cho đó là một kiểu viết vô lối, vô cảm, dây cà, ra dây muống, nhạt nhẽo, cũ rích đang thịnh hành làm tổn hại đến thẫm mỹ của người đọc, đúng như Bác Hồ đã nhắc nhở cách viết của báo chi, văn nghệ sỹ hơn 50 năm trước đây.
  Thêm đề dẫn này để cho người đọc rõ nguồn xuất xứ.
                                       Đỗ Hoàng
VÔ LỐI  Lê Văn Ngăn
Nguyên bản:
 THƠ TẶNG CHỊ BA Ở PHAN RANG (1)
Phan Rang, những năm ấy, có lẽ chị Ba không nhớ nữa
nhưng tôi kẻ từng chịu ơn chị, tôi không thể nào quên quá khứ.

Năm ấy, tôi đến từ phương xa
không giấy tờ, không người quen, không nhà không cửa
và tương lai tôi
tương lai ở trong tay những kẻ bố ráp bắt người đi đánh thuê cho quân xâm lược
tương lai buồn tênh như con đường bụi khô ngoài quán cà phê chiều hôm gió cuốn.

Có thể tôi rơi vào bước đường cùng
nếu không tình cớ gặp chị
Dưới rặng me già bên chiếc xe những ổ bánh mì lặng im
chị ngồi trông khách đến
Và chiều hôm ấy
kẻ lỡ bước được chị mướn về nhà dạy kèm con cái chị học hành.

Từ ấy, tôi biết thế nào là hạnh phúc khi được sống dưới mái nhà
được chiếc bàn bên khoảng trời xanh khung cửa sổ
được ăn cơm mỗi ngày hai bữa
được uống vị dịu dàng trong đôi mắt chị dịu dàng.

Cuộc bố ráp và sự chết
Có thể đầy tung cánh cửa vào đây lúc nào
Nhưng trước thời khắc đó, tôi vẫn còn một ít ngày tháng êm đềm.
tâm hồn không lạnh lẽo

Bây giờ chị còn sống không chị Ba
Bao nhiêu năm, dù chưa trở lại mái nhà xưa
Tôi vẫn nhìn thấy chị mỗi ngày qua những người lao động bình thường
Những người lao động bình thường  ấy
không bao giờ tầm thường trong đôi mắt nhìn đời.

Viết liền văn xuôi:
 THƠ TẶNG CHỊ BA Ở PHAN RANG
         Phan Rang, những năm ấy, có lẽ chị Ba không nhớ nữa, nhưng tôi kẻ từng chịu ơn chị, tôi không thể nào quên quá khứ. Năm ấy, tôi đến từ phương xa, không giấy tờ, không người quen, không nhà không cửa và tương lai tôi, tương lai ở trong tay những kẻ bố ráp bắt người đi đánh thuê cho quân xâm lược. Tương lai buồn tênh như con đường bụi khô ngoài quán cà phê chiều hôm gió cuốn.
          Có thể tôi rơi vào bước đường cùng nếu không tình cờ gặp chị. Dưới rặng me già bên chiếc xe những ổ bánh mì lặng im, chị ngồi trông khách đến. Và chiều hôm ấy kẻ lỡ bước được chị mướn về nhà dạy kèm con cái chị học hành. Từ ấy, tôi biết thế nào là hạnh phúc khi được sống dưới mái nhà, được chiếc bàn bên khoảng trời xanh khung cửa sổ, được ăn cơm mỗi ngày hai bữa, được uống vị dịu dàng trong đôi mắt chị dịu dàng.
    Cuộc bố ráp và sự chết có thể đầy tung cánh cửa vào đây lúc nào! Nhưng trước thời khắc đó, tôi vẫn còn một ít ngày tháng êm đềm.. Tâm hồn không lạnh lẽo!
        Bây giờ chị còn sống không chị ba! Bao nhiêu năm, dù chưa trở lại mái nhà xưa., tôi vẫn nhìn thấy chị mỗi ngày qua những người lao động bình thường. Những người lao động bình thường ấy, không bao giờ tầm thường trong đôi mắt nhìn đời.
 Nhận xét:
 Về thơ ca cho điếm Zê rô
 Không bàn!
     Một bức thư gửi người thân có chút chịu ơn hết sức bình thường của lúc trốn llính nguỵ mà người Việt nào ở miền Nam thời tạm bị chiếm cũng viết được, nếu biết đọc và biết viết.
      Người có kỷ niệm và tâm hồn có thể viết hay hơn vì thật hơn, tình cảm hơn.
      Đây là kiểu sám hối của nhiều trí thức công chức trong vùng miền Nam tạm chiếm. Khi Quân đôi nhân dân Việt Nam giải phóng miền Nam, hỏi ai cũng nói tôi bị bắt lính, tôi trốn lính. Điều đó có thật trong trong một số tầng lớp trí thức và thanh niên miền Nam vùng tạm chiếm trước đây, chứ không phải tất cả.
  Miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa không có nhiều trường hợp này, nhưng miền Nam thì nhan nhản.
  Bây giờ đất nước thống nhất lâu rồi, người đọc có thể chất vấn: “Thế miền Nam buông lỏng vậy sao? Ông chạy không giấy tờ, không căn cước mà vẫn được mời dạy học thì xứ sở đó là Thiên Đàng rồi!”
    Ở miền Bắc ông gắn với Hợp tác xã, với tem, phiếu gạo, ông chạy đi đâu, giáo dục phổ thông, ai được dạy ngoài. Cụ Diệm quá "dân chủ"!  
   Chưa nói đến cái tệ nghĩa tình, tác giả ở Quy Nhơn vào Phan Rang mấy cây số mà không vào thăm ân nhân cứu mạng mình được - Giả dối hết sức, sến hết sức!
 
