Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

Đỗ Hoàng - Người đi nhặt hồn thơ cũ

ĐỖ HOÀNG, NGƯỜI ĐI NHẶT LẠI HỒN THƠ CŨ

 

ĐỖ TRƯỜNG
 
Họ Đỗ nhà tôi ít có người tài, nên người làm quan không nhiều, viết văn làm thơ lại càng quí hiếm. Hôm rồi đại hội họ toàn quốc, nghe nói, có bác muốn hướng một số cháu thi vào trường viết văn, tương lai trở thành nhà văn, nhà thơ để cân bằng với các dòng họ khác. Nhưng có một số ý kiến lại cho rằng, chẳng có cái trường nào đào tạo được các nhà văn, nhà thơ cả, cứ để các cháu phát triển một cách tự nhiên. Thấy ý kiến này có lý, ngay sau đó, tôi viết thư cho bác Đỗ Ngọc Liên chủ tịch (hodovietnam.vn) an ủi và đề nghị: Nếu thật sự xảy ra cuộc thi đấu văn thơ, khi họ Nguyễn có những Nguyễn Duy, Nguyễn Trọng Tạo… Họ Trần có Trần Mạnh Hảo, Trần Đăng Khoa…Họ Đỗ ta sẽ đưa Đỗ Hoàng ra tỉ thí.Theo đánh giá của nhà văn, triết học gia Nguyễn Hoàng Đức, Đỗ Hoàng của chúng ta, là một trong ba nhà thơ nặng vốn nhất Việt Nam hiện nay. Do vậy các bác cứ việc rung đùi, vểnh râu chờ kết quả.
    
           Nhà thơ Đỗ Hoàng tại tư gia - Huế
Đỗ Hoàng sinh năm 1949 ở một làng quê nghèo thuộc tỉnh Quảng Bình. Bố ông nguyên là lính khố đỏ, đánh đấm ở An-gie-ri mãi không chết, quay súng về làm lính bộ đội cụ Hồ. Được một thời gian ngắn, ông bị chính đồng chí chỉ huy bắn chết từ phía sau, gán cho cái tội chạy trốn, hàng địch, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, yêu đương tình ái. Cái nghi án, nhọ như đít chảo này, quàng vào cổ Đỗ Hoàng, theo ông hết những năm tháng tuổi trẻ và còn rớt lại đến tận hôm nay.
 
Cũng từ những nỗi đau không thể nói, không người giãi bày ấy, nó đã ủ cho tâm hồn Đỗ Hoàng mau chín hơn. Để ông có những suy nghĩ vượt thời gian, ngay từ những ngày đầu làm người lính chiến. Đầu những năm bảy mươi, khi các nhà thơ cùng thời đang say cuồng cổ vũ cho cuộc chiến thần kỳ, ông đã nhận ra sự thật thối tha của những kẻ bán mua chiến tranh, gây ra cảnh nồi da xáo thịt đồng loại. Ngày 20-11-1973, trên điểm chốt 176 mặt trận biên giới Việt Lào, nghe tin Lê Đức Thọ và Kissinger nhận giải Nobel hòa bình, lời thơ mỉa mai, đau đớn của ông dường nghẹn quắn lại:
 
“…Nỗi hận thù nghìn đời kẻ bày ra chiến tranh,
Biến nhà văn trở thành biệt kích
Biến đồng loài thành ra tội đồ thứ thiệt,
Trái đất tỷ năm này dằng dặc khổ đau!
 
Bọn chúng muốn lưu tiếng tăm còn mãi mai sau,
Muốn tổ tông giống dòng nghìn đời quan tước.
Bọn chúng muốn thăng quan tiến chức,
Tranh giải thưởng này đến các giải thưởng kia.
 
Đến như cái Nô Ben nào có ý nghĩa gì.
Khi phần thưởng trao vào tay quỹ dữ
Khi phần thưởng lại trao cho những tên đồ tể,
Coi mạng người như cỏ rác
trong cuộc chiến tranh này…“(Sự Thật Chiến Tranh)
 
Chiến tranh càng khốc liệt, sự tuyên truyền đánh vào tâm lý người dân, người lính cần thiết hơn bao giờ hết. Do vậy, người ta đã dựng lên những người lính điển hình, như Phạm Tiến Duật… (giữa chiến trường được hưởng tiêu chuẩn như một sỹ quan cao cấp) để nhả ra những câu thơ ru người vào khói lửa, binh đao:
 
“Cô bộ đội ấy đã đi rồi
Chuyển đơn vị vào vùng rừng trong ấy
Em gái đi, các anh ở lại
Biết đến bao giờ mới được gặp nhau…
 
…Lúc ấy lòng anh biết mấy tự hào
Tự hào vì có em ở đây, tự hào vì đất nước
Ở đây màu hồng xiết bao thân thuộc
Xao xuyến lòng anh, xao xuyến bạn bè… “ (Phạm Tiến Duật)
 
Trong lúc Phạm Tiến Duật đang bắt nhịp, gân lên“Đường ra trận mùa này đẹp lắm“hừng hực vui như bản tình ca trẩy hội, thì thơ Đỗ Hoàng quặn lên đau xót. Ông xé toạc tấm áo che đậy sự lọc lừa giả dối ấy, để thấy rõ vào miền trong sự thật là con đường máu lửa và chết chóc:
 
“…Đoàn lính gái áo quần còn mới
Lứa lính này đưa tới miền trong.
Họ không hề bị đeo gông,
Mà sao ánh mắt mênh mông nỗi buồn!
 
