Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013

Xuất hiện các trường phái dịch Thơ


Xuất hiện các trường phái dịch

Thứ tư - 19/06/2013 11:05
  
             Nhà văn Thúy Toàn

XUẤT HIỆN CÁC TRƯỜNG PHÁI DỊCH THƠ TRÊN VĂN ĐÀN NƯỚC TA(1)
Thúy Toàn


Trong thư gửi cho thi  hữi, nhà thơ họ Đoàn (Đoàn Văn Cừ) còn bôc lộ rõ quan điểm dịch của mình: “Dịch thơ cũng như làm thơ, lấy thơ, lấy thần là chính, thi tại ngôn ngoại, dắc ngoài sắc, vị ngoài vị. Dịch giả với tác giả là đôi bạn đồng hành, đồng tâm, đồng điệu, bổ sung, phát triển lẩn nhau….” Trong thồ gian qua, trên văn đàn nước ta việc dịch văn thơ nở rộ. Riêng về dịch thơ ca, liên tiếp xuất hiện hàng chục tuyển thơ dịch do nhiều người thực hiện, cũng như ccủa riêng người dịch này, dịch nọ. Về hình thức thể hiện cũng thật đa dạng phong phú. Ngoài loại hình dịch truyền thống, những dịch nghệ thuật, trực dịch, phỏng dịch… Xuất hiện tác dịch (Thaí Bá Tân), Ngẫu dịch (Trương Nam Phương), dịch Việt ra Việt (Đỗ Hoàng)…. Về thể thơ, gần đây xuất hiện khá nhiều bản dịch thơ Âu, Á chuyển sang thơ lục bát Việt Nam (Thơ Đường chuyển lụ bát Cao Bá Vũ (NXB Văn học 2002, 101 bài thơ tình nước Nga (lục bát) của Ngọc Châu (NXB Thế giới  2012)…
T - T

(1) Trích bài in trên Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam số 5 – 2013

 
DỊCH THƠ TIẾNG VIỆT RA TIẾNG VIỆT
Đăng ngày: 15:55 09-03-2010 

Thư mục: Tổng hợp 

     Hiện nay đang có một số nhà văn nhà thơ có nhiều hướng tìm tòi độc đáo, nhằm đổi mới mới hình thức thể hiện văn chương: cả trong thơ lẫn trong văn xuôi; Nguyễn Quang Thiều là một trong số tác giả thuộc nhóm sáng tạo tìm tòi này…

Để giúp bạn đọc hiểu được công sức, giá trị tìm tòi của những tác phẩm thuốc trào lưu sáng tạo mới này, nhà thơ Đỗ Hoàng có sáng kiến dịch lại những sáng tạo đó ra ngôn ngữ văn chương quen thuộc để giúp người đọc bình thường có thể lĩnh hội được…

Điều vui ở đây không phải là dịch từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt mà là dịch từ tiếng Việt ra tiếng Việt… Sắp tới, có lẽ Hội Nhà văn Việt Nam nên tổ chức ra thêm một ban chuyên môn, tạm gọi tên: Ban dịch thơ văn tiếng Việt ra tiếng Việt…

Nếu quả thật có nhu cầu đó thì chắc chắc Đỗ Hoàng nên được bầu làm Chủ tịch cái Ban sang tạo mới mẻ này của Hội Nhà văn VN…
Chúng tôi xin giới thiệu một tác phẩm dịch của Đỗ Hoàng từ một thi phẩm của Nguyền Quang Thiều để bạn học thưởng thức và nếu có dịch giả nào yêu thích công việc dịch văn thơ tiếng Việt ra tiếng Việt này, xin gửi tác phẩm để Blog Phamvietdaonv vinh dự được lần lượt giới thiệu… P.V.Đ

Dịch VÔ  LỐI CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM
 
CÕI LẶNG (*)
 
Cõi lặng. Anh soi thấy mặt mình
Với nỗi buồn trong sạch
 
Cõi lặng. Không tiếng động nào khác
 
Người ơi, tôi yêu người tha thiết
Tôi sống vì người, chết vì người
 
Cõi lặng. Tôi vượt qua ghềnh thác
Đến những miền trong xanh...
 Ngày 17.1.2003
--
(*) In trong tập Cõi Lặng – NXB Văn học năm 2007
 
Viết liền văn xuôi:
 
CÕI LẶNG
 
Cõi lặng. Anh soi thật mình với nỗi buồn trong sạch. Cõi lặng, không một tiếng động nào khác - Tiếng đập trái tim anh. Người ơi, tôi yêu người tha thiết. Tôi sống với người, chết vì người. Cõi lặng, tôi vượt qua ghềnh thác đến những miền trong xanh.
 
Nhận xét:
  Đây là điển hình cho loại Vô lối đang thịnh hành. Nó tù mù, tờ mờ, chuột không ra chuột dơi không ra dơi. Nếu gọi là thơ thì là một sự xúc phạm rất lớn với thi ca!
 Khi chuyển những bài Vô lối qua cách viết kiểu văn xuôi mới biết các bài Vô lối ấy thì thấy nó kệch cỡm, bệnh hoạn biết nhường nào. Đúng là một quái thai của văn chương.
  Đấy là mới nhìn hình thức biểu hiện, chứ soi vào ý tứ, câu chữ và tu từ (hay là thi pháp) thì không biết gọi chúng là gì!
 Riêng hai câu đại ngôn “Người ơi, tôi yêu người tha thiết/ Tôi sống vì người, chết vì người” thì giống như con sói hú lên: “Cừu ơi, ta yêu Cừu tha thiết/ Ta sống vì Cừu, ta chết vì Cừu!”
Dịcn sang thơ Việt:
 
                   CÕI LẶNG
 
Cõi lặng, anh soi thật mình
Nỗi buồn trong sạch, trắng trinh giữa trời.
 
Cõi lặng, không tiếng nào rơi,
Tiếng tim anh đập muôn đời nào yên!
 
Yêu người tha thiết, thiêng liêng,
Nguyện cùng sống chết, đảo điên vì người!
 
Cõi lặng, ghềnh thác vượt rồi,
Đến miền trong sạch, tuyệt vời xanh trong!
 
Đỗ Hoàng dịch
 
Hà Nội ngày  29 -1 – 2012

Bài Vô lối
 - Những người đàn bà gánh nước sông
Nguyễn Quang Thiều.
Nguyên bản:
Những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen toẽ ra như móng chân gà mái.
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Những người đàn bà xuống gánh nước sông
Những bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt
Một bàn tay họ bám vào đầu tròn gánh bé bỏng chơi vơi
Bàn tay kia bấu vào mây trắng
Sông gục mặt vào bờ đất lần đi
Những người đàn ông mang cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Những con cá thiêng quay mặt khóc
Những chiếc phao ngô chết rồi
Những người đàn ông giận dữ, buồn bã và bỏ đi
Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy
Sau những người đàn bà gánh nước sông là lũ trẻ cởi truồng
Chạy theo mẹ và lớn lên
Con gái lại đặt đòn gánh lên vai và xuống bến
Con trai lại vác cần câu và cơn mơ biển ra khỏi nhà lặng lẽ
Và cá thiêng lại quay mặt khóc
Trước những lưỡi câu ngơ ngác lộ mồi
1992
Đỗ Hoàng dịch :
Những người đàn bà gánh nước sông
Bàn chân toẽ như chân gà mái,
Quá nửa đời non dại tôi trông.
Đàn bà xuống gánh nước sông,
Bối tóc vỡ xối bềnh bồng trên lưng

Tay giữ chặt giữa chừng đòn gánh,
Tay vịn vào mây trắng như tơ
Sông trôi úp mặt vào bờ,
Trai mang mơ biển lặng tờ ra đi.