    Ở miền  Bắc hầu hết không ai trốn đi bộ đội, có người còn viết đơn bằng máu mình chích ra từ cổ tay. Anh hùng Lê Mã Lương là một ví dụ. (Bây giờ là Thiếu tướng quân đội nhân dân Việt Nam)
   Cái bức thư của Lê Văn Ngăn mà ai đó gọi là thơ thì sỷ nhục cho nền văn chương nước nhà!
     Đỗ Hoàng
     Dịch ra thơ Việt
 THƯ GỬI CHỊ BA Ở PHAN RANG
Phan Rang, năm ấy chị Ba!
Chị còn có nhớ hay là đã quên?
Em chịu ơn chị bề trên,
Một thời quá khứ đảo điên thế mà.
Thời em tơi tả phương xa,
Giấy tờ nỏ có, cửa nhà cũng không.
Tương lai quả thật phiêu bồng,
Tương lai ở kẻ tay không bắt người.
Những phường dạ thú đười ươi,
Tóm dân, đôn lính cho loài xâm lăng.
Tương lai buồn tẻ, lặng tăm,
Con đường bụi đỏ, quán tăng, gió nồng.
Số em đến bước đường cùng,
Nếu không gặp chị, tình chung đồng bào.
Mẹ già, xe nặng, bánh bao,
Chị ngồi trông có khách nào đến xơi,
Và chiều hôm ấy, ai ơi!
Cầm tay chị dẫn về nơi nhà mình.
Bảo kèm con cái học hành,
Hạnh phúc tôi có nên  thành từ đây.
Chiếc bàn học, bên trời mây,
Được ăn uống thoả mỗi ngày hai ca,
Dịu dàng thấm thịt thơm da,
Trông đôi mắt chị như là trăng sao!
Dễ chết, bọn ráp ập vào,
Đẩy tung cánh cửa thế nào cũng xong.
Trước thời khắc của tồn vong,
Tôi còn dan díu trong vòng ấm êm!

Bây giờ, chị đâu? Chị hiền?
Bao năm chưa lại bên thềm nhà xưa.
Tôi nhìn sớm nắng, chiều mưa
Chị trong những kẻ cày bừa cần lao.
Bình thường, cam chịu, nhường bao
Đôi mắt nhân ái như sao siêu phàm!

Hà Nội ngày 28/ 2 2012
Đỗ Hoàng


 

Thứ Ba, 24 tháng 9, 2013

Nhà thơ Hữu Thỉnh và Tọa đàm khoa học 70 năm NHật ký trong tù - Nhận định không chính xác...

Nhà thơ Hữu Thỉnh và Tọa đàm khoa 70 năm Nhật ký trong tù nhận định không chính xác...