Bước gấp lại đầu buôn lạnh vắng,
Nghe chỉ huy sốt sắng truyền lời:
“Rằng quân ta đủ gái trai,
Vào trong giải phóng đất trời tự do!...”(Lính Gái)
 
Rồi đoàn lính gái đã không trở lại. Cái chết của họ, những người nữ quân nhân ấy, đã đẩy cuộc chiến lên đỉnh điểm khốc liệt và tàn nhẫn. Với tôi, bài “Cái Chết Của Người Đẹp“ là một trong những bài thơ hay, bi thảm, chân thực, cảm thông nhất viết về chiến tranh. Âm vang của lời thơ vọng lên như tiếng chuông tiễn đưa oan hồn, để nghìn năm sau em cũng chẳng được quay về.
 
Và đúng như vậy, nếu cái đẹp bị hủy diệt, thì hành tinh này dứt khoát sẽ bị vứt bỏ:
 
“Em chết rồi.
Người đẹp!
Viên đạn của thế kỷ nào bắn em?
Anh sững sờ giữa trái đất máu đổ.
Xác em nằm trong huyền ảo xa xôi.
 
Không gian đen,
Không gian trắng
Không nói ra lời
Nỗi đau trái đất màu mây xám.
Thế là vô tình
Sự sống
Bắt tay cái chết chia lìa!
 
Quân phục em mang
Máu thâm sì.
Nghìn năm sau em chẳng về được nữa.
Dù vật chất biến hoá bảo toàn,
Dù sự sống chỉ là điều phi lý.
Không gian,
Thời gian
Mệt mỏi trường tồn!
 
Anh đi trên trái đất cô đơn.
Gió bấc lạnh thổi tung làn ngực nở.
Xác em nằm
Một hành tinh vứt bỏ.
Vó ngựa trường chinh lãnh đạm dẫm qua…“ (Quảng Trị1-1974)
 
Cho đến lúc đang ngồi viết những dòng chữ này, tôi cũng không thể lý giải: Nơi chiến trường ác liệt và bao cạm bẫy đang rình mò như vậy, Đỗ Hoàng viết và cất giấu được bản thảo? Để đến năm 1996 Nhà Xuất Bản Văn Học (Hà Nội) in thành tập thơ“Tâm Sự Người Lính“. Nói dại, vào thời điểm ấy, bản thảo này, rơi vào tay kẻ cơ hội nào đó, số phận Đỗ Hoàng chắc chắn đi tong. Và nếu như Đỗ Hoàng hy sinh ngoài mặt trận, trong hành trang, người ta tìm thấy tập bản thảo này, thay cho báo tử, có lẽ là lời tuyên án chẳng khác gì cha ông trước đây.
 
Đặt tựa đề tập thơ là “Tâm Sự Người Lính“ tôi có cảm giác dường như vì lý do xuất bản, hay vì lý do nào khác, Đỗ Hoàng muốn làm nhẹ hình thức đi chăng? Thật ra nó phải là Số Phận Người Lính. Cái bi thương trong chiến tranh dù ở đâu và giai đoạn nào trước nhất thuộc về người lính. Máu và nước mắt họ đối với những kẻ có quyền và phát động chiến tranh chỉ là“Đầu hèn lính mọn lại sắp rơi“. Dù có nâng lên chủ nghĩa này, học thuyết nọ, thì cuộc chiến này, đọng lại một cách khách quan, chân thực nhất qua bài“Hành Quân Qua Đồng Hới“
 
“Dừng lại vội vàng giây lát thôi,
Thành quách ngày xưa đổ nát rồi.
Sao cảnh trăm đời như vẫn một.
Đầu hèn lính mọi lại sắp rơi!“ (Tháng10-1973)
 
Viết về chiến tranh, súng đạn khói lửa, những chết chóc tang thương của người lính, nhưng trong thơ Đỗ Hoàng tuyệt nhiên không thấy sự hận thù địch, ta, chỉ thấy tình thương ngút trời với cái nhìn cảm thông:
 
“ Lính ở bên kia mấy tiểu đoàn?
Vô nhiều đứng chật cả đường quan.
Ngày mai không biết nơi nào đánh?
Nhất định có người phải chết oan! “(Chết Oan-12-1973)
 
Sự cảm thông đó thực sự chỉ có được từ người lính chiến có trái tim nhân hậu. Do vậy, thơ ông dường như không còn của riêng mình nữa, mà nó là những cảm xúc chung của những người lính cả hai phía trong cuộc chiến tương tàn này:
 
“Ai nhìn khuôn mặt lính?
Cháy đen màu đồng hun.
Mấy năm trời đã sống
Lặng câm như khoảng rừng.
 
Sinh viên năm thứ nhất
Sinh viên năm thứ hai
Lớp lớp trong cỏ rác
Dưới đất đen sâu vùi.
 
