Thứ Bảy, 8 tháng 6, 2013

Hương Sơn Ngàn Phố

                                         
                                                 Nhà thơ Đỗ Hoàng bên Hồ Tây                                
 
                  HƯƠNG SƠN NGÀN PHỐ

                                             Bút ký Đỗ Hoàng

 
           Sắp xếp mãi cuối cùng tôi cũng có một chuyến đi về Hương Sơn, Hà Tĩnh. Anh Phạm Manh Tường bạn tôi quê ở Hương Sơn nhưng đã địh cư bên Ucraina. Nhưng anh và vợ con thường xuyên về nước, ít thì hai ba năm một lần, nhiều thì một năm một lần. Riêng anh Tường đã về quê, anh ở quê có khi đến nửa năm mới qua sang U!
  Lần này anh về quê sửa ngôi nhà thơ tổ và ở nhà có thể hơn nửa năm, anh khẩn khoản bảo tôi về Hương Sơn chơi cho biết núi non nguồn cội..
 Anh Tường nói:
  - Giờ về Hương Sơn thuận tiện lắm. Xe ô tô tốc hành nhiều như dam ngoài ruộng. Đi ban ngày có xe ban ngày, đi ban đêm có xe ban đêm. Muốn ghế ngồi có ghế ngồi, muốn ghế nằm có ghế nằm.
Tôi bảo:
  - Anh em mình đi gì mà chẳng được. Hồi học sơ tán ra Bắc học sinh còn đi bộ năm sáu trăm cây số nữa đó.
  Đúng như anh Tường tả. Hai chúng tôi đến bến xe Nước Ngầm  ở phía Nam Hà Nội thì xe về các miền rất đông. Không khí thật tấp nập, sôi động. Riêng về Hương Sơn đã có hẳn mấy hãng xe tốc hành chất lượng cao. Chúng tôi đi hãng Thái Học, tuyến xe chạy ban đêm khởi hành ở Hà Nội vào lúc 9 giờ tối đến Hương Sơn sáng hôm sau.
  Giao thông bây giờ thuận lợi hơn nhiều thời trước.
               

                        Nhà thơ Phạm Mạnh Tường
 
  Chưa tới 5 giờ sáng xe tốc hành Thái Học đã đến gần thị trấn Phố Châu, huyện lỵ Hương Sơn. Anh Tường bảo tôi xuống xe, đã đến nhà anh rồi. Có rất nhiều người nữa cũng xuống xe.
  Nhà anh Tường ở xã Sơn Bằng cách thị trần Phố Châu độ 3 cây số. Khách về Sơn Bằng khá nhiều, anh Tường nhận ra nhiều người trong thôn xóm của mình. Chào hỏi, thăm thú rối rít.
   Nghe tiếng anh Tường về, cả nhà anh đều thức dậy. Cậu Đào Kỳ là cậu ruột của anh Tường vén màn dậy trước tiên, tiếp đó là anh Chưởng em ruột anh Tường. Sau đó là mẹ đẻ của anh. Cả nhà mừng rỡ, hỏi han. Cậu Kỳ đi đun nước sớm, anh Chưởng đi kiếm rượu gạo. Bà cụ ngồi nói chuyện với tôi.
  Mẹ anh Tường đã 90 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn. Mẹ nhận ra anh Tường, nhận ra khách của anh Tường. Mẹ nói chuyện vẫn nhớ nhiều việc xưa. Ngày trước mẹ là một trang nữ nhi vang tiếng một vùng. Lại xuất thân trong gia đình phong lưu, khá giả nên nét quý phái vẫn giữ đến giờ, dù những năm tháng biến động của cuộc đời vẫn còn in trên mái tóc bạc như bạch kim của mẹ.
  Cậu Kỳ lắc đầu nói:
   - Gia đình tôi bị quy sai địa chủ nên anh chị em một thời xiêu riêu. Tôi bôn ba lăn lộn phiêu bạt nhiều nơi, phải tha hương,giờ lấy Bà Rịa làm quê hương thứ hai của mình.
Tôi cảm thông đáp:
- Một thời dữ dội cậu ạ.
Cậu Kỳ cười coi như không có chuyện gì xảy ra:
- Chúng ta uống rượu huyết hươu đi. Bây giờ tôi nghề nghiệp chính – uống rượu, nghề nghiệp phụ - ngủ. Được chưa?
Ai cũng phì cười vì câu nói vui của cậu Kỳ.

   Vườn nhà anh Tường là thuộc loại vườn nhà đẹp của nước Việt. Vườn độ khoảng trên dưới  ba nghìn mét vuông có tre bao chung quanh, tiếp đến là hàng cọ là tỏa xanh rờn. Hai hàng cau thẳng tắp cao vút  nối từ goài ngõ vào tận sân nhà. Quanh hàng cau hiên phòng là dây cầu không leo lên đến nửa thân cây trông rất dịu mắt. Trong vườn trồng cây cây rau mùi, trái ăn, thảo quả…

Khi ánh nắng trời vừa chớm lên, cả vườn lung linh một màu xanh dịu dàng rời rợi mát.Vườn anh Tường đẹp như trong thơ:, như mảnh vườn Huế, vườn Vỹ Dạ nổi tiếng trong thơ Hàn Mặc Tử
Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau năng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền…
  
       Trước cổng vườn có cây lộc vực cổ thụ đến hai người ôm mới xế gốc nó. Là lộc vừng tim tím lừng lựng cả khoảng trời, thật bề thế.
Anh Tường bảo:
 - Cây này có từ đời cụ kỵ ạnh.
 Tôi kinh ngạc:
- Các cụ ngày xưa chọn hướng nhà, trồng cây vườn đều theo phong thủy cả. Hèn chi con cháu mới làm nên.
 -Nhà thôi truyền thông Nho giáo mà anh! – Anh Tường đáp
 - Điều đó thật không sai! – Tôi tấm tắc.
   Tôi dịch gia phả anh Tường nên tôi thấu điều đó.
  Cụ tổ của anh Tường là cụ Phạm Văn Dĩnh. Cụ là cử nhân xuất thân thời Tự Đức. Cụ đã từng làm Giáo thụ Hương Sơn, Huấn đạo Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông thân sinh của anh Tường cũng là người thông thạo chữ Nho đã từng được Viện Hán Nôm mới ra tu thư cho Viện nhiều lần.
  Anh Tường theo Tây học nhưng anh và con cháu chất nho gia vẫn có trong máu thịt của mình. Cháu Sơn con đầu của anh đã làm được bằng tiến sỹ của xứ người. Thật không hổ thẹn con nhà nha giáo.
 Xã Sơn Bằng quê anh Tường bây giờ là một xã có tiếng thực hiện thành công mô hình xây dựng nông thôn mới của tỉnh. Trong các thôn xóm đường làng ngõ xóm được bê tông hóa 100%. Đời sống của dân khấm khá hơn trước. Xã không có hộ đói. Ngoài làm nông, Sơn Băng cũng như Sơn Thịnh có nghề phụ. Sơn Thịnh thì nghề đan lát, làm kẹo cu đơ, Sơn Bằng thì nuôi hươu. Thu nhập nghề nuôi hươu cũng góp một phần thu nhập cho người dân.