Thứ ba - 24/09/2013 15:17
       NHÀ THƠ HỮU THỈNH  VÀ TỌA ĐÀM KHOA HỌC 70 NẮM
          tác phẩm “Nhật ký trong tù”


               NHẬN ĐỊNH KHÔNG ĐẦY ĐỦ, KHÔNG CHÍNH XÁC. (*)
 
    Đỗ Hoàng
   
 Mở đầu bài viết, nhà thơ Hữu Thỉnh viết: “ Tính nhân văn cũng là chất thép” đã biết không ổn. Nếu nhận định về nhà thơ tình Xuân Diệu thì còn được, chứ nhận định về Hồ Chí Minh thì nó thừa ra. Với Hồ Chí Minh tính nhân văn là chất thép chứ không phải cũng là “chất thép”. Điều đó đã được khẳng định chứ không phải phó khẳng định như nhà thơ Hữu Thỉnh nhận định. Nhận định ấy chưa xác đáng với thơ Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đã viết:
Hiện đại thi trung ưng hữu thiết
Thi gia dã yếu hội xung phong
(Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xông lên…)
(Đỗ Hoàng dịch)
 Nhà thơ Hữu Thỉnh viết tiếp: “Một nhân danh nói: Thơ hay khiến cho người ta đọc xong thì quên thơ đi, chỉ còn thấy tình người.” Danh nhân nào nói, nói trong hoàn cảnh nào? Cổ nhân có nói: “Thơ hay người ta thuộc lòng cả hồn lẩn xác”. Nói thế để khen thơ hay thì người thuộc lòng cả chữ nghĩa diễn tả, cả tình người. Thơ là linh hồn là cao cả, thơ trên cả Chúa. Làm sao lại quên thơ đi được?

   Nhà thơ Hữu Thỉnh lại viết tiếp: “ Tại cuộc tọa đàm nhân kỷ niệm 70 năm ra đời “Nhật ký trong tù”, chúng ta cũng đã thống nhất nhận định: “Nhật ký trong tù” là hình thức  “viết cho mình”, chỉ cho mình, không nhằm quảng bá giáo huấn điều gì…”`
  Đó là một nhận định không đúng của nhà thơ Hữu Thỉnh và của các nhà văn, nhà khoa học trong cuộc tọa đàm khoa học 70 năm tác phẩm “ Nhật ký trong tù”.
  Còn người là một tiểu vũ trụ, mọi biểu hiện của con người là của vũ trụ. Cho nên viết cho mình, viết cho mọi người đều là của vũ trụ. Con người hay muôn loài ngay trong bào thai đã có tính quảng bá và giáo huấn. Đứa trẻ vừa chào đời đã cất tiếng khóc để cho mọi người  biết là có sinh linh mới của vũ trụ. Một nhà thơ, một nhà cách mạng chuyên nghiệp như Hồ Chí Minh thì lại càng muốn quảng bá và giáo huấn hơn nữa. Không chỉ Hồ Chí Minh mà các lãnh tụ cách mạng từ cổ chí kim đều mang tính này. Thuở trước khi thông tin chưa phát triển, Lê Lợi và Nguyễn Trãi muốn quảng bá và giáo huấn dân đen đã lên rừng đem mỡ viết mấy chữ Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm tôi để dân tin và đi theo.
  Sau này các lãnh tụ cách mạng nhất là các lãnh tụ cộng sản rất chú trọng quảng bá và giáo huấn.
  Lê nin lập tờ báo Tia lửa. dạy học trong tù, viết bài đả kích Causki, Plekhanops…Mao Trạch Đông mở báo Dân cày, tranh luận với Hồ Thích…Hồ Chí Minh viết Bản án chế độ thực dân Pháp, kịch Con rồng tre…
mở báo Thanh niên, thành lập Việt Nam thanh niên đồng chí hội, viết ca dao, hò vè , thơ để quảng bá, giáo huấn đồng bào:
Dân ta phải biết sử ta
…
Đẹp non nước Ninh Bình
Nhìn xem phong cảnh xinh xinh thật là