Số sư đoàn cơ động
Số sư đoàn chốt cao,
Biến đi cùng năm tháng
Đời trần ai biết đâu?“ (Thân Phận Người Lính-1972)
 
Tôi nghĩ, “ Ngưng Bắn Về Thăm Quê“ là bài thơ hay nhất của Đỗ Hoàng viết trong thời gian chiến tranh(1970-1975). Chẳng cần phải đến sau 30-4-1975 mới nhận ra, như nhà văn Dương Thu Hương, khi vào tới Sài Gòn, ngồi bệt xuống đường, khóc, hét lên cho cả thế hệ bị dối lừa. Ngay từ năm 1973 Đỗ Hoàng đã vạch ra: “Kiểu làm ăn hợp tác/ Đói nghèo đến tủy xương“. Bài thơ như một lời ai điếu sớm cho một chủ thuyết và những chính sách sai lầm. Vì một lý tưởng nào đó, hay muốn thoát khỏi đói nghèo, thanh niên phải lách mình ra trận?“…Trai tráng bỏ quê hương/ Sung vào nơi lính tráng/Coi thường thân mạng sống/Cố lách qua đói nghèo…“
 
Vâng! Chúng ta hãy đọc lại trọn bài“ Ngưng Bắn Về Thăm Quê“ để thấy toàn cảnh của bức tranh nhoăn nheo, tiêu điều miền Bắc hậu phương vững chắc vì miền Nam một thời:
 
 
“Vừa mới đến đầu thôn,
Đã thấy làng lạnh vắng.
Mùa này giêng hai đến,
Người chạy ăn khắp nơi.
 
Làng quê đồng trắng trời,
Tre yếu gầy buổi đói.
Mái nhà tranh không chói(1)
Dửng dưng trời cao xanh!
 
Khắp nơi người chạy ăn,
Như kiến ong vỡ mật.
Đói không còn biết chết.
Xuống biển lại lên rừng.
 
Mẹ già đang tha phương.
Quên đường bom đạn nổ.
Chưa trọn đời đói khổ.
Nợ nần chất cháu con!
 
Ruộng ở nhà bỏ hoang,
Lúa tiêu điều xơ xác.
Kiểu làm ăn hợp tác,
Đói nghèo đến tuỷ xương!
 
Trai tráng bỏ quê hương,
Sung vào nơi lính tráng,
Coi thường thân mạng sống.
Cố lách qua đói nghèo!
 
Khuôn mặt đất nhăn nheo,
Quê nhà tan xác lá.
Bao giờ không đói khổ?
Lúa đầy rương giêng hai!“
 
30 -11 – 1973 (1) Lợp thêm, tiếng miền Trung)
 
Sau chiến tranh, Đỗ Hoàng chuyển sang viết, làm thơ chuyên nghiệp. Hiện ông đang làm công việc biên tập của tạp chí nhà văn Việt Nam. Ông là người ham đọc, tự học, biết nhiều sinh ngữ, nhất là tiếng Trung. Đỗ Hoàng có thể trực tiếp đọc và nghiên cứu từ nguyên bản thơ văn cổ. Nên vốn cổ văn cũng như hiểu biết của ông về lãnh vực này sâu và đa dạng.
 
Cách đây mấy năm, Đỗ Hoàng đã dịch và phóng tác từ nguyên bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân thành 6 122 câu thơ lục bát với tựa đề Kiều Thơ. Năm vừa rồi (2012) Đỗ Hoàng lại cho ra lò song thất lục bát Khúc Ngâm Vợ Lính dịch nguyên tác từ tác phẩm chữ Hán Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn. Hai tác phẩm này, đã được đại thi hào Nguyễn Du và nữ sỹ Đoàn Thị Điểm dịch, từ mấy trăm năm nay được coi là quốc hồn quốc túy của nước Việt ta. Việc làm được coi là ngông, động trời này của Đỗ Hoàng, tốn khá nhiều bút mực trên văn đàn. Nhưng khi đọc, khó ai có thể phủ nhận tài năng cũng như sức (vốn) sáng tạo của ông. Và biết đâu đấy, trăm năm sau, khi nói về Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, hậu nhân của chúng ta chẳng nhắc đến Kiều Thơ và Khúc Ngâm Vợ Lính của Đỗ Hoàng?
 
“Lẻ loi cánh phượng trời xa
Phải chăng tạo hoá chưa ra an bài…”
 
(Kiều Thơ)
 
“Xưa nay chinh chiến trận đồ
Tấm thân muôn dặm nấm mồ táng đâu
Gió thổi rát thêm sầu mặt lạnh
Dòng nước sâu ngựa tránh chân xiêu
Kê yên, gối trống sớm chiều
Màn trời chiếu đất trải nhiểu đắng cay!...”
 