                                                   *
                                                 *  *
      Trước chưa đến Hương Sơn tôi không thể hình dung ra nó. Tôi nghĩ chắc Hương Sơn như các huyện miền núi ở Quảng Bình quê tôi, nào là núi non cao thâm, suổi sông sâu hun hút; nào là đường đi đèo dốc nhưng bây giờ đến với Hương Sơn  thì hóa ra Hương sơn là một vùng bồn địa rộng rài thoáng mát không khác gì bồn địa Nghĩa Lộ chút nào. Núi non mờ nhạt ở xa xa, sông Ngàn Phố mảnh mai bao quanh phố thị, ruộng nương, biền ngô, đỗ, lạc quanh năm xanh mướt. Đất trời mênh mang thanh bình, tĩnh lặng trong sự yên lành đến độ trong veo. Hương Sơn vũng như bao mền đất khác của nước Việt ta:
Hương Sơn ngô lúa đầy đồng
Ai về xứ ấy thong dong con người.
Câu ca của Hương Sơn cũng là câu ca nhiều nới trên đất nước Việt.
  Về địa lý Hương Sơn, phía nam của huyện giáp huyện Vũ Quang, phía bắc giáp các huyện Thanh Chương và Nam Đàn (tỉnh Nghệ An), phía tây giáp tỉnh Bô-li-khăm-xay củaLào, phía đông giáp huyện Đức Thọ. Cách thủ đô Hà Nội, thành phố Vinhthị xã Hồng Lĩnh và thị xã Hà Tĩnh lần lượt khoảng 365 km, 55 km, 35 km và 70 km. Địa hình đồi núi xen đồng bằng thung lũng sông Ngàn Phốsông Ngàn Sâu và các phụ lưu, dốc từ tây - bắc xuống đông - nam, cao nhất là núi Bà Mụ(1.357 m) trên biên giới Việt Lào. Các dãy núi chính: dãy núi Giăng Màn; núi Nầm; dãy núi Mồng Gà; dãy núi Thiên Nhẫn; núi Hoa Bảy,...

Về lịch sử, Hương Sơn thời cổ nguyên là huyện Dương Toại, thuộc quận Cửu Đức.

Đời Tấn Vũ Đế tách lập huyện Phố Dương, nay có 2 làng Phố Châu và Phúc Dương. Đời Đường là châu Phúc Lộc . Thời nhà Đinh và nhà Tiền Lê thuộc đất Hoan Châu. Thời nhà Lýlà hương Đỗ Gia thuộc châu Nghệ An . Thời nhà Trần và thuộc nhà Minh là hai huyện Cổ Đỗ (vùng đất chủ yếu thuộc Hương Sơn ngày nay) và Thổ Hoàng (các vùng đất thuộc hai huyện Hương Khê và Vũ Quang ngày nay) Thời nhà Hậu Lê ban đầu là huyện Đỗ Gia, từ năm 1490, đời vua Lê Thánh Tông, là huyện Hương Sơn, thuộc phủ Đức Quangxứ Nghệ An (sau đó là trấn Nghệ An). Từ năm 1831-1919, là huyện Hương Sơn, phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Năm Tự Đức thứ 21 (1868) huyện Hương Khê (vùng đất của huyện Thổ Hoàng trước đây)tách ra khỏi Hương Sơn. Năm 1931, hệ thống hành chính nước ta bỏ cấp phủ. Huyện Hương Sơn trực thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Thời Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945-1975): huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1976- 1991: huyện Hương Sơn, tỉnh Nghệ Tĩnh. Năm 1976, xã Ân Phú thuộc Hương Sơn chuyển sang huyện Đức Thọ và đổi tên thành xã Đức Ân. Năm 2000 lại chuyển về huyện Vũ Quang và đổi lại tên cũ là xã Ân Phú. Từ năm 1991 đến nay: huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Đến năm 2000, huyện Hương Sơn có 2 thị trấn là Phố ChâuTây Sơn và 30 xã: Sơn Tây, Sơn Kim, Sơn Hồng, Sơn Lĩnh, Sơn Diệm, Sơn Quang, Sơn Giang, Sơn Lâm, Sơn Hàm, Sơn Trung, Sơn Phú, Sơn Trường, Sơn Phúc, Sơn Mai, Sơn Thủy, Sơn Bằng, Sơn Ninh, Sơn Thịnh, Sơn Hòa, Sơn An, Sơn Lễ, Sơn Tiến, Sơn Châu, Sơn Bình, Sơn Hà, Sơn Trà, Sơn Long, Sơn Tân, Sơn Mỹ, Sơn Thọ. Năm 2000, xã Sơn Thọ chuyển sang thuộc huyện Vũ Quang.