Cá thiêng khóc rầu rì, quạnh quẻ,
Chiếc phao ngô cô lẻ chết rồi!
Đàn ông giận dữ ôi thôi.
Nuốt sầu ngao ngán chán đời đi luôn.

Nửa đời trải, thấm buồn tôi thấy
Lũ trẻ con níu váy u già
Lớn lên giữa chốn bùn sa.
Gái thay mẹ gánh nghèo qua bến thuyền

Con trai mộng triền miên mơ biển,
Vác cần câu lặng biến tha hương
Cá thiêng quay mặt lệ tuôn,
Để trơ cái lưỡi câu lươn lộ mồi!

Hà Nội ngày 6 tháng 5 năm 2010
Đ - H
Xin dịch bài vô lối, tắc tỵ NHẬT THỰC của Thanh Thảo.

Đây là một bài vô cùng tắc tỵ, bệnh hoạn với lời lẻ dung tục bẩn thỉu:
Tôi mơ cứt ngập nhà anh
Mai giàu anh trả hai mươi phần trăm
...
nghênh ngang lỗ chó chui

Cái nhìn rất thị dâm, toàn nhìn vào háng, lỗ đen:
Tôi dạng háng cho các anh ngắm
...
vùng tối đen
thèm tối đen
tối đen

tự thu mình
một lỗ đen sâu hun hút

lạm dụng những từ:
mò, sờ, vuốt, ôm...
 Những kiểu đánh đố không ai luận ra:
Ấn khớp gối
phìm đàn
bỏ rơi
...
trưa nhật thực những mẹ gà đeo kính
...
trứng hồng
những bố bò ngáp vặt
...
lối nói kiểu cách, vô học:
nắng chảy trên mái nhà ký ức
...
mặt trời mù dòng sông mang thai

Không thêt nào kể hết.

Cách viết, cách nghĩ bệnh hoạn, tắc tỵ này được nâng cấp lên ở cái trường ca Chân đất mắt toét, một lối viết phản lại thơ ca mà lại được Hội Nhà văn Việt Nam, UB Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam đưa lên mây xanh! (Trao giải thưởng đúp thơ năm 2012)

Nên loại bỏ kiểu viết này ra khỏi văn chương Vịêt!

Nguyên văn: (1)

NHẬT THỰC

I
Ấn khớp gối
phím đàn
bỏ rơi
những ốc sên nhận đường
bỏ rơi
cái cây vặt từng chiếc lá
im lặng vặt từng âm thanh
chói
âm
chói âm
lỗ đen

nổi trôi ngàn cặp vú
ngân hà

II

gạch bông
trống đồng
lông nhông
con đường vắt tong giọt
trưa nhật thực những mẹ gà đeo kính
trứng hồng
những bố bò ngáp vặt
chim bay ngập khoảng không

III

tôi mơ cứt ngập nhà anh
mai anh giàu trả hai mươi phần trăm
một triệu đô cho giấc mơ tôi
mười ngàn vé dán đầy mặt trời

IV

“anh đừng ăn xin, anh đừng ăn” *
mặt trời
mặt trời mù dòng sông mang thai
những trái cây mùa thu ngủ muộn
mùi hương bóng tối
chảy ra đặc quánh

V

anh chán sáng?
tôi buồn ngủ
đừng ru nhịp ba
đừng mơn bằng trắc
tôi dạng chân cho các người ngắm
vùng tối đen
thèm tối đen
tối đen
chán sáng

VI

ai định hướng cơn bão
ai chỉ đạo dải hội tụ nhiệt đới

tự thu mình
một lỗ đen sâu hút
nắng chảy trên mái nhà ký ức

đừng nói
chán rồi

có thể ngay phút này giây này
lại bắt đầu mọi thứ

VII

ốc sên đỉa vắt chuồn chuồn
bay thấp bay cao bay vừa
rối tung tối om
lần mò sờ sao
vuốt má vầng trăng
ôm lưng dải sáng
mười hai lỗ gai
sương dày la cháy
con đường cực nhọc
vô nghĩa
Vanga, Saga, Rama, Tôyota

VIII

càng cua xe dua liều thua
bài trời
lật sấp: mưa
lật ngửa: xong
long tong nhong nhong
ngọc đại ngại đọc
có cô thì chợ thêm đông
vắng cô thì chợ Đồng Xuân
bốn mùa

IX

xòe tay che vầng nhật
ngày 14 tháng 10
nghênh ngang lỗ chó chui
những dòng sông sặc nước

tắt ngay cho chúng biết
lại sáng trưng mấy hồi
đám phê bình vặc diệc
vung vẫy sừng trâu cười

X

nước dâng
biển thấp
ngày những đàn cá mập
diễu hành
những vòng tròn hiện sáng
khoảnh khắc
những giấc mơ vượt thái dương hệ
lỗ đen giữa trán
một ngọn đèn cực mạnh
cây hối hả như người
người đứng lặng như cây
nhìn vào mình
anh chit thấy mặt trời bé tý
đong đưa
phía trên lỗ rốn
chầm chậm. sông dâng
đám pha-ri-siêu giảng đạo đầy đường
bọ ngựa đá giọt sương
xuyên phá bức tường
con nhện chuyên dệt những ác mộng
là thủ môn vỹ đại nhất
mọi thời

(1) bài in trên Tạp chí Nhà văn tháng 12 năm 2007
*Phỏng lời một ca khúc Việt nổi tiếng (tác giả chú thích )


Viết liền theo kiểu văn xuôi - Đọc thấy nó rất oẳn tà roằn!

NHẬT THỰC


I
Ấn khớp gối ,phím đàn bỏ rơi, những ốc sên nhận đường bỏ rơi cái cây vặt từng chiếc lá im lặng vặt từng âm thanh chói âm  chói âm lỗ đen nổi trôi ngàn cặp vú ngân hà

II

gạch bông trống đồnglông nhông con đường vắt tong giọt trưa nhật thực những mẹ gà đeo kính trứng hồng những bố bò ngáp vặt chim bay ngập khoảng không

III

tôi mơ cứt ngập nhà anh mai anh giàu trả hai mươi phần trăm một triệu đô cho giấc mơ tôi mười ngàn vé dán đầy mặt trời

IV

“anh đừng ăn xin, anh đừng ăn” * mặt trời mặt trời mù dòng sông mang thai những trái cây mùa thu ngủ muộn mùi hương bóng tối chảy ra đặc quánh

V

anh chán sáng? tôi buồn ngủ đừng ru nhịp ba đừng mơn bằng trắc tôi dạng chân cho các người ngắm vùng tối đen thèm tối đen tối đen chán sáng

VI

ai định hướng cơn bão  ai chỉ đạo dải hội tụ nhiệt đới tự thu mình một lỗ đen sâu hút nắng chảy trên mái nhà ký ức  đừng nói  chán rồi có thể ngay phút này giây này lại bắt đầu mọi thứ

VII

ốc sên đỉa vắt chuồn chuồn bay thấp bay cao bay vừa rối tung tối omlần mò sờ sao vuốt má vầng trăng ôm lưng dải sáng mười hai lỗ gai sương dày la cháy con đường cực nhọc vô nghĩa Vanga, Saga, Rama, Tôyota