(Khúc Ngâm Vợ Lính)
 
Là nhà thơ, mang tính khí của người lính trận, nên gặp những bài thơ tắc tị, vô lối, bất kỳ tác giả là ai, tức khí, ông cũng phang thẳng cánh. Gần đây Đỗ Hoàng đã đè nghiến những bài thơ viết bằng tiếng Việt, đọc không thể hiểu của những Nguyễn Quang Thiều, Văn Cầm Hải, Vi Thùy Linh…dịch sang tiếng Việt theo thể lục bát. Việc làm của ông gây ra nhiều tranh luận, nhưng với tôi những bản ông dịch, quả thật hay, từ ngữ sáng, đẹp so bài gốc của nó rất nhiều. Cái chính, Đỗ Hoàng làm cho người đọc hiểu tác giả đó muốn nói cái gì, điều gì. Đành rằng thơ là cảm xúc riêng của tác giả, nhưng dùng những từ ngữ rắm rối, lảm nhảm tối thui để diễn tả, người đọc không thể hiểu, thì làm sao đồng cảm, xẻ chia cảm xúc? Dù có biện giải thơ mới, trừu tượng hay..gì gì ..đi chăng nữa, nó cũng chỉ là thứ nên cho vào kho.
 
Đỗ Hoàng đã sáng tác khá nhiều thơ theo thể tự do. Có những bài ông viết cách nay đã ba, bốn chục năm, nhưng đọc lên vẫn thấy rất mới và lạ, trẻ trung. Thật ra thơ hay hoặc dở, cũ hay mới, chẳng liên quan gì đến thể loại lục bát, tứ tuyệt, hay thể tự do. Thể loại chỉ là hình thức. Tải đến, làm người đọc rung động là những ngôn từ. Ngôn từ làm nên hình tượng thông qua sự tưởng tưởng cảm xúc của nhà thơ. Thơ hay dứt khoát phải có từ mới, hoặc cụm từ mới.Từ hay cụm từ mới không có nghĩa người viết chế, nghĩ ra, mà do cách sử dụng từ ngữ. Nhiều từ, cụm rất cũ, nhưng người viết đặt hoặc ghép trong câu đúng văn cảnh nào đó, gây bất ngờ cho người đọc, nó trở thành câu mới, nghĩa mới. Nhà thơ tài năng, ngoài kiến thức ra, dứt khoát phải là người có trí tưởng tượng và sự liên tưởng phong phú.
 
Với tôi, Đỗ Hoàng là một trong số ít các nhà thơ tài năng như vậy. Chưa một lần tiếp xúc, gặp gỡ Đỗ Hoàng, nhưng đọc thơ, tôi nghĩ, ông là người giỏi triết học. Thơ của ông giầu hình tượng so sánh, phảng phất triết lý sống dù đó là thơ tình. “Khoảng Cách” là một bài thơ, ông viết cách nay đã tròn ba mươi năm, nói lên điều đó:
 
“Chẳng có khoảng cách nào giữa các vì sao mà ánh sáng kia không tới.
Nhiều vô cùng gần lại trong tầm tay
Nhà thiên văn có thư­ớc đo cực tiểu
Để đi hết không gian
chiều rộng
chiều dài!
 
Nh­ưng em!
Chẳng ở đâu trong thiên thể.
Chỉ cách anh lối phố, con đ­ường.
Thế mà anh chư­a một lần đến đ­ược.
Dù tốc độ trái tim nhanh hơn ánh sáng hàng tỷ năm!
 
Thế mới biết,
Tình anh chỉ là thoáng chốc
Tr­ước tình em
vĩnh viễn thời gian!
 
Dễ dàng chi trong đời đi hết?
Khoảng cách
Từ trái tim ng­ười
đến trái tim tôi!”
 
Thơ của Đỗ Hoàng đậm tính triết, nặng phần trí nên thường có bố cục chặt chẽ. Khi trích dẫn thơ của ông, khó tách ra từng đoạn, mà chỉ có thể bê nguyên bài. “Ngủ Quên” là một trong những bài thơ như vậy. Cái qui luật, mối quan hệ tuần hoàn của tự nhiên ấy, là triết lý sống liên tưởng về con người và giá trị của tâm hồn và cuộc sống:
 
“Không có mặt trời,
Trái đất ngủ quên.
Trong triệu năm băng giá!
 
Không có con thuyền,
Dòng sông ngủ quên.
Và tự xoá mình khi về biển cả!
 
Không có người­ đi,
Con đ­ường ngủ quên.
Rồi cũng tan vào cây cỏ!
 
Không có tình yêu,
Trái tim ngủ quên.
Bao lứa đôi
Hóa đá!” (Huế 1983)
 
“Trước Tài Nghệ Ướp Xác“ là một bài thơ hay tiêu biểu về nhân sinh quan sâu sắc thân phận con người của Đỗ Hoàng, được viết vào tháng 5-1973(in trong tập thơ Tâm Sự Người Lính). Đọc, tôi cảm thấy hơi bị ê răng. Nếu như bài thơ này lọt ra ngoài, trong thời kỳ đang cuồng say ấy, gặp mấy ông ” vịnh người ngồi trên” Đỗ Hoàng gặp đại hạn như vụ Cây Táo Ông Lành-Hoàng Cát là cái chắc. Dù ông đã có lời giải thích, cảm hứng viết từ vụ ướp xác ở Thanh Hóa nào đó:
 
“Ai chết nghìn năm còn để xác?
Thế giới hôm nay mãi sững sờ!
Còn ta sống giữa đời đen bạc,
Như chết nghìn năm dưới đáy mồ!“
 
Không phải ngẫu nhiên, nhà triết học Nguyễn Hoàng Đức đánh giá Đỗ Hoàng, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Hưng Quốc là ba nhà thơ nặng vốn nhất Việt Nam hiện nay. Vốn ở đây chắc chắn là đạo đức, tư tưởng, chí khí và những kiến thức uyên thâm trong mọi lãnh vực của nhà thơ mà Nguyễn Hoàng Đức muốn nói đến. Với Đỗ Hoàng, tôi bảo đảm người đọc sẽ còn gặp nhiều những bất ngờ khác từ nơi ông.
 