Tay cầm khẩu súng dài
Ngắm đi ngăm lại bắn ai thế này…
  Quay lại với “Nhật ký trong tù” là tập thơ đầy tính quảng bá và giáo huấn
Ngâm thơ ta vốn không ham
Nhưng ngồi trong ngục biết làm chi đây
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.
Hay:
Nhãn quang ưng đại, tâm ưng tế
Kiên quyết thời thời yếu tấn công
Thác lộ song xa dã một dụng
Phùng thời nhất tốt khả thành công…
(Học dịch kỳ)
Mắt nhìn cho rộng suy cho kỹ
Kiên quyết không ngừng thế tấn công
Lạch nước hai xe đành bỏ phí
Gặp thời một tốt cũng thành công…
( Nam Trân dịch)
Hay:
Oa…oa…oa cha trốn đi lính nước nhà
Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi
Phải theo mẹ đến ở nhà pha
Hay:
Phu đường vất vả lắm ai ơi.
Ngựa xe hành khách thường qua lại
Biết cảm ơn anh được mấy người.
(Phu đường)
  Nhật ký trong tù ngoài phần nhỏ viết riêng cho mình thì đại phần lớn Hồ Chí Minh viết cho dân tộc, cho nhân loại. Người muốn quảng bá rộng khắp, giáo huấn rộng khắp cho nhân quần lao khổ đứng lên làm cách mạng đem lại cơm no áo ấm cho mọi người.
  Có điều khi Nhật ký trong tù , Hồ Chí Minh phải sống lưu vong, lẩn khuất ngoài vòng pháp luật của quân thù nên tác phẩm không có điều kiện quảng bá rộng rãi và giáo huấn rộng rãi.
  Còn đánh giá nhận định như nhà thơ Hữu Thỉnh và  “Tọa đàm khoa học 70 năm tác phẩm Nhật ký trong tù”  trên là không đúng với tinh thần Nhật ký trong tù.
Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 2013
                                                     Đ - H

 

Thứ Hai, 23 tháng 9, 2013

Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Quang Trung không biết thẩm thơ

Giáo sư, Tiến sỹ Phạm Quang Trung không biết thẩm thơ

Thứ ba - 24/09/2013 13:50
   
Phó giáo sư, Tiến sỹ PHẠM QUANG TRUNG không thẩm được thơ.

Đỗ Hoàng

Hiện tại có các Gs, Ts văn chương đang giảng dạy trong các trường đại học không hiểu thơ ca, không thẩm được thơ, không biết bài thơ nào hay, bài thơ nào dở, cứ khen bừa khen ẩu, khen vì nén bạc đâm toạc ti vi, khen kẻ có chức, kẻ có tiền… điển hình như  Phạm Quang Trung, Hồ Thế Hà, Văn Giá, Chu Văn Sơn…
    Nhất là Phạm Quang Trung khen bừa khen ẩu nhất. (Xin xem Phạm Quang Trung bốc thơ Hoàng Quang Thuận – Ô danh muôn đời – vannghecuocsong.com).
 Vưa rồi trên báo Quân đội nhân dân cuối tuần số 925 (1203) ngày 22 /9/ 2013, Phạm Quang Trung  lại bốc thơm Trần Nhuận Minh trong mục đến với bài thơ hay, tán tụng Vô lối bài thơ Đà Lạt của Trần Nhuận Minh.
Nguyên văn :
Trần Nhuận Minh
ĐÀ LẠT
Ta lắng nghe man mác tuổi sương chiều
Ngan ngát tím nỗi bâng khuâng muôn thuở
Tiếng chuông cũ lên rêu tầng tháp cổ
Mây chập chờn thức ngủ trắng hàng thông

Em tìm ai áo tía đến nao lòng
Môi ta chạm màu nắng mòn nhạt thếch
Mối tình hoang xanh rờn hương cổ tích
Mơ hồ giăng trong sắc đắng hoa mua

Giọt mưa buồn gõ xám mái Nhà vua
Yếm Hoàng hậu vắt hờ vào xa thắm
Khói hồ biếc Xuân Hương nồng nàn mà tỉnh lặng
Dính hồn ta hơn nhựa đất bzan