VIII

càng cua xe đua liều thua bài trời lật sấp: mưa lật ngửa: xong long tong nhong nhong ngọc đại ngại đọc có cô thì chợ thêm đông vắng cô thì chợ Đồng Xuân bốn mùa

IX

xòe tay che vầng nhật ngày 14 tháng 10 nghênh ngang lỗ chó chui những dòng sông sặc nước ắt ngay cho chúng biết ại sáng trưng mấy hồi ám phê bnh vặc diệc vung vẫy sừng trâu cười

X

nước dâng biển thấp ngày những đàn cá mập diễu hành những vòng tròn hiện sáng khoảnh khắc những giấc mơ vượt thái dương hệ lỗ đen giữa trán một ngọn đèn cực mạnh cây hối hả như người người đứng lặng như cây nhìn vào mình anh chỉ thấy mặt trời bé tý đong đưa phía trên lỗ rốn chầm chậm. sông dâng đám pha-ri-siêu giảng đạo đầy đường bọ ngựa đá giọt sương xuyên phá bức tường con nhện chuyên dệt những ác mộng là thủ môn vỹ đại nhất mọi thời

(1) Bài in trên Tạp chí Nhà văn tháng 12 năm 2007
*Phỏng lời một ca khúc Việt nổi tiếng ( tác giả chú thích )

Đỗ Hoàng dịch ra thơ Việt:

NHẬT THỰC


I

Ấn vào cái khớp gối
Như ấn vào phím đàn
Bỏ rơi sên nhận đường
Bỏ rơi trên cỏ rả
Cây vặn từng chiếc lá
Im lặng vặt âm thanh
Chói tai tiếng vang đanh
Lỗ đen trong vũ trụ
Nỗi trôi ngàn cặp vú
Trên mê cung Ngân Hà!

II

Gạch bông, trống đồng hoa
Lông nhông con đường nhỏ
Vắt từng giọt sương gió
Trưa nhật thực chói lòa
Những mẹ gà đeo kính
Trứng hồng và hồng trứng
Ngáp vặt những bố bò
Chim bay ngập sương mờ!

III

Tôi mơ phân ngập nhà anh,
Mai giàu anh trả lãi nhanh gấp ngàn.
Mơ tôi giá triệu đô vàng
Với mười vạn vé dán tràn trời cao!

IV

Anh ơi! Đừng ăn xin
Xin anh đừng ăn đấy
Mặt trời mù mắt vậy
Dòng sông đang mang thai
Những trái cây mùa thu
Trong tiết trời ngủ muộn
Trong tối hương nồng đậm
Chảy ra đặc quánh này!

V

Anh chán sáng thật hay
Tôi lại buồn ngủ lắm
Dừng ru nhịp ba bốn
Đừng mơn trớn trắc bằng
Tôi dạng chân người nhìn
Thèm tối đen, chán sáng!

VI

Ai định hướng cơn bão?
Và ai đang chỉ đạo
Dãi tu nhiệt đới này
Tự thu mình ai hay?
Một lỗ đen sâu hút
Nắng chảy nhà ký ức
Đừng nói chán lắm thay
Có thể phút giây này
Lại bắt đầu mọi thứ!

VII

Chuồn chuồn, vắt, sên, đĩa…
Bay thấp, cao, bay vừa.
Rối tung, tối om mù
Lần mò sờ sao lặn
Đến vuốt má vầng trăng
Tới ôm lưng dải sáng
Có mười hai lỗ gai,
Sương dày lá cháy loạn
Con đường cực nhọc thay
Tất cả dều vô nghĩa
Van ga, Tô yo ta này…

VIII

Xe đua cũng liều thua
Ván bài trời sấp ngữa
Lập sấp: thì là mưa
Lật ngữa : xong mọi thứ.
Chỉ long tong nhong nhong
Mơ ngọc đại, ngại học.
Có cô chợ thêm đông.
Vắng cô chợ đầy đồng
Bốn mùa Đồng Xuân hội!

IX

Xòe tay che vầng nhật
Ngày mười bốn tháng mười
Nghênh ngang lỗ chó chui
Những dòng sông sặc nước

Tắt ngang cho chúng biết
Lại sáng trưng mấy lần
Đám phê bình vặc diệc
Vẫy sừng trâu cười hênh!

X

Nước đầy mà biển thấp
Ngày những đàn cá mập
Diễu hành trong đại dương
Vòng tròn hiện sáng trưng
Qua khoảnh khắc nhỏ bé
Mơ vượt thái dương hệ
Lỗ đen giữa trán lồi
Một ngọn đèn cực mạnh
Cây hối hả như người
Người im như cây vậy
Nhìn vào mình sẽ thấy
Một mặt trời bé ti
Đong đưa trên lỗ rốn
Chầm chậm. sông dâng sáng
Với đám pha-ri-sêu
Đang giảng đạo đầy đường
Bọ ngựa đá giọt sương
Xuyên phá bức tường lửa
Nhện dệt ác mộng nữa.
Thủ môn lớn mọi thời!

ĐỖ HOÀNG

Dịch Vô lối Toàn tòng Vi Thùy Linh

 

Vi Thuỳ Linh
Nguyên văn:
Tự tình Paris
Từ giấc nào
Trong tay Anh
Sông Seine làm em đẫm ướt
Đã ướt mòn các chân cầu, lâu đài đá
Trong cơn ám ảnh điên cuồng
Nữ thần Tự Do buông tay
Những con ngựa vàng trên cầu Alexandre bay
Mang những đoá hoa đi mất
Tình yêu luôn mới và trái tim liều lĩnh
Không ngăn được em chỉ yêu Anh
Hai lần Paris em chỉ một mình
Tiếng hát trong vắt luồn qua bao vòm cửa muôn đời
Thu phục những thở dài mệt nhọc
Môi lửa làm chảy tuyết băng
Không còn cuốn lịch nào treo trong thành phố
Chỉ có những bài thơ đang thở
Trên những con đường đẫm mùi quyến rũ
Những bức tượng mời gọi hiến dâng
Nước xanh mắt xanh không tuổi
Giục giã còi tàu nấc nghẹn
Rực thắm balcons hồi hộp những đường cong
Ôm lại chân trời xa
Những bảo tàng bán bóng mình bằng vô giá
Những luồng xe nháy đèn vượt nhau, xả khói chiếm buồng không khí
Em chiếm em giữa đô thị tình yêu
Siết mùa từ tinh mơ đến khi đèn lộng lẫy
Kich ứng mình bằng si tình vĩnh viễn
Không còn cuốn lịch nào treo trong thành phố
Chật người yêu tụ về ánh sáng
Paris say non tơ
1.2008 - Tạp chí thơ trang 40 số 2 năm 2008

Đỗ Hoàng dịch thơ
Tự tình Paris
Trong tay Anh tự giấc nào.
Sông Seine nồng mặn thẫm vào tim em.
Ướt mòn cầu đá lầu tiên.
Trong cơn ám ảnh cuồng điên thế này
Nữ thần Tự Do buông tay!
Alexander ngựa vàng bay trên cầu.
Mang đi đoá hoa đượm màu,
Trái tim liều mối tình đâù còn xanh.
Không ngăn em chỉ yêu Anh.
Paris em đến hai lần đơn côi,
Giọng ca buồn nẫu muôn đời.
Làm tan bằng tuyết làn môi lửa hồng
Thời gian ngộp thở say nồng,
Hương mùi quyến rũ những con đường trần.
Tượng mồ mời gọi hiến dâng.
Mắt xanh, nước biếc lên tầng tươi non.
Còi tàu nấc nghẹn từng cơn,
Balcons rực thắm nét cong phập phồng.
Ôm chân trời rộng mênh mông,
Bảo tàng bán bóng mình không giá nào!
Chiếm em đô thị khát khao.
Cuộc si tình ấy biết bao giờ tàn.
Tụ về ánh sáng mơ màng,
Paris diễm lệ say vàng non tơ!