Và nếu như nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, bước ra từ ca dao lục bát để làm mới thi ca, thì tôi tin nhà thơ Đỗ Hoàng đang cần mẫn đi nhặt lại hồn thơ cũ đó.
 
Leipzig ngày 11-6-2013
 
Đỗ Trường
 
Tác giả gửi cho NTT blog
 

Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

Trường cấp hai Hạ Trạch ngày ấy

 
                 Nhà thơ Đỗ Hoàng                                         
 
TRƯỜNG CẤP 2 HẠ TRẠCH NGÀY ẤY

             Đỗ Hoàng

 
  Trường Phổ thông Trung học cơ sở Hạ Trạch vinh dự mang tên nhà nhơ nổi tiếng Lưu Trong Lư. Nhà thơ Lưu Trọng Lư cũng thật vinh hạnh khi tên mình được đặt cho trường trung học cơ sở quê nhà.
 Nhớ lại hơn năm trước khi trường chuẩn bị buổi lễ trọng thể đổi tên trường, thầy giáo hiệu trưởng của trường Nguyễn Tiến Chung, đồng  thời là nhà thơ Cảnh Giang, hội viên Hội Văn nghệ Quảng Bình vừa có thư mời, vừa điện trực tiếp cho tôi sắp xếp làm sao về dự buổi lễ.
  Tôi không chút đắn đo, chần chừ, nhận lời ngay và cố gắng sắp xếp để vệ dự buổi lễ đổi tên trường hiếm có này.
   Tôi theo chuyến xe tốc hành chuyên chạy ban đêm từ Hà Nội vào Quảng Bình, đến quá cầu sông Gianh thì dừng lại đi bộ về trường Hạ Trạch nằm bên bờ nam sông Gianh.
  Đến trường tôi gặp rất nhiều đại biểu quan khách, giáo viên, học sinh cũ của trường về dự lễ, có cả con cháu gia đình nhà thơ Lưu Trọng Lư. Tôi nhận ra anh Lưu Trọng Hải, còn trai trưởng của nhà thơ, anh Lưu Trọng Tường, Lưu Trọng Văn, Lưu Trọng Bình. Chỉ vắng có người con gái và đạo diễn Lưu Trọng Ninh đang bận đi làm phim.
  Anh Hải, anh Tường tôi không biết, chứ Lưu Trọng Văn, Lưu Trọng Bình đều là anh em đồng nghiệp. Lưu Trong Bình còn thân hơn vì tôi và Bình đều làm báo hồi ở tỉnh Bình Trị Thiên. Tôi ở bên báo Dân, Bình ở bên Đài phát thanh Bình trị Thiên. Anh em gặp nhau hàn huyên đủ thứ chuyện.
   Anh Cảnh Giang cho biết ngoài kinh phí trên cấp, anh em nhà Lưu Trọng Lư và dòng tộc họ Lưu ở Hạ Trạch cũng có đóng góp thêm phần kinh phí giúp cho buổi lễ.
  - Thật vinh dự cho nhà thơ các anh ạ - Cảnh Giang trầm trồ - Hạ Trạch nhiều nhân vật nổi tiếng, nhà chính trị, nhà quân sự, danh sỹ. Ai cũng xứng đáng được đặt tên trường. Cấp trên, nhân dân và chúng tôi cân nhắc mãi và cuối cũng ai cũng đồng ý lấy tên nhà thơ Lưu  Trọng Lư đặt tên trường.
  - Đó là phần thưởng tinh thần rất xứng đáng cho nhà thơ. Nhà thơ được quê hương tôn vinh, còn vinh dự nào bằng! - Tôi nói thêm.

                      
  