Tay ta xòe ngang ngọn LangBian
Xinh đẹp hỡi sao em im tiếng thế
Ta đi…
Trên đỉnh rừng quạnh quẻ
Hồn ta bay như những sợi tơ trời…
Chiêu 5 / 5 / 1992
 Trần Nhuận Minh là nhà thơ đoạt nhiều giải thưởng, có cả giải thưởng Nhà nước và giải thưởng Hội Nhà văn. Ông có nhiều bài thơ được. Ông cũng chỉ là nhà thơ thường thường bậc trung trong dòng thơ tụng ca chế độ cộng sản.  Bài thơ Đà Lạt là một trong nhưng bài thơ dưới trung bình của ông, không nói là rất sáo, rất dở. Thế mà Phạm Quang Trung  bốc thơm như bốc thơ thủm Hoàng Quang Thuận. Bốc thơm Hoàng Quang Thuận, Thuận còn cho 5 triệu đồng, chứ Trần Nhuận Minh chắc là không. Vì nhà thơ cũng không giàu. Phạm Quang Trung dùng nhiều mỹ từ uốn éo để khen những cái không phải thơ, chứng tỏ dự hiểu biết văn chương, thơ ca rất thấp và nói thật không biết thơ hay, thơ dở.
  Phạm Quang Trung tán dương không phải lối: “ Tên bài thơ Đà LẠt gợi nhiều suy nghĩ trong tôi. Đã hẳn là nhà thơ muốn phát hiện ra những nét riêng của thành phố nổi tiếng thơ mộng qua cảm nhận của chính mình. Thật không dễ dàng gì. Lại bằng một bài thơ ngắn vỏn vẹn bốn khổ, chừng trên một trăm từ. Thách thức phải nói là nghiệt ngã. Chỉ những bản lĩnh thi ca cao cường mới dám chấp nhận. Trần Nhuận Minh đã chấp nhận. Nội việc làm ấy thôi đã nói nhiều về tài năng của anh. Không đúng thế sao! Chẳng phải cgis qua ý định, người đời cũng có thể xét đoán sức vóc trí lự của một con người.”
  Ngôn ngữ Việt không còn từ nào để bốc thơm hay như Phạm Quang Trung được nữa.
  Cả bài thơ Đà Lạt, Trần Nhận Minh dùng toàn từ chữ cũ mèm, sáo rỗng, hô khẩu hiệu tình ái, hô lời tán gải cũ như hoang mạc: áo tía đến nao lòng, mối tình hoang xanh rờn miền cổ tích,giọt mưa buồn gõ xám, xinh đẹp hỡi sao em im tiếng thế, môi ta chạm màu nắng mòn nhạt thếch… Những từ những chữ mà tiểu teen bây giờ dùng người ta còn gạch bỏ.
Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu
(Lý Bạch)
Cảnh đẹp trước mắt không nói được
Bởi thơ Thôi Hiệu đã trên đầu
(Đỗ Hoàng dịch)
 Trước Trần Nhuận Minh  đã có Đà Lạt trăng mờ quá hay, quá tuyệt vời của Hàn Mặc Tử:
Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu
Trời mơ trong cảm thực huyền mơ
Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt
Như đón từ xa một ý thơ

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều 
Để nghe trong sóng nước hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để xem trời giải nghĩa yêu…
Bài Đà Lạt của Trần Nhuận Minh so với Đà Lạt trắng mờ như con giun so với con rồng.
  Ở những hoàn cảnh khác, nhà thơ Trần Nhuận Minh có những bài thơ hay. Vì ông thực sự máu thịt với những bài thơ đó. Còn bài thơ Đà Lạt ông viết trong vội vàng, trong thoáng qua, không một chút kỷ niệm, không một ái tình say đắm hoặc thương đau cho nên nó dở là tất nhiên.  Vậy Trần Nhuận Minh phải tưởng tượng, phải hư cấu, phải gào phải thét…Ông phải huy động một lô một lốc từ ngữ sáo rỗng để làm bài thơ có tình, có hồn. Song ông đã thất bại. Những từ hô khẩu hiệu tình ái đó đã giết chết bài thơ Đà Lạt của ông. Hại thay, mấy ông tiến sỹ giấy, tiến sỹ bò không biết thơ ca nhắm mắt khen bừa, tán ẩu làm hại đến thi ca, công chúng độc giả.
   Và cũng xin ông Pgs, Tiến sỹ Phạm Quang Trung đã làm khổ sinh viên Tây Nguyên ngoài đời, đừng nên làm khổ bộ đội nữa!
                                          Hà Nội, ngày 24 – 9 – 2013
                                                    Đ - H