Hà Nội 21 tháng 8 năm 2008

 

Lê Văn Ngăn  - Toàn tòng Vô lối
Dịch Vô lối của Lê Văn Ngăn
 
Dịch nói vo Lê VăN Ngăn 2
Dịch Vô lối ra thơ Việt (7)
dohoang | 05 March, 2008 18:38
Lê Văn Ngăn
Nguyên bản (1)

 
Ở Huế

Những ngày tôi còn ở Huế
lưu vực sông Hương thường vọng về tiếng nước gọi tôi thức dậy sớm
Dưới nền trời chưa tắt những vì sao các con đường nằm lặng im đợi bước chân người
Và người hiện ra từ những ánh đèn quá khứ
Người đi về phía ngày mai
Người qua đời đã lâu nhưng còn sống giữa lòng người
Bên người và những câu chuyện tôi biết quê hương tôi có tiếng nói riêng tiếng nói của một xứ sở lớn lên từ những vết thương và niềm vinh dự
Dường như trong đôi mắt em dịu dàng còn thấp thoàng những bóng hình những vết thương và niềm vinh dự
Bên người và những câu chuyện tôi biết quê hương tôi còn mở những ngả đường hướng ra thế giới hướng vào mỗi tâm hồn người
Từ đó
Tôi nhận ra sự giàu có không chỉ vì đồng tiến
Rồi sẽ đến ngày tôi không còn ở Huế
Rồi Sông Hương sẽ vắng một người lắng nghe tiếng nước gọi mình (1)


Bài in trên Tạp chí Thơ số 2 - 2008 - In lại  trong 1 chùm Vô lối Toàn Tòng trên Tạp chí Thơ số 12 năm 2010

Dịch ra thơ Việt:

Ở Huế

Những ngày ở Huế còn tôi.
Sông Hương nguồn cội vọng lời yêu thương.
Ngàn sao đang vượt thái dương.
Đợi chờ người bước lên đường vững tin.
Chớp lòa quá khứ hiện in,
Người đi về nẻo lưu hình mốt mai.
Người khuát dù đã khuất rồi.
Như còn sống giữa tình người mến yêu.
 Bên người huyền thoại thật nhiều
 Quê hương sáng sáng, chiều chiều thiêng liêng.
Giọng quê kiêu hãnh ưu phiền
 Dường như có ánh mắt tiên dịu dàng
Bóng hình vô ảnh mênh mang
Nỗi đau dịu lại rỡ ràng niềm thương
Có người dẫn lối phi thường.
Nhìn ra bốn cõi, mở đường tâm linh.
Hướng vào sâu thẳm con tim,
Giàu sang đâu chỉ tiền in cõi còm.
Ngày tôi ở Huế không còn
Sông Hương vắng tiếng người con gọi mình!

Hà Nội ngày 4-3-2008 

Đám tang nhà thơ Lê Đình Ty (tiếp)

Điếu văn Lê Đình Ty

                                               

Nhà thơ Lê Đình Ty

LỄ TANG NHÀ THƠ LÊ ĐÌNH TY.
                           MỘT ĐÁM TANG ĐẦY ẤN TƯỢNG SÂU SẮC.


Vào lúc 14 h ngày 15/6 /2013 ( 8/5 Quý Tỵ ) ( Đúng ngày sinh của Lê Đình Ty ), tang lễ nhà thơ Lê Đình Ty được cử hành tại tư gia. Bà con nhân dân khu phố 3 Phường Đồng Sơn, anh em văn nghệ sỹ, phân hội nhiếp ảnh Quảng Bình, cùng bà con nội ngoại từ Lệ Thủy, Đắc Lắc, Quảng Trị, Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hóa... cùng bạn bè thân hữu gần xa và những người yêu thơ và quý mến Lê Đình Ty đã đến chật cả sân nhà. Sau lời giới thiệu và đọc điếu văn của chính quyền khu phố 3 phường Đồng Sơn, là Lời từ biệt nhà thơ Lê Đình Ty của nhà văn Hữu Phương nguyên chủ tịch hội văn học nghệ thuật, chi hội trương chi hội nhà văn Việt Nam tại Tỉnh Quảng Bình đã nói về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ và ảnh của thi sĩ Lê Đình Ty một người " Một đời xơ xác về thơ ". Đặc biệt cả tang lễ đều không ai cầm được nước mắt khi nhà thơ Cảnh Giang thay mặt anh em bạn thơ thân thiết, cất lên vần ai bài Văn tế :" Khóc Anh" một tình cảm sâu đậm nặng nghĩa  nặng tình, lòng tiếc thương vô hạn, lời tri ân sâu sắc với người bạn thơ chí cốt Lê Đình Ty:
...Tác phẩm thơ,  mong đời thêm đôi cánh
"Áo ướt tôi về "  bao nỗi chua cay
" Khoảng Vắng "  Anh đi bao tháng bao ngày
" Gió ở đâu "  giữa ngày hè nắng lửa.

Ôi ! Anh ơi,  Biết tìm đâu được nữa ?
" Bàu Tró " đây rồi  " Huyền thoại " truyện thơ
Thuở hồng hoang  trong lớp bụi  xa mờ
Cùng " Lời Hạt ",  " Gửi cùng ngọn gió..."

Tác phẩm ảnh,  triển lãm nhiều đây đó
Nghệ sỹ tài ba tâm huyết với " Hồn Rừng"
" Vó ngựa một thời " nước mắt cứ rưng rưng
Ôi ! Một thuở " Nắng Chiều " , " Ngày hè trên biển ..."

Bao giải ảnh, giải thơ, cho lòng thêm "Thanh thản"...
    



Nhà thơ Lê Đình Ty, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngô Minh, Hải Kỳ (trái sang)
15 h, thi hài nhà thơ Lê Đình Ty được đội âm công đưa ra xe tang, đoàn người đi sau xe tang , xe khách là gần chục  xe con của bạn bè, người đi xe máy... ( nhiều người phát biểu ở thành phố với một nhà thơ nghèo như Lê Đình Ty mà được bà con cô bác bạn bè đưa tiễn hết mình như thế này là điều hiếm có). 14 h cùng ngày ai cũng tiếc thương đau đớn khi thi hài nhà thơ từ từ đưa xuống huyệt, để lại trên dương thế bao nỗi tiếc thương vô hạn, và những đề tài còn dang dở của nhà thơ Lê Đình Ty:
"... Thế là hết! Bao chuyện đời,  vương vấn
Tiền của làm chi,  có mang được theo đâu ?
Tham nhũng, bon chen, giành giật làm giàu
Ai cũng chết,  chỉ tình yêu là  mãi mãi.

Đời chỉ đẹp,  khi ngọt ngào hoa trái
Kiếp lá vàng rồi lần lượt ra đi
Ta chỉ mong sao,  để lại những gì ?
Những tác phẩm, những tài năng trí tuệ..."