Hương Sơn có ruyền thống văn hóa lâu đời

Hương Sơn xưa kia thuộc phủ Đức Quang (gồm Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Nghi Xuân, Thanh Chương, Nghi Lộc) được xem là vùng đất học của xứ Nghệ. Trong thời kỳ phong kiến, Hương Sơn có hơn 20 vị đỗ đại khoa (từ tiến sĩ trở lên) với những dòng họ nổi tiếng khoa bảng như: Đinh Nho, Tống Trần, Hà Huy, Lê Khánh, Nguyễn Khắc Đào Duy, Lê Xuân, Văn Đình, Trần Đình … và các làng giàu truyền thống văn hoá như: Hữu Bằng, Tuần Lễ, Gôi Vị, Thịnh Xá... Ngày nay có nhiều người thành đạt ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và nước ngoài.
Hương Sơn là quê hương của danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Hiến sát sứ Nguyễn Kính Hài (1448-?), Đô Ngự sử Nguyễn Tử Trọng (1485-?); Hoàng giáp Nguyễn Văn Lễ; Hiến sát sứ- tiến sĩ Nguyễn Thủ Xứng (1442-?); Tiến sĩ Đinh Nho Công; Hoàng giáp Đinh Nho Hoàn; Tiến sĩ, Thượng thư, Nghĩa quận công Tống Tất Thắng; Tổng binh đồng tri Đinh Nho Côn; Tiến sĩ Đinh Nho Điển; Hoàng giáp, Bố chánh Phạm Huy (1829–1883); danh sĩ Lê Hữu Tạo; Thượng thư Đào Hữu Ích; Đốc học Nguyễn Xuân Đản; các danh tướng Nguyễn Tuấn Thiện, Nguyễn Lỗi ,Văn Đình Dận, Cao Thắng, Lương Hiển... Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (thượng thư Bộ Lễ triều Nguyễn), nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện... .
Hiện nay, có rất nhiều người con của Hương Sơn thành đạt trong cả nước: nhà cách mạng Hà Huy Giáp; nguyên Thứ trưởng Đinh Nho Liêm Bộ Ngoại giao;nguyên Thứ trưởng Tống Trần Đào(bộ Nông nghiệp), nguyên Phó ban Tuyên giáo Trung ương Hà Học Hợi, Thượng tướng Lê Minh Hương nguyên Bộ trưởng Bộ Công an; Trung tướng, Giáo sư Lê Xuân Lựu ; Thiếu tướng tình báo quân sự Tống Trần Thuật; Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm; Giáo sư-nhà ngôn ngữ học Lê Khả Kế; Giáo sư văn học Phong Lê; Giáo sư Lê Xuân Tùng nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội; giáo sư văn học Nguyễn Khắc Phi; Giáo sư, Viện sĩ y học Phạm Song nguyên Bộ Trưởng Bộ Y tế; Giáo sư, Viện sĩ toán học Hà Huy Khoái Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam; Giáo sư Tiến sĩNguyễn Quang Đỗ Thống {giảng dạy tại Đại học Franche-Comté, Bretagne-Pháp; Tiến sĩ Lê Đức Thúy nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Tiến sĩ luật học Đặng Quang Phương Phó chánh án Toà án Nhân dân Tối cao; Tiến sĩ Trần Cẩm Tú- Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình; Nhà hoạt động khoa học công, Giáo sư, TSKH toán lý Lê Xuân Anh trường Đại học Bách khoa Sankt-Peterburg, Nga; Giáo sư, TSKH, Nhà giáo Nhân dân Cù Xuân Dần (nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Nông nghiệp 1 Hà Nội);Giáo sư Đinh Quang Báo nguyên hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Giáo sư thần học, học giả Nguyễn Khắc Dương; Nhà văn Nguyễn Quang Thân, Nhà văn Nguyễn Khắc Phê; Giáo sư, Bác sĩ Lê Kinh Duệ (nguyên Chủ tịch Hội Da liễu Việt Nam), Giáo sư, TSKH Hà Huy Cương (nguyên Trưởng khoa Học viện Kỹ thuật Quân sự), Giáo sư, TSKH Phan Trường Phiệt (Trường Đại học Thuỷ lợi), Giáo sư, TSKH, Nhà thơ Đinh Phạm Thái (Trường Đại học Bách khoa Hà Nội), TS Trần Việt Thanh (Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ)...