 (*) Bài in trên báo Quân đội nhân dân cuói
 tuần số: 925 (1203) ngày 22 - 9 - 2013

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2013

Có một phẩm chất ngời lính Việt Nam Cộng Hòa

CÓ MỘT PHẨM CHẤT NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA
 Đỗ Hoàng

 
 Quảng đầu thập kỷ 80 thế kỷ trước, lúc tôi đang công tác ở Báo Đảng Bình Trị Thiên, Trần Văn Hải (nhà thơ Hải Kỳ sau này) bạn học thời cấp 3 Lệ Thủy, Quảng Bình lại cùng quê nội với tôi ở xã Mỹ Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Hải đang học Đại học Sư phạm Huế rủ tôi về Sịa chơi. Sịa nằm ở phía Bắc, cách Huế độ 25 km.  Nhất Huế nhì Sịa. Thị trấn Sịa sầm uất không thua kém kinh đô Huế.
  Sịa tôi không quen biết ai, nhưng Hải thì có bố đẻ đang sinh sống ở đấy. Bố  Hải và ba tôi đều đi lính Pháp trước Cách mạng tháng 8, sang Pháp đâu những năm 1937 – 1939. Bố Hải làm lính thợ. Ba tôi lính chiến đấu nên trong Đại chiến thứ 2, Ba tôi và các bác tôi đều bị phát xít Đức cầm tù. Bố Hải sau giải phóng miền Bắc năm 1954 thì chạy vào Nam, bố tôi chết trận. Vì thế nên tốt nghiệp cấp 3 năm 1968 tôi và Hải đều không được đi đại học, mặc dầu năm đó đại học không phải thi. Sau đó Hải được đi học sư phạm 2 tháng về dạy cấp 2, còn tôi thì phải về địa phương cải tạo không thời hạn.  Lúc đó ai có bố đi lính Pháp, lính ngụy tức là có nợ máu với dân tộc thì con cái đều bị vạ hết. Tôi xin học lái máy cày phục vụ hợp tác xã địa phương vẫn không cho.
  
   Thiếu tướng tuẫn tiết Nguyễn Khoa Nam

Về Sịa gặp gia đình bố Hải, ai cũng vui vẻ chào đón thân tình. Bố Hải lấy thêm bà vợ hai quê ở Sịa. Bà làm nghề hộ sinh, mở phòng đỡ đẻ tại nhà của mình. Mẹ kế (dì Hải) có đến năm sáu người con với bố Hải. Ngoài ra bà có đứa con riêng tuổi đã hai sáu hai bảy và có gia đình riêng ở gần mẹ đẻ. Anh ta là sỹ quan quân lực Việt Nam Công Hòa vừa đi cải tạo về đâu trên dưới một hai tháng.  Anh ta người đậm. chắc khỏe, dáng can trường và bản lĩnh.
-         Anh tuổi đang trẻ mà con nhiều thật – Tôi hỏi khi nhìn một đàn con có đến năm sáu đứa của anh.
Anh ta cười:
-  Trong này khuyến khích sinh đẻ. Tôi sỹ quan cứ sinh thêm một đứa con là phụ cấp lường con bằng lương thiếu úy của tôi đó. Lương thiếu úy mua được mấy cái hông - đa chứ lỵ!
   Người con riêng của dì Hải là con của một vị cán bộ quân đội ta chức vụ nghe đâu khá to cỡ cấp trung đoàn, sư đoàn thừa khả năng bảo lãnh cho con mình khỏi phải đi cải tạo.
   Những lần trò chuyện với bố, Hải đều than tiếc:
   - Ba đi lính Pháp lại chạy vào Nam nên họ không cho con đi Đại học, không cho con đi bộ đội, không cho con vào Đáng.
  Bố Hải xoa xuýt hối lỗi:
  - Cộng sản làm căng quá, bố làm con chịu, trong Nam này ai làm nấy chịu. Ba thật có lỗi với ba mẹ con con.
  Nghe chuyện miền Bắc phân biệt thành phần lích lịch, anh con riêng của dì Hải hào hứng góp chuyện:
  -  Ông Diệm, ông Thiệu đều biết bố tôi là Việt cộng to nhưng tôi vẫn vào học sỹ quan, vẫn được thăng cấp đều đều. Hôm giải phóng bố tôi bảo sẽ bảo lãnh cho tôi không đi cải tạo nhưng tôi bảo với bố:
  -  Bố có lý tưởng của bố, con có lý tưởng của con. Bên con thua trận con chịu. Bao nhiêu binh lính của con phơi xương ngoài chiến địa, con như thế là may mắn lắm rồi. Con hưởng an nhàn riêng một mình là có tội với hương hồn nghĩa sỹ của con.
  - Mày im đi – Bố tôi quát – Rồi ông bỏ đi luôn.
  Tôi đi cải tạo vừa mới về các cán bộ ạ.
  Tôi không nói gì nhưng rất khâm phục phẩm chất người lính trong anh ta!
   Phẩm chất anh bộ đội Cụ Hồ thì ai cũng biết. Đa phần là trung dũng kiên cường, vì nhân dân quên mình. Tôi cũng là người lính Cụ Hồ nên tôi thấu hiểu việc này. Tất nhiên cũng có nhiều người đầu hàng chiêu hồi địch nhưng đó là số it. Và trong phe chính có kẻ ta, trong phe tà có kẻ chính. Đó là lần đầu tiến tôi thấy phẩm chất người lính việt Nam Cộng Hòa bằng xương, bằng thịt. Còn nghe qua đài báo, mạng thì rất nhiều như Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Phạm Văn Phú,  Thiếu tườngTư lệnh vùng III chiến thuật (không nhớ tên)… có 5 tướng ngụy tự sát đẻ toàn danh dự khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ.
   