 Toàn bộ chương trình lễ tang từ hôm 14/6 đến lúc về nghĩa trang gia đình tại vùng Đá Bạc đã được nhà quay phim Cảnh Giang làm thành băng đĩa, các nghệ sỹ nhiếp ảnh Quảng Bình cũng tâm đắc ghi lại hình ảnh tang lễ nhà thơ Lê Đình Ty, hết sức nghĩa tình, đầy ấn tượng.
                                                                             Bài và ảnh, ( vi déo gửi sau) .
  


                                                                         
Mọi người chia buồn với nhà thơ Lê Đình Ty quá cố.

  CẢNH GIANG


    ĐIẾU VĂN KHÓC ANH LÊ ĐÌNH TY
HỘI VIÊN HỘI VHNT, HỘI DI SẢN VĂN HÓA VN -TỈNH Q. BÌNH.
                                                         Mất  13/6/2013 ( 6/5 Quý Tỵ )
Ôi ! Mới đó mà đất trời giông bão
Những ngày hè nắng cháy ruột gan
Mà bỗng dưng, gió giật mưa chan
Ôi ! đau đớn tin về như sét đánh.

Ôi ! Anh ơi, nửa tin nửa ngờ mà tim em ớn lạnh
Điện tìm nhau,  mà bè bạn ngẩn ngơ
Thật đây rồi,  mà vợ con vẫn không ngờ
Tim đau nhói,  hai hàng mi đẫm lệ.

Thế là hết,  anh ơi! Cuộc đời dâu bể
67 năm,   nắng núi với mưa ngàn
Anh vẫn vui cười,  không chút thở than
Cùng vợ, cháu con  tháng ngày đạm bạc.

Ôi !Từ Lệ Thủy xa xôi,  anh lên rừng xuống sác
Người chiến sỹ công an từ thuở xuân xanh
Cát cứ Đồng Sơn bao ước vọng chưa thành
Anh gửi tấm lòng,  qua vần thơ, tấm ảnh.

Tác phẩm thơ,  mong đời thêm đôi cánh
"Áo ướt tôi về "  bao nỗi chua cay
" Khoảng Vắng "  Anh đi bao tháng bao ngày
" Gió ở đâu "  giữa ngày hè nắng lửa.

Ôi ! Anh ơi,  Biết tìm đâu được nữa ?
" Bàu Tró " đây rồi  " Huyền thoại " truyện thơ
Thuở hồng hoang  trong lớp bụi  xa mờ
Cùng " Lời Hạt ",  " Gửi cùng ngọn gió..."

Tác phẩm ảnh,  triển lãm nhiều đây đó
Nghệ sỹ tài ba tâm huyết với " Hồn Rừng"
" Vó ngựa một thời " nước mắt cứ rưng rưng
Ôi ! Một thuở " Nắng Chiều " , " Ngày hè trên biển ..."



Bao giải ảnh, giải thơ, cho lòng thêm "Thanh thản"
Gánh nặng cuộc đời,  anh lăn lộn vì con
Lo vợ, Lo chồng, chẳng quản trèo non
Cháu nội ngoại , anh dành tình thương chăm chút.

Sống hòa thuận dẫu đói nghèo một chút
Mà thảnh thơi  đầm ấm gia đình
Với xóm làng, anh nặng nghĩa nặng tình
Với bè bạn, anh hiền hòa chung thủy.

Chấm Mo rát từng trang,   anh miệt mài đọc kỷ
Tác phẩm bạn bè,  anh cũng vui lây
Bà đỡ tác phẩm:   thơ văn,  ngày một thêm dày
Bao dự định,  bao đề tài dang dỡ.

Ôi ! Mới 67 anh đã lo mừng thọ
Vùng Đá Bạc anh về, cùng con cháu xây lăng
Thơ Cao tuổi mới in xong, chưa kịp vui mừng
Sao anh nỡ dứt tình cha con, chồng vợ.

Ôi! Anh ơi ! với cuộc đời,  là duyên nợ
Với mọi người,  ta dành hết yêu thương
Giận hờn chi , khi mỗi đứa mỗi đường
Thêm khắc khoải, hận thù thêm dằn vặt.

Thế là hết! Bao chuyện đời,  vương vấn
Tiền của làm chi,  có mang được theo đâu ?
Tham nhũng, bon chen, giành giật làm giàu
Ai cũng chết,  chỉ tình yêu là  mãi mãi.

Đời chỉ đẹp,  khi ngọt ngào hoa trái
Kiếp lá vàng rồi lần lượt ra đi
Ta chỉ mong sao,  để lại những gì ?
Những tác phẩm, những tài năng trí tuệ.

Thôi ! Nam tào,  cho mỗi người một vẻ
Anh đi rồi,  nơi cõi phật quy tiên
Tình anh em,  sau trước vững bền
Nơi chín suối, mong  hồn anh siêu thoát.


Ôi ! Trống  kèn dục -  anh về nơi cõi hạc
Phù hộ độ trì cho vợ , cho cháu con
Phù hộ  bà con, anh em trên dưới  vuông tròn
Xây tổ ấm,  luôn dồi dào sáng tạo.

                            Xin lạy tạ - Vĩnh biệt anh.

                           

* ; Chữ in xiên, trong :"" là tác phẩm thơ đã in, và tác phẩm ảnh đã dự triển lãm, và đạt giải.

 C - G

Đám tang nhà thơ Lê Đình Ty

Tin buồn về nhà thơ Lê Đình Ty

Thứ ba - 18/06/2013 09:21



Thi sĩ Lê Đình Ty

    TIN BUỒN VỀ NHÀ THƠ LÊ ĐÌNH TY

QTXM - Bạn đọc thân mến. Ngô Minh xin báo tin buồn là nhà thơ Lê Đình Ty , người bạn tri âm, tri kỷ của Ngô Minh,Lâm Thị Mỹ Dạ, Đỗ Hoàng, Nguyễn Minh Hoàng... sáng nay bị tai nạn giao thông  nghiêm trọng trọng. Ty đi xe máy tông vào xe ô tô  ở TP Đồng Hới Quảng Bình, bị chấn thương sọ não nặng , không kịp chuyển vô Huế để cấp cứu, phải mổ ở Bệnh Viện Cu Ba , Đồng Hới. Theo thông tin của nhà văn Hữu Phương lúc 19 h30 ngày 13/6/2013, thì bệnh viên đã mổ xong nhưng máu trong não vẫn chảy, huyết áp tụt đến tận cùng. Bệnh viện thông báo với gia đình để lo hậu sự... Ngô Minh vô cùng buồn bã, lại thêm một người bạn nữa ra đi. Nhà thơ Thái Hải vừa thông báo : nhà thơ Lê Đình Ty đã ra đi lúc 20 giờ ngày 13/6/2013 tại Bệnh viên Cu Ba ,Đồng Hới, bệnh viện Cu Ba đã chuyển thi thể về nhà riêng ở Cộn. Ngày mai Ngô Minh sẽ ra Đồng Hới để  viếng Lê Đìng Ty. Bạn bè thân thiết ai muốn chia sẻ tình cảm của mình với Lê Đình Ty xin chuyển vào Tài khoản của Ngô Minh : Ngô Minh Khôi- 55110000166704- Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, Chi nhánh Thừa Thiên Huế. Xin cảm ơn. Qua trang Blog này, Ngô Minh và gia đình xin  kính viếng hương hồn  Lê Đình Ty vãng sanh cực lạc và xin chia sẻ nỗi buồn với Thêm và các cháu.
         Viếng bạn thân Lê Đình Ty, Ngô Minh xin đăng lại bài viết tâm đắc về  Lê Dình Ty.  
 