 Danh thắng đầu tiên mà anh Tường dẫn tôi đi thăm là khu lưu niệm danh y, nhà văn, nhà thơ lừng lẫy tên tuổi Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Khu di tích Hải Thượng Lãn Ông bao gồm: Nhà thờ Lê Hữu Trác thôn Bầu Thượng, xã Sơn Quang; và mộ Lê Hữu Trác ở núi Minh Từ  xã Sơn Trung được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng Di tích Văn hóa cấp Quốc gia.
Hải Thượng Lãn Ông quê nội ở Hưng Yên nhưng cụ suố đời làm thuốc và ở quê mẹ - Sơn Quang, Hương Sơn.
  Những nhà hảo tâm, các cơ quan nhà nước vì lòng ngưỡng mộ tài danh cụ đã xây dựng lên khu lưu niệm tuy gian dị nhưng rất khoáng rộng, đẹp đẽ.
  Có tượng cụ đặt trên núi cao, có bia ghi công đức và trích thơ văn của cụ:
Đứa ăn mày cũng trời sinh
Bệnh còn cứu đặng, thuốc dành cho không
(Hải Thượng Lãn Ông)
  Rồi anh Tường dẫn tôi đến Sơn Thịnh,  làng có nghề mây tre đan nổi tiếng và làm kẹo cu đơ. Sơn Thịnh giữ hồn quê bằng nghề truyền thống Từ xưa, xã Sơn Thịnh (Hương Sơn) đã có tiếng về nghề thủ công đan lát và các hoạt động thương mại dịch vụ khác. Do đất chật người đông nên người Sơn Thịnh đã sớm đổi mới tư duy trong cuộc mưu sinh.
 Xã Sơn Thịnh xưa có tên làng Thịnh Văn, có người còn gọi “dân làng đan”. Từ câu nói cửa miệng này đủ biết Sơn Thịnh đã có nghề này cách đây vài thế kỷ. Do điều kiện thiên tai khắc nghiệt thường xuyên người dân phải gánh chịu là địa phận xã Sơn Thịnh nằm sát bờ sông Ngàn Phố thường xuyên chịu nhiều trận lũ và bão tố chà đi xát lại. Mùa hè ngày trước do hệ thống thủy lợi không đảm bảo nên đồng ruộng thường bị khô héo và mất mùa vì hạn hán. Tuy nhiên, Sơn Thịnh vẫn là mảnh đất giao thương dễ hơn mọi miền quê khác vì địa thế “trên bến dưới thuyền” tiện ích cho hàng hóa thông thương tới xã này. Mặt khác đây là “cái rốn” giao lưu thuận lợi nhất. Khách hàng từ Đức Thọ sang, từ Vinh vào, từ Thanh Chương tới, người từ miền thượng Hương Sơn xuống cũng dễ dàng.
Ngoài nghề đan một số người có vốn liếng khấm khá hơn thì mở nghề làm bánh đa, bánh đúc. Xã Sơn Thịnh có 3 chủ hộ kinh doanh nghề mới này cho thu nhập khá. Một thanh niên mạnh dạn mở nghề làm đậu phụ và kết hợp nuôi lợn đã tạo được cuộc sống khá khang trang trong gia đình như xây được nhà, mua sắm đầy đủ các phương tiện khác.
  Hôm sau chúng tôi đến núi Nầm, cầu Nầm nơi có bến đò Choi vang tiếng trong chiến tranh chống Mỹ.
  Ở đây cũng là nơi “xe chưa qua nhà không tiếc” , “tiếng hát át tiếng bom”giống như địa danh xã Võ Ninh, Mỹ Thủy, Quảng Bình quê tôi. Bà còn sẵn sàng hạ nhà mình xuống để cho xe bộ đội đi ra chiến trường kịp đánh giặc. Ở đây có biết bao bộ đội, thanh niên xung phong, dân quân du kích, dân thường yêu nước ngã xuống!
       Cầu Nầm, núi Nầm, bến đò Choi là những trọng điểm ác liệt máy bay Mỹ nếm xuống hàng nghìn,vạn tấn bom, cũng là một ngã ba Đồng Lộc thứ hai  của Hà Tĩnh.
  Hôm nay cầu Nầm đã bắc lại, bến đò Choi không còn nữa, cây côi, núi non tươi xanh, sông Ngàn Phố như dải lụa mềm cổ điển bao quanh phố Châu lờ lững về xuôi, không gian êm bình một cách lạ lùng, ngỡ như ở đây không trải qua những năm tháng chiến khốc liệt nhất hành tinh.
Tưởng trong giấy phút thình lình
Chưa hề có cuộc chiến tranh qua rồi
Chưa bao cách trở xa xôi
Chưa bao nguy hiểm đứng ngồi không yên…
(Trên đất Đức – Thơ Nga – Bằng Việt dịch)
     Hôm nay không khi quá rộn ràng. Xe vào Nam ra Bắc, xe  đi Lào Thái dễ dàng như từ nhà ra ngõ. Người ở Hương Sơn đi làm ăn xa trở về, người các miền quê đến Hương sơn làm ăn. Một cảnh tưởng hòa bình rộn ràng nức lòng.
 Ấy vậy trong tôi hai chữ bến đò Choi còn mãi âm vang. Không chỉ tôi những người từng nghe từng biết, nếu có dịp về đây hoặc nghe tên địa danh này chắc cũng bồi hồi như tôi.
   Quảng đầu những năm 70 thế kỷ trước, đơn vị tôi ra Bắc, qua Nghệ An, Hà Tĩnh tôi đã được nghe bài thơ Bến đò Choi của nhà thơ Hồ Minh Hà. Sau đó bài thơ này được in báo Văn nghệ Trung ương nên càng có nhiều người biết và thuộc lòng.
  Bài thơ vẽ lên hình ảnh người mẹ chèo đò cho quân sang trong chiến tranh chống Mỹ , sau đó mẹ hy sinh, người con gái lên thay mẹ vẫn chèo đò cho quân sang dưới mưa bom bão đạn. Hình ảnh đẹp, tình cảm ấm nồng rất cảm động. Nó không phai mờ rong ký ức của tôi:
Mỗi lần về phép, 
đến bến đò Choi
Cho sang sông với đò ơi
Bỗng nghe ấm một tiếng ời quen quen
Chống sào mẹ đón con lên
Khom khom lưng mẹ in trên nền trời.
Chỉ là giây lát thế thôi
Sao con còn mãi niềm vui trong lòng.
Con đò bóng mẹ dòng sông
Khi xa thành nỗi nhớ mong bồi hồi
*
Hôm nay về lại đò Choi
Cho sang sông với đò ơi
Ai thưa không phải mẹ rồi vì sao?…
    Đoạn sau tôi quên không thuộc được. Hôm nay về Hương Sơn lại biết được nhà thơ Hồ Minh Hà là người ở đây tôi càng xúc động. Bài thơ giản dị nhưng tình cảm thật chân thành còn mãi với thời gian.
  Và cũng thật chạnh lòng,  khi xem kỷ yếu Hội Nhà văn Việt Nam, tôi không không thấy tên nhà thơ Hồ Minh Hà. Nghe nói đơn xin gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam của ông vẫn còn lưu giữ ở Ban công tác hội viên của Hội. Chắc ở dưới suối vàng ông đang đợi chờ kết quả bỏ phiếu của các hội đồng chuyên môn của Hội Nhà văn Việt Nam. Nếu được thì xin hãy hóa vàng quyết định kết nạp Hội Nhà văn Việt Nam cho ông an lòng mỉm cười chín suối!

*
 Anh Tường dẫn tôi lên cho biết thị trấn Phố Châu. Phố Châu thị trấn của huyện lỵ Hương Sơn nhỏ, gọn, sạch sẽ và cũng khang trang. Vì xây dựng sau nên có nhiều kiểu nhà tân tiến, đường phố rộng rãi, khoáng đãng…
 Tôi và anh Tường ghé vào một cửa hàng tạp hóa mua các thứ cần dùng. Thiếu phụ trẻ bán hàng là một người đẹp, phúc hậu của miền sơn cước. Tuy có pha chút thị thành nhưng cái nét đồng quê dân giã còn in dấu trong cử chỉ, lời nói, ánh nhìn. Và thiếu phụ  với nụ cười rất tươi khi anh Tường biếu số tiền dư không lấy lại. Thiếu phụ trẻ rối rít cám ơn:
- Các eng (anh ) nhớ ghe lại cửa hàng của út nghe (em)
- Các anh sẽ ghé lại thường xuyên !– Anh Tường cười thoải mái đáp lời mời.
Trên đường về tôi nói với anh Tường:
 - Con gái xinh đẹp Hương Sơn sinh ra Hải Thượng Lãn Ông, Huy Cận, Nguyễn Khắc Niêm, Nguyễn Khắc Phê, Hồ Minh Hà, và cả Phạm Mạnh Tường đấy.
 Anh Tường vui lây:
-         Không dám đâu ạ!

*

Anh Tường về  hơn ba bốn tháng sưả sang nhà mình và nhà thờ tổ  đã xong . Anh mãn nguyện lắm. Anh bộc bạch với tôi:
- Về già tôi sẽ về quê sống, ngay ở đây, không đi đâu nữa.
Tôi tin điều anh nói, rất trân trọng, rất nể kính điều đó. Anh có nhà ở Hà Nội, anh có nhà ở Ki ep – Ukraina. Anh không phải đại gia nhưng đủ sống, đủ mỗi năm một chuyến đưa vợ con về thăm quê, ở với quê độ ba bốn tháng.
 Tôi nhớ đến câu ca dao mà không người Việt nào là không thuộc:
Con người có tổ, có tông
Như cây có cội như sông có nguồn.
 Buồn cho tôi và cũng buồn cho ai có quê mà không điều kiện về quê sống.
Hà Nội tháng 5 -2013
Đ - H
 

Thứ Năm, 30 tháng 5, 2013

Thơ vô lối Nguyễn Khoa Diềm khi về thường dân

Thơ vô lối Nguyễn Khoa Điềm

Thứ sáu - 31/05/2013 10:38
                         
               
Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm            Nhà thơ Đỗ Hoàng