Thiếu tướng tuẫn tiết Phạm Văn Phú

  Người lính thứ 2 bên kia chiến tuyến mà tôi khâm phục phẩm chất lính trong anh đó là Triều Nguyên. Triều Nguyên là sỹ quan Việt Nam Cộng Hòa. Tôi hai lần về nhà riêng của anh ở Phú Bài, Hương Thủy chơi, anh đều đưa tập an bum có ảnh anh tốt nghiệp thủ khoa trường sỹ quan Đà Lạt được cầm cái cung to bắn mũi tên lên trời. Anh là một sỹ quan ham học, ham hiểu biết và đang thăng tiến trong đường binh nghiệp.
    
      Thiếu úy Triều Nguyên
    Nhưng giải phóng miền Nam năm 1975 anh bị đi học tập cải tạo. Anh Nguyên thừa năm để đi Mỹ theo diện HO. Nhưng anh không đi, anh ở lại với vợ con và quê hương.
Ở lại với quê hương, Anh học được thạc sỹ văn chương, anh viết văn. Thời còn tạp chí Văn nghệ Bình Trị Thiên, anh đã có truyện ngắn in.
 Vừa rôi anh được giải thưởng văn học nghê thuật Nhà nước. Một giải thưởng rất danh giá.
  
Nhà văn Triều Nguyên lãnh giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật

Người thứ 3 mà tôi biết là anh Nguyễn Thái Hải.




Bác sỹ quân y Nguyễn Thái Hải (VNCH)

Anh Hải là sỹ quan quân y của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Anh không xuất ngoại theo diện HO. Anh ở lại trong nước viết văn ký tên là Khôi Vũ. Nhà văn Khôi Vũ từng làm công tác quản lý văn nghệ, từng là Hội phó, Phó tống biên bập tờ Văn nghệ Đồng Nai.
   
Nhà văn Khôi Vũ ( Nguyễn Thái Hải)
 Mấy năm trước anh được giải thưởng tiểu thuyết “ Lời nguyền hai trăm năm” của hội Nhà văn Việt Nam.
 Năm 2006 tôi và anh là thành viên trong Đoàn Nhà văn Việt Nam đi học tập và nghiên cứu Văn học ở Trung Quốc.
   

  Trong đám lính thất trận của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũng có một số người thể hiện phẩm chất bản lĩnh người lính của mình. Thật đáng trân trọng!

                                        Hà Nội, ngày 6 tháng 9 năm 2013
                                                           Đ - H