                             NGƯỜI XƠ XÁC VÌ THƠ

            Trong bài thơ “ Phỏng vấn Thạch Quỳ” tôi có viết : Nếu được tái sinh xin lại làm thi sĩ / Để được tự do xơ xác vì thơ. Thực ra thì nhà thơ Thạch Quỳ ở Vinh chưa xơ xác mấy vì thơ . Trong số bạn thơ của tôi, có lẽ nhà thơ Lê Đình Ty  ở Đồng Hới là người  “xơ xác vì thơ” nhất. Lê Đình Ty làm thơ từ những ngày học lớp bảy trường làng , khi anh mới 16 tuổi ( 1963). Năm 1964 , tôi lên học cấp ba ở trường huyện, chúng tôi phải học sơ tán ở làng Cổ Liễu, Liên Thủy. Trong lớp  học cấp 3 Lệ Thủy của tôi hồi ấy có rất nhiều bạn học giỏi văn như Lê Đình Ty, Đỗ Hữu Lời ( nhà thơ Đỗ Hoàng), Trần Văn Hải (nhà thơ Hải Kỳ), Lâm Thị Mỹ Dạ, Phạm Hữu Xướng,Trần khởi.. Ở lớp tôi hồi đó, Lê Đình Ty là chủ soái thơ. Lê Đình Ty người làng Xuân Hồi, Liên Thủy lúc đó đã viết được cả tập thơ tình chép tay nắn nót trong vở học trò.  Sau này Ty  “bật mí” là hồi đó viết rất nhiều thơ để “tặng” Lâm Thị Mỹ Dạ ,  người bạn gái xinh đẹp cùng học cấp hai, mà đến giờ vẫn giữ không dám gửi ! Có lần trong lớp học, không biết Lê Đình Ty kiếm đâu được cuốn  “Yêu nhau nên biết” dịch của Trung Quốc, bọn con trai chuyền tay nhau đọc. Từ đó thằng nào cũng thích làm thơ tình. Ở lớp , ngoài tờ báo tường của Chi đoàn , chúng tôi tổ chức tờ báo tường riêng của “tổ văn lớp”. Tôi làm bài thơ “ Quê mẹ” theo “kiểu thơ” Tố Hữu, viết về Đại đội pháo binh Ngư Thủy quê tôi bắn cháy tàu chiến Mỹ   Khi bài thơ được dán lên báo tường, ngay ngày hôm sau Lê Đình Ty đã có bài “ phê bình” khen hết lời. Nào là “ tư tưởng lớn”, “ hình tượng đẹp”.... Rồi Ty kết luận rất đúng “mốt” của “nhà phê bình” thời bấy giờ:”Anh sẽ tiến xa hơn nữa trên con đường thơ ca !”. Bài “phê bình” dài mấy gang tay dán lên báo tường được cả lớp chen nhau đọc. 

                                                                  

              Sống và viết sôi nổi từ thời ấy, nhưng Lê Đình Ty lại vô cùng lận dận trên con đường thơ ca. Đang học dở cấp ba, Ty nhập ngũ vào ngành công an. Anh được đi học một khóa nhiếp ảnh pháp y. Nhưng rồi Ty lại say mê chụp ảnh nghệ thuật, nên phải chuyển ra khỏi ngành công an, về công tác tại ngành văn hóa.  Lê Đình Ty sống nhiều năm ở Huế  Anh là  tay máy bậc 7, chuyện đi dạy nghề và chấm tay nghề  cho thợ nhiếp ảnh của tỉnh hàng năm. Anh nghệ sĩ nhiếp ảnh có hạng của hiệu ảnh Phú Xuân bên chân cầu Trường Tiền hồi chung tỉnh Bình Trị Thiên. Anh có bức ảnh nghệ thuật Hồn rừng được tặng Huy chương Bạc của Hội nghệ sĩ nghiếp ảnh Việt Nam năm 1996.   Giỏi nghề ảnh như thế dễ làm giàu lắm , nhưng Lê Đình Ty thì : Nợ cơm áo níu còng lưng bóng xế / Bao nỗi niềm gửi dấu trang thơ… Bởi mỗi lần gặp bạn bè , gặp người đẹp thì có bao nhiêu phim anh bấm bằng hết, rồi thức suốt đêm, cui cui tráng ảnh để kịp sáng mai đem tặng người đẹp , cùng với những bài thơ nóng hổi ở túi ngực bên  trái ! Có lần, hồi Ty đang quản lý hiệu ảnh nhà nước  trên đường Trần Hưng Đạo, Huế. Một đêm mưa, tôi, Hải Kỳ, Đỗ Hoàng, Mai Văn Hoan đến phòng ảnh của Ty ( cũng là chỗ trọ) đọc thơ  với  nhiều người đẹp sinh viên. Ty bốc lên đẩy  giàn máy  ảnh của hiệu ra chụp. Khi mọi người đã lui rồi, tôi và  Ty  ở lại  để  rửa ảnh cho đến  2 giờ sáng, cho kịp sáng mai  tặng các nàng. Hồi đó làm gì  có Mililap như bây giờ. Muốn in ảnh phải pha thuốc, rồi nhúng từng  cái phim vào. Chờ ảnh hiện lên, tráng qua tráng về, khi rõ nét mới đưa ra sấy dưới ngọn đèn điện 500 oát.   Khổ thế mà say lắm, chăm chỉ lắm ! Vì thế nên người ta chụp ảnh ai cũng giàu , xây nhà mua xe, chỉ riêng Lê Đình Ty càng chụp ảnh càng nghèo rớt mùng tơi ! Vợ chồng đã sắm đủ loại máy ảnh xịn của Nhật, rồi sắm cả buồng tối để in sang ảnh ở nhà mình. Nhưng , do chụp ảnh ba phần tặng một phần lấy tiền nên sinh lỗ lã . Thế là  anh bán dần máy móc, chỉ còn giữ lại cái máy ảnh  để chụp chơi.

           Thơ phú còn làm anh bị tai họa thập tử nhất sinh bởi một con quỷ đội lốt người tình ! Năm 1983, Lê Đình Ty được Công ty nhiếp ảnh Bình Trị Thiên  cử ra làm Trưởng hiệu ảnh quốc doanh tại chợ Tréo, huyện Lệ Ninh ( cũ) . Một người con gái trắng trẻo , đã có chồng , do yêu thơ Ty, phục tài chụp ảnh của Ty , đã đem lòng thương trộm . Thi sĩ say thơ, say người đẹp bị hớp phải bùa mê . Bên bờ sông Kiến Giang ấy , Lê Đình Ty đã  làm tặng nàng nhiều bài thơ tình lửa cháy . Thế rồi chồng nàng phát hiện ra . Anh ta bắt vợ phải “thể hiện lòng chung thủy” . Thế là nàng đã đang tâm vô tận Huế mua một lọ a-xit . Rồi một đêm “nàng” hẹn Lê Đình Ty gặp  nhau tại bờ mương An Xá. Con quỷ đã tạt a xít vào mặt người mà  trước đó mình đã yêu nồng thắm . Lê Đình Ty bị cháy xém mặt mày , phải điều trị khắp nơi mấy năm trời mới lành vết thương. Nhưng khuôn mặt thì thành sẹo. Đó là “ cái sẹo thơ” oan nghiệt mà anh phải mang suốt đời. Từ đó, bao nhiêu tiền của đều chi cho việc chữa bệnh. Lành vết thương cơ quan xét cho anh về hưu non. Thời điểm đầu năm 2005, lương anh tháng chỉ 320 ngàn đồng . Nhà đã nghèo, lại nghèo thêm .   Tôi ốm đau chẳng làm gì được / Vợ một mình chạy bảy miệng ăn , nên anh đau xót khi nghe con gái nhỏ năm sau tuổi  ra đường ngồi bán nước , báo tin “vui”  cho bạn bè : Giữa trưa hè dầm dề áo ướt / Được hai đồng, mừng rỡ con khoe... Trong bài thơ “Cảnh nhà” , cảnh tượng còn thương cảm hơn :  Vợ trực về nhịn đói /  Lo chạy bữa ngày mai...  Bà vợ phải vừa đi làm việc nhà nước, về trồng rau, nuôi heo gà, đi hái củi bán mới trang trải đủ chi tiêu  tằn tiện của gia đình.