THƠ VÔ LỐI NGUYỄN KHOA ĐIỀM KHI VỀ THƯỜNG DÂN
 
                                                   Đỗ Hoàng

      Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ những người làm thơ cổ động cho miền Bắc Việt Nam trong cuộc chiến hai miền Nam Bắc Việt Nam thập kỷ 50, 60, 70 thế kỷ trước có sự trợ giúp của nước ngoài ở cả hai phía. Nói cho đúng là cuộc nội chiến nồi da xáo thịt của dân tộc Việt Nam bị các thế lực nước lớn giật giây chi phối cả đôi bên. Trong chiến tranh chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm xếp sau các nhà thơ khác như Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy…Khi Nguyễn Khoa Điềm làm quan to thì thơ ông mới to theo, trước đó mấy ai biết ông.
 Thơ của thế hệ này là thơ tuyên truyền một chiều, một phía cho cuộc đánh nhau vì quyền lợi phe nhóm.
Lạ lùng cuộc đời nay
Đến văn chương cũng đĩ
Loài người làm khổ thay
Cái chiến tranh vô nghĩa!
(Tâm sự người lính 1973 – Đỗ Hoàng)
 Chiến tranh dù nhìn ở góc độ nào cũng là nỗi đau muôn kiếp của nhân lạo. Các bậc thành nhân ngày trước bất dắc dĩ dùng binh khí:
Nãi tri binh dã thị hung khí
Thánh nhân bất đắc nhĩ nhi dụng chi
(Lý Bạch)
Binh đao ác độc vô cùng
Thanh nhân cực lắm mới dùng ai ơi!
(Túy thì ca – Đỗ Hoàng dịch)
Sư chi sở xứ
Kính các sinh yên
Đại quân chi hậu
Tán hữu hung niên
(Lão tử)
Chỗ đóng quân lính
Gai góc mọc đầy
Đằng sau cuộc chiến
Đói khổ lắm thay!
(Đỗ Hoàng dịch thơ)
 Những người tham gia cuộc chiến hai miền họ cũng không thoát khỏi áp lực của thể chế , vừa do văn hóa, do tầm nhìn, tầm nghĩ hạn chế nên cả một thế hệ nói theo bài bản định sẵn, viết sẵn hay áp nà, nói lấy được. Những câu chưởi địch không đau, không phải thơ,  kiểu chưởi hàng tôm, hàng cá:
Thành phố mọc như nấm độc những xnách-ba
Mỹ và đĩ
 (Con gà đất cây kèn và khẩu súng – Nguyễn Khoa Điềm)
Hay:
Chỉ cần sự bảo chứng của đô la và súng máy
Cùng cái đầu tối tăm của Giôn xơn, Ních Xơn đặt vào trên đấy!
(Giặc Mỹ)