                                      *
                                                 *  *
 Buổi lễ khá long trọng theo nghi lễ học đường. Các đại biểu ngồi trên đài cao, học sinh diễu hành đi qua lễ đài trong tiếng nhạc vang lừng.
  Thầy hiệu trưởng Nguyễn Tiến Chung thay mặt Ban giám hiệu, thay mặt nhà trường đọc bản tống kết thành tích năm học và quá trình xây dựng phát triển trương phổ thông trung học cơ sở Hạ Trạch.
  Báo cáo nêu rõ:
  Hạ Trạch anh hùng là một làng quê nghèo nhưng hiếu học; là mảnh đất địa linh nhân kiệt, giàu truyền thống khoa bảng, có nhiều người đỗ đạt và làm quan to trong các triều đại phong kiến. Hạ Trạch là một trong những địa phương có phong trào văn hoá giáo dục phát triển sớm nhất của tỉnh Quảng Bình. Từ 1920 làng Hạ Trạch đã có trường sơ học yếu lược; sau cách mạng  tháng 8/1945 có trường cấp I Hạ Trạch. Năm học 1959 – 1960 trường cấp I Hạ Trạch do thầy Nguyễn Đức Bảo quê ở xã Cảnh Dương làm hiệu trưởng mới có 1 lớp nhô là lớp 5 gồm 53 học sinh nhưng sang năm học 60 - 61 trường đã có thêm một lớp 5 và một lớp 6 gồm hơn 100 học sinh, tách ra thành lập thêm trường cấp 2 Hạ Trạch do thầy Hoàng Nghĩa Châu quê Nghệ An làm hiệu trưởng.
...
Ngày 5/8/1964 đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, cả nước có chiến tranh, các hoạt động dạy và học của nhà trường chuyển qua thời chiến. Các lớp học phải sơ tán vào nhà dân, mỗi ngày học 3 ca: sáng, trưa, chiều, mỗi ca không quá 25 em nhằm giảm thiểu thương vong khi máy bay địch điên cuồng bắn phá. Học sinh đi học phải đội mũ rơm, hệ thống hầm chữ A, lớp học ngầm, giao thông hào hối liền từ nhà đến lớp… Chiến tranh ngày càng ác liệt, nhưng phong trào thi đua “Hai Tốt” vẫn được duy trì và phát triển. Khẩu hiệu của nhà trường lúc này là: “Đi học là đánh Mỹ, học giỏi là thắng Mỹ”; “Một điểm 5 là một viên đạn bắn vào đầu thù…” Thiếu giấy các em lấy vở, giấy đã viết, ngâm nước vôi nước gạo phơi khô để dùng, lấy đất sét trắng làm phấn viết… Việc học tập cá nhân, tổ nhóm phải chuyển xuống hầm, chiếc đèn phòng không đã giúp cho các em học sinh làm bài tập, thầy cô soạn giáo án… Nhà trường vượt qua mưa bom bão đạn để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học. 
Đặc biệt 5 năm qua nhà trường vẫn không ngừng phát huy những thành quả và truyền thống của tổ đội lao động XHCN của trường tiên tiến cấp huyện cấp tỉnh, là xã giáo dục toàn diện, là đơn vị phổ cập tiểu học xoá mù chữ, phổ cập đúng độ tuổi sớm nhất của huyện Bố Trạch, là đơn vị đạt phổ cập THCS với các chuẩn khá vững chắc. Thực hiện cuộc vận động “Hai không với bốn nội dung” của Bộ giáo dục, nhà trường đã đạt danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” cấp tỉnh từ năm học 2005 - 2006 đến nay, với đội ngũ HSG, GVG cấp huyện, cấp tỉnh ngày càng nở rộ; các cô giáo Nguyễn Thị Hoài Phúc, Lê Thị Thắm, Hoàng Thị Thắm, Hoàng Thị Hà.v.v… liên tục nhiều năm là GVG cấp huyện cấp tỉnh, cùng nhiều thầy cô khác có công trong việc bồi dưỡng HSG cho trường, cho huyện và cho tỉnh. Đơn vị công đoàn liên tục nhiều năm thực sự là tổ ấm, là đơn vị công đoàn vững mạnh xuất sắc được Liên Đoàn Lao động tỉnh tặng bằng khen. Nhà trường hai năm liên tục 2006 - 2007, 2007 - 2008 tỷ lệ học sinh lớp 9 thi vào lớp 10 THPT đứng thứ 2 của Huyện Bố Trạch.
          Năm học nay (2008 - 2009) Đảng bộ HĐND, UBND xã Hạ Trạch đã được huyện uỷ và UBND huyện Bố Trạch ra quyết định số: Ngày 28/8/2008 đổi tên trường THCS Hạ Trạch thành Trường THCS Lưu Trọng Lư. Đó là một vinh dự lớn cho trường. Trường  từng bước tích cực hoàn thiện các chuẩn của trường chuẩn quốc gia giai đoạn 2005 - 2010 ...

                                                   *
                                                 *  *
   Tôi được mời về dự buổi lễ ngoài tình thi hữu với nhà thơ Cảnh Giang, tôi còn là thầy giáo cũ của trường phổ thông trung học cơ sở Hạ Trạch. từ thập kỷ 70 thế kỷ trước.
    Đầu năm 1970, khi những cơn mưa giêng hai vẫn còn dai dẵng trên núi lèn Cao Mai, nơi trường sư phạm Quảng Bình sơ tán, lớp Cao đẳng Sư phạm 10 + 1 cấp hai của chúng tôi rục rịch chuẩn bị đi thực tập ở các trường cấp 2 phía bắc tỉnh. Sau khi tôi dạy thực tập gờ tốt xuất sắc "Ánh sáng truyền theo đường thẳng" cho lớp thực nghiệm của trường Sư phạm, tôi được bổ sung vào danh sách giáo sinh thực tập trường cấp 2 Hạ Trạch - một trường tiên tiến nổi tiếng nhất của Quảng Bình thời đó.
  Nghe thực tập trường cấp 2 Hạ Trạch không chỉ tôi mà tất cả các anh chị em khác đều rất vui và tự hào.
  Tôi đã nghe tên HạchTrạch qua đọc tiểu sử và thơ của nhà thơ nổi tiếng thời tiền chiến Lưu Trọng Lư.
    Nhà thơ Lưu Trọng Lư đi thao Cách mạng nhưng thơ tiền chiến của  nhà thơ không được dạy trong trường phổ thông. Chúng tôi chỉ đọc chui và học lãm các anh chi đi trước. Nhưng tôi thuộc nhiều bài thơ trong tập thơ Tiếng Thu của nhà thơ. Tôi biết Hạ Trạch là làng Cao Lao hạ từ đó. Thơ Lưu Trọng Lư có vẻ đẹp sang trọng mang mác ru hồn người:
Em có nghe mùa thu?
Dưới trăng mờ thổn thức
Em có nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ

Không nghe mùa thu?
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp lên lá vàng khô.
hay:
Mỗi lần nắng mới hắt bên sông
Xao xác gà trưa gáy nảo nùng
Lòng rợi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại giữa tầng không...

Tôi nhớ u tôi thuở thiếu thời
Lúc người còn sống tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới ra ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước dậu phơi...

     Tôi sẽ về quê nhà thơ dạy học. Thật vinh dự bao nhiêu!
  Hạ Trạch, làng Cao Lao lúc đó tuy máy bay Mỹ ngừng băn đã hai năm nhưng vẫn còn xơ xác lắm. Giêng hai tre phéo vàng vọt, lá rụng đầy đường còn trơ cành khô khẳng khiu. Trong các vườn, chuối lau lá cũng vàng vọt không kém. Hố bom trong làng nham nhở không khác gì hố bom ngoài bãi phà Gianh.
  Làng Cao Lao Hạ không khác gì cái làng Thuận Trạch tục gọi là làng Trạm của tôi. Sau máy bay Mỹ ngưng ném bom đâu đâu cũng xơ xác, tang thương.
  Trường cấp 2 Hạ Trạch nhà tranh vách đất, nhiều lớp học sơ tán trong dân vẫn ở nửa nổi, nửa chìm trong lòng đất. Ban giám hiệu làm việc ở trường cũng làm trong nhaà hầm.
   Quanh trường là một tường rào bằng trền kết lại từng tấm vừa ngăn người lạ, vừa ngăn trâu bò vào phá trường.
  Đoàn giáo sinh thực tập của chúng tôi độ mươi người dược Ban giám hiệu đón tiếp niềm nở, chan hoà. Thầy hiệu trưởng trường tiên tiên của tỉnh tên là Trọng, lúc đó độ 30 tuổi. Thầy mặc quần ka ki màu đất, áo pôpơlin (loại vải hồi đó) trằng, bò vào thùng rất lịch sự, nha giáo. Buổi lễ đổi tên trường ông có về dự. Anh Cảnh Giang chỉ cho tôi một ông già râu tóc bạc phơ, người to đậm đang ngồi trên ghê đại biểuvà nói : thầy Trọng từng làm trưởng phòng giáo dục huyện đã về hưu lâu rôi.
  Tôi được phân công làm chủ nhiệm lớp 6A (tương đương lớp 8 hiện nay), cô giáo Bùi Thị Hồng Vĩnh dạy văn làm chủ nhiệm lớp 6B. Vĩnh thon thả rất xinh đẹp, người Đồng hới. Hồi đó con gái thị thành cao sang lắm. Chúng tôi là những anh nhà quê đặc sệt làm sao mà mơ được. Tuy thế tôi cũng rất si mê Hồng Vĩnh. Hồng Vĩnh cũng đáp lại trên tình nồng thắm rất mô phạm của mình. Sau này trường tinh giảm biên chế, Bùi Thị Hồng Vĩnh phải rời trường Sư phạm đi lao động nơi xa. Hồng Vĩnh có một lần gửi thư cho tôi lúc đang về ở Đồng Hới chưa đi làm việc. Chữ của Hồng Vĩnh rất đẹp, mạnh mẽ như chữ con trai. Một lần đóng quân gần bãi đá Vĩnh lao động, tôi có đến thăm người đẹp một lần và từ đó cho đến nay không biết mỹ nhân đi đâu. Thật tiếc nuối!
 Không chỉ tôi, các thầycô trong đoàn thực tập rất say sưa soạn bài, giảng bài. Tuổi mười chín đôi mươi tràn đầy nhiệt huyệt. Lòng yêu nghề mến trẻ được nhân lên khi những giờ dạy có chất lượng được học sinh, phụ huynh tin yêu, nhà trường, đồng nghiệp biểu dương.
 Ai cũng đem hết kiến thức mình học được truyền thụ lại cho các em.
 Ngoài toán ra, tôi rất thích môn tâm lý và giáo học pháp. Tôi mơ ước mình sẽ làm công trình tâm lý với chuyên đề Chú ý. Tôi sẽ đúc kết kinh nghiệm 10, 15 đứng lớp để làm công trình khoa học này. Và sẽ công bố cho ngành biết " nếu học sinh chú ý học thì sẽ tiếp thu được 90 đến 95% bài giảng trên lớp".