         Cái thời khốn khó ấy, bạn bè cũng chẳng khá hơn. Có mấy đứa bạn thân cùng trường huyện xưa đang làm thơ ở Huế thì đứa nào cũng đeo đuổi thơ phú,  đứa nào cũng nghèo , lấy ai cậy giúp ! Bài thơ “ Cùng cảnh”, tặng Hải Kỳ kể chuyện Hải Kỳ đi học đại học sư phạm ở Huế, vợ ốm cần phải ra Đồng Hới thăm vợ , mà chẳng có đồng dính túi. Lê đình Ty đến thăm bạn, tuid cũng chỉ “đầy gió căng phồng: Cuối cùng hai đứa bèn quyết định “ Liều một chuyến nhảy tàu !”   Thật xót xa và đồng cảm !

 

            May mà Lê Đình Ty có người vợ  tuyệt vời. Một người vợ Tám Cám, rất mực thương chồng, thương con , nên bao nhiêu nỗi đau đớn, túng bấn đều được hóa giải !. Y sĩ điều trị Nguyễn Thị Thêm vợ Lê Đình Ty làm việc ở Phòng khám Cán bộ Đồng Hới, mặc cho thiên hạ dèm pha, đã tận tình chữa trị, chăm sóc chồng . Thêm nhiều lần vay mượn tiền bạc đưa chồng ra Hà Nội vá da mặt. Những ngày đó, có lần tôi từ Huế ra thăm Ty . Anh ngồi trong một khung màn   để che ruồi như cái lồng bàn , vì vết thương đang sưng tấy . Chồng bị nạn vì thơ, người làm thơ như tôi là những kẻ “tòng phạm” đến nhà phải “ ghét” mới đúng. Thế mà Thêm vẫn tươi cười pha nước mời, rồi bảo tôi “Anh  ngồi chơi nói chuyện với anh Ty, em ra đây một lát về ngay”. Thì ra nàng lẻn đi mua đĩa mồi, xị rượu mang về, bảo tôi: ”Anh Ngô Minh ngồi chơi uống rượu, đọc thơ cho anh Ty nghe, anh ấy đang thèm thơ lắm đấy !”. Chao ôi, một tình yêu, một tấm lòng. Cao hơn, một tầm văn hóa bao dung mênh mông!

 

                 Sau tai nạn ấy, Lê Đình Ty không thể đi  làm cơ quan được , phải về hưu mất sức hai trăm ngàn đồng một tháng. Đến nay thì  lương hưu của Ty  cũng chỉ 680 ngàn  đồng ! Con thì ba đứa đang nhỏ, nên gia đình càng khó khăn hơn . Nhưng anh vẫn không bỏ thơ . Hình như thơ đến với anh còn nồng nàn hơn trước . Tuy muộn mằn so với bạn bè cùng lứa nhưng đến nay anh đã xuất bản được 6 tập thơ, trong đó có tập Tôi về áo ướt được tái bản. Tập thơ Khoảng vắng ( 1995) của Lê Đình Ty được Giải thưởng Lưu Trọng Lư ( Quảng Bình) lần thứ nhất ( 1991- 1995).... Anh còn có hai tập thơ thiếu nhi “ Gió ở đâu “ ( 1998) và truyện thơ “ Huyền thoại Bàu Tró” ( 1999) được bạn đọc đánh giá cao . Đó là sự kỳ lạ của khả năng vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của con người . Tôi kể lan man như vậy để muốn nói một điều : Đối với Lê Đình Ty thơ chính nghiệp chướng , là định mệnh không thể chối bỏ : Đây , câu thơ / Giọt máu  / Câu thơ đẫm đầy nước mắt ...Riêng đối với tôi, mỗi bài  thơ của Lê Đình Ty là sự trổ bông của một trái tim đau đớn một đời đập vì yêu, vì sự tốt lành của cuộc sống !

             Hội Văn nghệ Quảng Bình bảo Lê Đình Ty làm đơn xin vào Hội Nhà văn Việt Nam. Ty xứng đáng lắm, nhưng  ham thơ, ham rong chơi, cứ quên không  làm đơn. Mới đây Ty làm cái đơn và gửi vào Huế nhờ bạn là tôi và nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ là bạn thân ký giới thiệu để kỷ niệm bạn bè. Mỹ Dạ bận đi họp  ‘’ Hội nghị phụ nữ tiêu biểu’’ ở Hà Nội . Hoàng Phủ Ngọc Tường hỏi, đơn ai thế. Tôi bảo đơn xin vào Hội của Lê Đình Ty, gửi vào nhờ Dạ ký ‘’. Hoàng Phủ bảo  tôi : ‘’ Lê Đình Ty mới là nhà thơ thực sự, hắn sống chết vì thơ . Đem đây mình ký thay Mỹ Dạ’’. Thế là ông Tường liệt nằm một chỗ, lật nghiêng người  ghi ‘’Đề nghị kết nạp ‘’ rồi ký tên, chữ cong queo, võng xuống như nỗi đa mang. Tôi mang ra Đồng Hới cho Ty, Ty cầm tờ giấy có chữ ký Hoàng Phủ reo lên :’’ Được Hoàng Phủ Ngọc Tường ký giới thiệu như ri là  sướng lắm rồi. Như là một lần vô Hội rồi... »  

           Xuất bản được tập thơ thơ bây giờ thật không dễ . Sau khi có giấy phép , còn phải vượt qua chặng “ đầu tiên” là tiền đâu. Để in tập thơ “ Lời hạt” , Lê Đình Ty phải thế chấp “thẻ đỏ ”nhà , mới vay được 3 triệu tiền ngân hàng để in thơ ! In xong thơ là gửi tặng bạn bè, lại phải một lần tốn phí bưu điện , rồi lại  còng lưng làm vườn, nuôi gà, lợn, nuôi cả cá  rô phi đơn tính để trả nợ thơ .  Tập thơ  Lời hạt  gồm những bài thơ viết trong những tháng ngày anh bị “tại nạn tình yêu” đến thay đổi hình hài, trong lúc cảnh nhà túng bấn . Đó  Là những suy nghĩ về đời và thơ, về số phận và tình yêu của con người đã vào tuổi tri thiên mệnh  Đó là tâm sự riêng của đời anh. Tai ương, khốn khổ và day dứt tình đời, tình người. Thương cho kiếp người phù du khát vọng, thương cho những đứa con xa luôn đau đáu một làng quê, thương bóng hình mẹ già côi cút vô ra nơi cõi nhớ, thương những người tình với nỗi buồn làm hành trang còn lại... Thơ là sự chiêm nghiệm , là một cuộc trở về từ trong cõi lãng du phiền muộn, cầm lên những mất mát và soi tận cõi lòng :...Ai sau rèm cấm xa xôi / Nhớ người áo ướt dưới trời đem hong?