  Thơ họ là dàn đồng ca không lồ muôn người như một, hô khẩu hiệu suông, cũ kỹ, mòn vẹt , véo von, rập khuôn, sáo rỗng, không có tư tưởng, vô cảm trước nỗi đau của nhân quần trong cuộc chiến đầy chết chóc, xương núi, máu sông! Hình thành nên trùng trùng điệp các nhà cổ động viên, nhà ca học, cười học, hót học, hát học, tấu hài học vô tình hoặc cố tình …
  Thơ Nguyễn Khoa Điềm là loại dịch  nghị quyết tuyên huấn cấp xóm khô khan, không một chút truyền cảm.  Nhiều kiểu định nghĩa các phạm trù đất nước, quê hương không đầy đủ, không chính xác, có phần phản cảm:
Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm(!)
(Đất nước – Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)
Đất là nơi anh đá bóng cũng  phải kể  ra chứ… Nước là nơi em khỏa thân soi gương phải kể ra chứ…
   Trong văn chương cũng như trong toán học có những cái không định nghĩa mà chỉ mô tả. Điểm. mặt phẳng, trong toán học; tổ quốc , đất nước, quê hương…là nhữn mệnh người ta chỉ mô tả mà thôi. Nguyễn Khoa Điềm định nghĩa đất nước thì bao giờ cho đủ.
     Khi đường công danh Nguyễn Khoa Điềm càng cao, sự khô khan xơ cứng trong thơ lại tỷ lệ thuận với chức quyền, còn chất lượng thơ thì tỷ lệ nghịch với chức quyền. Đúng là được mùa cau thì đau mùa lúa; được mùa lúa thì úa mùa cau.
  Cammus từng nói: “Tôi không vì thơ ca mà hy sinh chính trị, nhưng tôi hy sinh những gì làm hại cho thơ ca”. Đấy là chính trị của một châu lục có truyền thống dân chủ tiến bộ, còn chính trị của cộng sản phương Đông, chính trị Tàu Ô thì thôi rồi lượm ơi! Phải bỏ thơ ca mà đi làm kỹ thuật thôi!
  Nguyễn Khoa Điềm muốn bắt cá hai tay vừa làm quan thật to, vừa là nhà đại thi hào. Con rô cũng tiếc, con diếc cũng tham. Nhưng cuộc đời không cho ai vừa giàu như Bin gết, vừa tài thơ như Đỗ Phủ, vừa nhà chính trị quân sự lỗi  lạc như Thành Cát Tư Hãn…
  Thời coi Ban Tư tưởng Văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Khoa Điềm để lại nhiều tiếng không hay cho lắm. Ông ta trù úm Hoàng Minh Chính, bắt nhà văn Dương Thu Hương, bôi nhọ Trần Độ, loại bỏ nhiều nhà bất đồng chính kiến, đàn áp những người đòi tự do dân chủ, cấm mạng , cấm internet, đốt thành tro bụi nhưng tập sách như Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn,Chúa trời ngù gật của Nguyễn Dậu, Tâm sự người lính của Đỗ Hoàng, ngăn cản nhiều nhà văn tài năng vào Hội Nhà văn Việt Nam…Ký duyệt nhiều dự án tiêu hàng triệu đô là tiền ngân sách, thuế dân đống để phe nhóm hưởng lại quả nhưng hiệu quả không là bao như phim Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công, (phim bỏ kho) 1 triệu đô, phim Dòng sông phẳng lặng (phim bỏ kho), làng văn hóa Đồng Mô (làng bỏ hoang), Bác Hồ với văn nghệ sỹ…
   Đường hoạn lộ của Nguyễn Khoa Điềm khá hanh thông. Nguyễn Khoa Điềm quan quá to. Ông trùm tư tưởng văn hóa của Đáng Cộng sản Việt Nam. Rồi đứt gánh giữa chừng. Ông quan to Nguyễn Khoa Điềm phải về vườn lúc tuổi chưa đến 60, còn một hai nhiệm kỳ trong Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam nữa, nhưng lại bị ông cậu ruột của vợ là Nguyễn Đức Đạo viết đơn tố Nguyễn Khoa Điềm không phải là đảng viên và có thời gian bị tù ở lao Thừa phủ - Huế khai báo với địch.
 Chuyện này tôi biết ở Bảo Đảng Bình Trị Thiên năm 80 – 87. Hồi ấy có chủ  trương ngầm là ai bị tù ngụy thì phải hy sinh cho Đảng, không được tham gia chính quyền vì không biết ai khai, ai trung thành.
  Khi ra Hà Nội học, tôi nghe các anh trong Ban kiểm tra Hội Nhà văn Việt Nam bảo là có đơn tố cáo nói là Nguyễn Khoa Điềm không đảng viên. Tôi nói, tôi có biết việc này hồi ở Huế, nhưng tôi không tin. Vì tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam chặt lắm. Võ Đại Tôn gián điệp về nước đòi lật đổ chính quyền, mới qua biên giới Thái - Lào, mà Hà Nội đã chưởi cha ông Võ Đại Tôn bóc lột nhân lao động Bắc bộ, biết cả chuyện cha ông Võ Đại Tôn hiếp dâm nông dân đẻ ra hàng loạt địa chủ cường hào ác bá khác.
  Nguyễn Khoa Điềm không dấu sự len lỏi để làm quan và làm quan to của mình:
Anh mê mải trên đường hoạn lộ
Ngảnh về quê hư ảnh một vầng trăng
(Cõi lặng).
Thời làm quan to của Nguyễn Khoa Điềm là thời quan uy tín Cách mạng Việt Nam ở vào “ giai đoạn thoái trào”. Đảng Cộng sản Việt Nam xóa bỏ tất cả các đảng phái trở thành đảng độc tài chuyên quyền mất uy tín trầm trọng trong lòng dân tộc. Thời oanh liệt của Đảng Lao động Việt Nam không còn nữa. Thời dân và Đảng trên dưới một lòng, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào đi vào miền cổ tích. Nạn tham nhũng, mua quan bán tước lan tràn vô phương cứu chữa, quan lại làm giàu trên nước mắt mồ hôi người lao động.
Nó không khác gì bài ca tố cáo địa chủ, phong kiến đàn áp dân nghèo thời tiền Cách mạng:
Chưa hết mùa, trong nhà ta đã hết lúa
Đói xác xơ thương đàn con vất vả
Môn khoai sắn ngày qua ngày lọt dạ
Bởi địa tô chúng bóc lột công sức ta.
Chúng cấu kết cùng nhau cường hào gian ác
Đại chủ ngoan cố đè nén lên đầu bao người
Làm giàu trên nước mồ hôi người nông dân
Cướp trâu, cướp ruộng, cướp nhà người nông dân
Cướp con, cướp vợ, cướp nối người nông  dân
Bần cố nghèo khổ muôn đời…
   Trước đó nhiều kẻ sỹ, thi sỹ như: Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Phan Khôi, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán đã rút lui để giữ khí tiết.
 Bang hữu đạo tắc hiện, bang vô đạo tắc ấn. Bang hữu đạo bần ngã tiện ư sỷ giả, bang vô đạo phú ngã tiện ư sỷ giả (Nho giáo – Khổng tử) Nghĩa là: Nước có đạo thì nên ra làm việc giúp đời; nước vô đạo thì nên lui về giữ danh tiết. Nước có đạo mà ta nghèo là ta xấu; nước vô đạo mà ta giàu là ta xấu. Bỡi vì nước có đạo dung hiền tài, ta không tài nên mới không được dung nên phải nghèo. Nước vô đạo dùng kẻ xấu xa, ta xấu xa nên mới được dùng thì giàu là quá xấu.
  Người quân tử phải hiểu ra điều đó. Người không hiểu ra thì không phải là quân tử. Kẻ không quân tử mới bè phải, đảng phái.
   Quân tử bất đảng phải (Luận ngữ) - Quân tử không bè đảng, không bè phái. Quân tử, đại trượng phu, thi nhân không a dua, không hùa với đám đông:
Thị dĩ đại trượng phu
Xử kỳ hậu bất cự kỳ bạc
Xử kỳ thực bất cự kỳ hoa
Cố khứ bỉ thư thử
(Lão tử)
Phàm bậc trưởng lão
Xa chốn nhố nhăng
Bỏ hoa lấy quả
Trời đất cân bằng!
(Đỗ Hoàng dịch)

 Chuyện chính trị nói như trong Nam là không bàn, nay chỉ nói chuyện thơ của Nguyễn Khoa Điềm khi mất chức về vườn.
  Người Việt hay nhân loại nói chung đều tha thứ lỗi lầm của con người trước đây. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn viết được còn trăn trở cùng nhân dân thì là đáng quý. Chuyện đi với bụt mặc áo cà sa đi với ma thì mặc áo giấy là chuyện người tầm thường muôn đời rồi.
  Thánh Phê rô một tông đồ thân cận của Chúa Giê su. Trước đó là một tội đồ quyết tâm hành hung giết Chúa. Sau khi được cải hóa thánh Phê rô có nhiều thành tích trong làm việc nghĩa, việc thiện được Chúa tin yêu. Có lần Thánh Phê Rô hói Chúa: - Người bị phạm lỗi 7 lần tha thứ có được không? Chúa trả lời: - Kẻ phạm tội, ta 77 lần tha thứ.
   Thơ tuyên truyền của Nguyễn Khoa Điềm trước đây được giới phê bình chính thống tung hô rầm rộ; thơ vô lối của Nguyễn Khoa Điềm khi về vườn cũng được một số người cỗ vũ.
  Để có cái nhìn đúng về những viết của Nguyễn Khoa Điềm mà gọi là thơ gần đây, tôi có vài thiển ý nhỏ.
  Tất cả những bài viết của Nguyễn Khoa Điềm trên các trang mạng xã hội, báo in chính thống đều thể hiện một tâm trạng bực tức, hằn học, tiếc nuối thời vàng son. Không có một chút gì gọi là thơ ca. Nó là một thứ Vô lối đang thịnh hành mà Nguyễn Khoa Điềm cố từ chối không nhận mình là làm Vô lối:
Rằng tôi không bợ đỡ ngôn từ, điếu đóm hậu hiện đại
Bưng mâm cho các cô nàng gót sen ba tấc chữ
(Comment – Tạp chí Thơ số 4 -2013)
 Nguyễn Khoa Điềm làm Vô lôi nhưng viết không chân thành, giả nên không vào lòng người đọc.
 Từ xưa đến nay, trong nước và trên thế giới, nhiều nhà thơ làm quan to, thậm chí là vua giữ nhiều trọng trách của đất nhưng thơ của họ đi vào lòng dân, được nhân dân truyền tụng:
Oa oa …oa oa..oa
Cha  trốn đi lính nước nhà
Nên khổ thân em vừa nửa tuổi
Phải theo mẹ đến ở nhà pha!
(Hồ Chí Minh)
Chu Thần nay ở nơi đâu
Để cho Miên Thẩm lên lầu không an
Tháng ngày tựa án lan can
Mãi trông mây cuốn trời Nam dặm nghìn
Dấu xưa nay biết đâu tìm 
Thương ai bảy nổi ba chìm nước non
Trăng kia khi khuyết khi tròn
Tinh thần phản kháng vẫn còn sáng soi.
(Sóng Hồng- Trường Chinh)
   Nguyễn Khoa Điềm viết cho bạn thân là người từng đóng gạch với mình, người tri âm tri kỷ nhưng vẫn lấy cái giọng kẻ cả, khệnh khạng quan trên  ban phát thương xuống, không một chút rung động:
Bạn chừ đóng gạch nơi nao
Văn chương lấm láp vêu vao mặt người
Bất ngờ bạn đến thăm tôi
Gửi cho nhiều sách, Ối giời là thơ!
….
Mong sao bạn bớt bồi hồi
Hãy làm thơ nữa để rồi gặp nhau.
(Bạn thơ – Nguyễn Khoa Điềm)