  Lớp tôi chủ nhiệm có em Phương hay em Phượng làm lớp trưởng rất quán xuyến nên tôi đỡ đần cho tôi nhiều việc.  Học sinh Hạ Trạch rất nghèo nhưng chăm học vô cùng , ngoan vô cùng và học khá, nhiều em rất giỏi cả văn và toán. Các em đến lớp hai phần ba mắc áo vá, đi chân đất, nhiều em còn mặc quân đùi đi học. Nhiều em cả năm chỉ có một bộ quần áo đi học cơ cảnh như tôi hồi học cấp hai. Tôi hết sức chia sẻ sự nghèo hèn của các em. Rồi chỉ biết động viên các em cố gắng học đừng bỏ học giữa chừng.
 Một lần tôi đang giảng bài thì học sinh cả lớp la thất thanh:
- Bạn Hải ngất thầy ơi!
Tôi bỏ phấn chạy xuống bàn Hải đang ngồi và cũng luống cuống như học sinh.
- Vì sao ? - Tôi hỏi không ra hơi
- Bạn say sắn thầy ạ! - Học sinh nói.
  Lúc ấy tôi mới bình lại vì biết say sắn cho ăn mía hoặc uống đường là khỏi ngay. Tôi lệnh cho học sinh đi xin mía đem về giả nước cho Hải uống.
  Hơm giờ sau thì em tỉnh lại.
  Quê tôi nhiều em bé đói ăn phải sắn dắng ngộ độc dẫn đến tử vong rất nhiều.
 Học sinh cho biết nhà Hải nghèo lăm. đi học nhịn đói, ăn phải sắn đắng nên nhiều lần suýt chết.
  Tôi lên lớp dặn các em khi ăn phải chọn sắn. Sắn dùng mài lấy bột, lộc chất đắng, làm bánh ăn không chết, ăn cả củ có khi tử vong.
  Hải là tay quản ca của lớp. Em hất rất hay bài Chú ếch con. Lúc nào lớp 6A cũng mở màn Chú ếch con.
"Kìa chú là chú ếch con/ có hai là hai mắt tròn/ Chú ngồi học bài một mình bên cạnh kề vườn xoan/Bao chú rô ron/ Có bao chú chim ri/ Nghe tiếng hát mê li/ Cùng vui thích chí cười khì..."
  Hải hát xuất sắc, học toán rất giỏi. Cậu ta làm tôi một lần phải thán phục.
  Nhân giờ ngoại khoá, (tiêu chuẩn chấm điểm giáo sinh thức tập) tôi kể chuyện nhà toán học Gau xơ (đức ) cho học sinh nghe. Tôi nói rằng: " Gau xơ là một thiên tài toán học. ông biết làm tính trước biết nói. Khi Gau xơ đang học cơ sở, thầy giáo ra đề bài tính tổng các số từ 1 đến 100. Cả lớp cặm cụi làm. Nhiều em cứ cộng 1 vào 2 rồi cộng vào 3... Còn Gau xơ giơ tay lên nói đáp số ngay. Thầy giáo hết lời khen ngợi nói: - Con lớn lên sẽ là một nhà toán học thiên tài. Quả đúng như vậy."
  Hải giờ tay xin phép:
- Em cũng tính ra rồi.
- Em tính như thế nào? - Tôi hỏi.
- Em nhóm tổng thứ tự số đầu và số cưối lần lượt - Hải trả lời - Tổng là 5050
 Tôi khen động viên hết lời:
- Em là một thiên tài Gau xơ thứ 2
  Hôm chia tay lớp để về thi tốt nghiệp ra trường, học sinh viết cho tôi rất nhiều lưu bút. Riêng Hải tặng tôi một bài thơ:
Thời gian trôi như cánh én bay
Đứng trên quê Hạ, mảnh đất này.
Chúng em học tập và khôn lớn
Nhờ công chăn chút, nhớ ơn thầy!
 Đọc thơ Hải tôi hết sức khâm phục. Mới lớp 6 mà em đã làm bài thơ tứ tuyệt không lỗi vận, ý tứ hàm súc, rất khá
- Sau này em sẽ là một nhà toán học và một nhà thơ có tài! - Tôi thành thực khen.

                                                  *
                                                *  *

  Đã gần nửa thế kỷ trôi qua, không biết các em học sinh lớp 6A ngày ấy bây giờ ở đâu, làm gì, em nào đi xa, em nào ở lại quê nhà, có em nào học lên không? Nhưng chắc chắn các em là những người con tốt của gia đình người công dân tốt của quê hương đất nước.
  Tôi không thực hiện được ước mơ của mình là trở thành nhà khoa học Tâm lý Sư phạm. Ra trường tôi vào bộ đội chiến đâu cho đến ngày thống nhất đất nước. Cuộc đời tôi rẽ sang hướng khác. Tuy thế kỷ niệm những ngày là thầy giáo thực tập ở trường cấp 2 Hạ Trạch không bao giờ phai mờ trong tôi.

Hà Nội, ngày 23 tháng 5 năm 2013
Đ - H