 

               Thời “di động”, Lê Đình Ty nghèo , thèm lắm mà không làm sao có con dế  cầm tay để gọi bạn bè. Thương bạn , nhà văn Nguyễn Thế Tường bán rẻ cho Ty  một cái Samsung có hai trăm bạc. Lúc đầu Ty chỉ dám mua loại card chỉ để nghe, không gọi được. Những khi có tiền nhờ nghề làm mi, in ấn sách cho các tác giả, Ty mua cái card trăm ngàn, thế là hứng lên gọi ai cũng đọc thơ qua di động. Chỉ ba bốn bài thơ đã hết nửa tiền card. Thế rồi lần ấy  Ty say, ngã xe , con dế biến đi đâu mất, phải nhịn gọi  ba tháng trời. Tôi ra Đồng Hới, thấy bạn mà thương , tôi liền nghĩ ra một kế : Chỉ có  mấy trăm trong túi, nhưng tôi dẫn  Lê đình Ty đi thăm bạn bè, gặp ai tôi cũng bảo :” Ty mất điện thoại rồi, tớ ủng hộ nó ba trăm, cậu cho thêm một ít nữa cho nó mua cái điện thoại cũ kẻo tội”. Thế mà ngày đó hai đứa kiếm được triệu tư bạc. Chiều hai đứa lại vênh vang ra của hàng viễn thông mua dế…

           Buồn quá, nhưng xem ra tất cả vẫn còn . Một người “sau rèm cấm”,  tấm “áo ướt”, và người tình trắng tay đang đem hong lại niềm yêu mến cũ ... Ty say thơ đến độ, vào cuộc rượu nào ban đầu cũng rất gìn giữ, chối từ,  nhưng khi đã đọc vài bài thơ thì “rượu như lửa tôi uống tràn thay nước” ( Phùng Quán). Thế là Ty say. Vì say, trong năm năm qua, Ty đã sáu lần ngã xe máy rồi. Khi thì gảy xương vai, khi thì bươu đầu, mẻ trán. Nhưng may toàn vết thương nhẹ, nằm nhà vợ điều trị năm bữa nửa tháng lại lang thang. Có lần tan cuộc rượu, đang lẽ về nhà theo hương núi, thì Ty lại  lao xe ra vùng cát Hải Thành mé biển giữa trưa hè “chang chàng cồn cát nắng trưa Quảng Bình “. Xe lủi vào ụ cát bên đường, Ty ngã bắn người ra nằm phơi trên cát bỏng. May nhờ có người đi qua, nhận ra nhà thơ, liền gọi  taxi đưa về nhà, chứ để  đến chiều chắc đã thành “Khô Ty” rồi ! Có lẽ Ty đã quá xơ xác vì thơ, nên  bây giờ thơ đã cứu Ty chăng ?

                                                         

           Vâng, trong bài đồng dao miền Trung kể về mẹ gà đẻ  ấp mười quả trứng, cả mười đều bị hiểm họa và rủi ro số phận, nhưng: Chớ than phận khó ai ơi / Còn da lông mọc ,còn chồi nảy cây... Mất mà được .Đó là cái lý sinh tồn mà chỉ nghệ thuật mới nói lên được, nhờ cái tâm lớn của nghệ sĩ !  Cái còn lại ấy , cõi lòng ấy chính là sợi chỉ xuyên suốt thơ  Lê Đình Ty . Không mà có , ấy là khi cõi lòng còn chan chứa ! 

 

          Bây giờ anh vẫn yêu si mê như thế. Vẫn làm thơ như thế. Anh đi lên Hồ An Mã miền Trung Du Lệ Thủy, anh ra tận Minh Hóa theo tiếng gọi của con tim. Di rong chơi suốt ngày.  Để rồi cuộc rượu vui nào anh cũng có thơ mới đọc cho bạn bè làm thức nhấm...Ôi, thời bây giờ, ai cũng lo  kiếm tiền làm nhà, cho con đi du học. Người sống nghèo với chất thi sĩ lãng tử nồng nàn như Lê Đinh Ty hiếm hoi lắm . Nhờ những cuộc say ấy, năm   2007,  Lê Đình Ty cho ra mắt tập thơ  Gửi cùng ngọn gió, với  chất  thi sĩ tang bồng :  Ngồi buồn bấm chữ mà chơi / Gửi người người có ngậm ngùi cùng ta...

             Thương lắm, bạn của tôi ơi..

                                                                                            Huế 2003- 2007

Du lịch Cửa Lò

Du lịch Cửa Lò

Tạp chí Nhà văn có chuyến Du lịch Cửa Lò, Nghi Xuân, Vinh, Nghê An, quê Bác rất thú vị. Xin gửi chùm ảnh phóng sự đến với bạn đọc: (15 - 5 - 2013 đến 17 - 5 - 2013)

Tổng biên tập Võ Thị Xuân Hà


   Nhà văn Vũ Đảm (đầu trái), nhà thơ Đào Vĩnh (cùng phải)


Nhà văn Đàm Quỳnh Ngọc ( thứ 3 trái sang)




Chị Vũ Thị Bình, Chị Nguyễn Thị Hạnh (trái)

Chị Nguyễn Ngọc Dư ( cuối phải) Đàm Quỳnh Ngọc (đầu trái)



Bía công đức triều Quang Trung chọn Phượng Hoàng Trung Đô


Bùi Thu Phương (trái). chị Vũ thị Bình



Cháu Phương Mai (cuối phải - con gái cưng của Nhà văn Vũ Đảm)

Đỗ Hoàng trước tượng Đại Thi hào Nguyễn Du - Nghi Xuân
Pv: Do Hoang

"Cửa Lò biển gọi" vào hè 2013
 
Tại tỉnh Nghệ An, lễ khai mạc du lịch Cửa Lò 2013 đã diễn ra với chương trình văn nghệ đặc sắc mang chủ đề: Cửa Lò biển gọi và màn pháo hoa rực rỡ sắc màu.
Bãi biển Cửa Lò đang ngày càng phát huy có hiệu quả tiềm năng du lịch.
Chương trình khai mạc là một trong những hoạt động văn hóa được tổ chức hàng năm vào dịp 30/4 – 1/5 nhằm tôn vinh giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của ngư dân vùng biển Cửa Lò trong quá trình hội nhập và phát triển.
Thông qua các hoạt động văn hóa truyền thống để tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, tiềm năng du lịch của Nghệ An nói chung và Cửa Lò nói riêng. Cửa Lò đã và đang làm hết sức mình để phát huy giá trị tài nguyên du lịch, nhanh chóng xác lập vị thế xứng đáng trong hệ thống đô thị du lịch biển Việt Nam, bằng việc xây dựng Cửa Lò trở thành thành phố văn hóa, thành phố du lịch biển xanh, sạch, đẹp, giàu mạnh, văn minh.
Đêm Cửa Lò lung linh, rực sáng trong màn bắn pháo hoa kéo dài gần 30 phút đã thu hút đông đảo sự quan tâm của du khách gần xa đến với thị xã biển Cửa Lò trong ngày khai trương mùa du lịch hè 2013.