Sự khệnh khạng, cao ngạo bề trên, hổn xược với tiền nhân thể hiện nhan nhản trong thơ và trong Vô lối của ông:
Cái chết của viên tham tri hay thơ âm thầm trong chính sử
Mất hút một con thuyền chuồi qua cửa Thanh Long
(Nguyễn Du)

Thơ ca là bộc lộ sự thành thật, sự thành thật được trọn vẹn thì thơ hay (Bê se)
 Ngày trước,  thi hào Bạch Cư Dị là một trong tam kiệt của Đường thi (Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị). Ông làm quan đến Thượng thư nhưng thơ rất chân thành. Ông không đạt chiều cao của Lý Bạch, chiều sâu của Đỗ Phủ nhưng ông đạt được chiều rộng của thơ, chỉ vì khi nói tới nỗi khổ con người ông là người ngoài cuộc. Nhưng không vì thế mà không xúc động, không lưu truyền đến đời sau:
Kim ngã hà công đức?
Tằng bất sự nôn tang
Lại lôc tam bách thạch
Tuế án dữ dư lương
Niệm thử tự tứ quý
Tận nhật bất năng vương
(Quan nghệ mạch)
Ta có tài đức gì?
Không hề đi cấy cày
Lương ba trăm thạch thóc
Hết năm bồ còn đầy
Nghĩ vô cùng hổ thẹn
Mặt đỏ hết mấy ngày!
(Xem gặt lúa)
Thơ vô lối của Nguyễn Khoa Điềm luôn luôn giả, luôn luôn sượng không thành tâm chút nào:
Nhưng chiều nay con bò gặm cỏ
Bên dòng sông như chưa biết chiều tan
Tôi với nó lặng im bè bạn
Mắt nó nhìn dìu dịu nước Hương Giang
(Chiều Hương Giang)
 Bản thân anh và loài người anh xơi tái hàng tỷ con bò mà vẫn coi nó là bạn thân thì là một việc xưa nay hiếm(!)
Một việc xưa nay chưa từng có.
Anh xơi tái muôn loài gặm cỏ
Mà chiều nay anh nổi tuyên ngôn
Anh với chúng bạn bè gắn bó!
(Thơ 4 câu – Đỗ Hoàng)
  Nhìn chung tất tần tật Nguyễn Khoa Điềm viết cái gì đều không thật, như là của giả.  Trong chính trị người ta thường dùng thủ đoạn để lừa nhau, để tranh thủ phiếu. Chỉ một cái táng tận lương tâm, kẻ hãnh tiến đoạt được một giang sơn. Song trong thơ ca dùng lừa đảo hoặc nói điều giả đối thì anh mất sạch. Giả dối là điều tối kỵ với thơ ca.
 Nguyễn Khoa Điềm than nghèo, nhưng người đọc nghe nó sến sến thế nào, bởi Nguyễn Khoa Điềm có nghèo đâu. Nhà lầu bốn năm tầng ở khu quan to Đội Cấn – Hà nội một thời có lính gác, nhà vường ở Huế mấy con mèo, con chó chạy một ngày chưa chắc đã hết vườn. Rồi còn biết bao của chìm của nổi khác nữa. Lương hưu của Nguyễn Khoa Điềm cao gấp mấy chục lần nhưng cán bộ quèn đang công tác. Làm sao mà nghèo được. giả nghèo thì được làm thơ giả nghèo thì là đồ giả.   Một ông quan to cỡ tột đỉnh như Nguyễn Khoa Điềm, nhiều kẻ có trang trại trên núi non chuyển đổi đất mường thành đất thủ đô thì làm sao họ cơ ngã như nông dân được. Họ làm sao mà nghèo đói. Một ông bí thư chi bộ xóm trong thể chế đảng trị cộng sản hơn nhiều lần quan phụ mẫu ngày xưa. Nên cái việc than nghèo của ông quan nhất phẩm Nguyễn Khoa Điểm rất giả dối:
Đêm đêm cái nghèo vuốt ve trán người chồng
Khẻ nâng bàn tay người vợ
Đặt cái hôn lên đôi chân trần đứa trẻ
Và thầm ngủ ngon… ngủ ngon…
(Đêm đêm – tạp chí Thơ số 4 -2013)
        Cái nghèo đi đêm của Nguyễn Khoa Điềm không đàng hoàng chút nào. Cái nghèo này là cái nghèo khai bậy để hưởng hộ nghèo mà Nhà nước triển khai mấy năm qua.
      Hơn nghìn nắm nay, các thi hào kim cổ đều nói tới cái nghèo. Cái nghèo của họ có thật nhưng không bị lụy, không khai gian nghèo. Họ nói lên được  cái nghèo của họ được mọi người đồng cảm thấu hiểu và chia sẻ. Nghèo họ cũng là nghèo mình. Nghìn năm rồi đọc cái nghèo của Đỗ Phủ ta còn xúc động:
An đắc hạ thiên vạn gian
Đại tý thiên hạ hàn sỹ câu hoan nhan
Ô hô! Hà thì nhãn tiền đột ngột hiện thử ốc
Ngô lư độc phá thu đồng tử diệc tức.

(Ước được vạn gian phòng rộng rãi
Kẻ sỹ nghèo có mái nhà che
Bao giờ? Hãy hiện ngay đi.
Thân ta chết cóng có gì ngại đâu.)
(Đỗ Hoàng dịch)
(Mao ốc vị thu phóng sử phá ca -
Bài hát gió thu thổi tốc nhà)
Xúc động với cái nghèo của Nguyễn Trãi:
Thập tải đọc thư bần đáo cốt
Bàn vô mục túc tọa vô chiên
(Mười năm đọc sách nghèo đến tủy
Mân không rau cỏ, chỗ đâu ngồi)
(Đỗ Hoàng dịch thơ)
Cái nhèo của Nguyễn Du thậm đau đớn. Cha làm quan mà con đói rét. Có khác gi Đỗ Phủ làm Tả thập di – Quan can gián vua mà con chết đói:
Thập tử cơ hàn bắc môn ngoại
( Mười miệng đói xanh ngoài cửa Bắc)
Và Nguyễn Khuyến:
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu cau chẳng dám mua.
 Thơ ca cổ kim có nói đến cái chết. Chết là cái quan định luận. Lúc đó mới nói đúng cái được cái mất của đời người. Các thi hào xưa nay nói tới việc này một cách vô tư, thanh thoát, nhẹ nhõm, bởi vì cuộc đời của họ quá sáng trong, không bụi mờ:
Sống không để tiếng đời ta thán
Chết lại về quê quán hương thôn
Mới hay trăm sự vuông tròn
Sống lâu đã trải, chết chôn chờ gì
(Di chúc thư – Nguyễn Khuyến)
Hay:
Ba hồi trống giục mồ cha kiếp
Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời
(Cao Bá Quát)
Nguyễn Khoa Điềm nói đến cái chết như một lời thách thức, cao ngạo, rất cải lương, khô khan đại hạn:
Khi cái chết chắn cửa
Đời tôi
Cám ơn!
(Comment)
 Phần viết của Nguyễn Khoa Điềm khi mất chức quan to về vườn không có đổi mới, sáng tạo gì. Nó là một  thứ  Vô lối xuất hiện từ mấy thập kỷ vừa qua. Nhiều câu dở hơn câu nói bộ:
Dậy thức hút thuốc vặt ( Đất nước những tháng năm thật buồn)
Tôi bày tỏ chính tôi,câu chữ của tôi, nước mắt của tôi (Comment)
Ngoài đường trẻ con đi học,trong nhà người già ngủ (Mùa bình thường)
Dùng nhiều âm Hán Việt , chữ nước ngoài chưa được Việt hóa: trật cước, comment…
  Người đọc tìm đọc Nguyễn Khoa Điềm làm thơ khi mất chức là vì người đọc tò mò, hiếu kỳ, không biết ông quan to hưởng không biết bao nhiêu bổng lộc của “triều đình”, bao nhiêu phần trăm dự án ma, dự án không ích nước lợi dân, bao nhiều biệt thự, đất đai mà vẫn làm thơ, thơ hồi hưu có khác gì không?
  Dù những điều Nguyễn Khoa Điềm viết ra chưa phải thơ nhưng bạn đọc cũng có phần đồng cảm những nỗi trăn của ông. Hóa ra khi ngồi dưới đất ông mới thấy rằng dân đen người ta đau khổ biết nhường nào. Nỗi khổ của họ có phần do ông gây nên.
 Bây giờ có nhiều quan điểm thơ: thơ siêu việt, thơ hậu hiện đại, thơ hậu hậu hiện đại. Tìm tòi là đáng quý, nhưng tìm tòi phải vào trái tim người đọc. Cònviết những điều mình cũng không hiểu, không biết thì làm sao thành công.
 Thơ hậu hiện đại của Ion Milos (nhà thơ Thuỵ điển) vào được đọc giả vì có tứ, có nghĩa, tầm tư tưởng, triết học cao:
Tôi mua một con chó 
Để có bạn bầu
Trò chuyện sớm hôm..

Và rồi một hôm
Chó thổ lộ với tôi một điều rất lạ.
Rằng con người đã từ lâu
Không còn nói ngôn ngữ của con người…
(Con người và con chó - Phạm Viết Đào dịch)
Thơ và Vô lối Nguyễn Khoa Điềm không như vậy.
    Đáng ra nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm phải chân thành hơn, sám hổi hơn:
“Ta xin chịu tội khi ta u mê cái triết học du nhập lai căng lỗi thời, không nói cho đám đầu trâu mặt ngưa đồng liêu với ta tỉnh ra, 
khi ta trù úm, sát phạt với các huynh Hoàng Minh Chính, Trân Độ, 
Xin thắp nén nhang cho các tác phẩm ta ra lệnh đốt thành tro
Lạy văn sỹ tài danh Dương Thu Dương bị đi tù.
Vái linh hồn các nhà dân chủ , các trang mạng xã hội chính ta đàn áp
Các chị bán cá Vỹ Dạ ơi!
Tôi xấu hổ giọt nước mắt tôi trộm rơi
Khi nhìn các chị chao chát nói cười, tiếng thở than hả hê, tiếng rên rỉ của những tờ bạc vụn.
Trong khi tôi tiêu hoang bạc kho, vàng đụn
Lấy thuế từ tấm lưng còng của các chị đây!
Từ nay đi cùng các chị 
Tôi tự căm tôi đã đào tạo nguồn những tay làm nghề tôi, nối ngôi tôi là nghề nói láo!
Nghề mà phải bớt gạo 
Trong nồi của các chị để cho chúng nó ba hoa!
Ôi biết bao cuồng phong văn chương bão táp do tôi gây ra

Tạ lỗi quê nhà
Tạ lỗi những người mò hến không có hến ngày ngày đêm đêm bên Cồn Hến để kiếm cháo rau

Điềm tôi đây
Xin đập đầu chịu tội!
   Tôi tin nếu nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết như thế chắc bạn đọc sẽ quý trọng ông nhiều hơn nữa!
Hà nội, ngày 31 tháng 5 năm 2013
Đ - H
 

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2013

Thơ vui tặng Đỗ Hoàng

Thơ vui Trần Hậu

Thứ sáu - 24/05/2013 15:17

 Nhà thơ Trần Hậu

THƠ VUI TẶNG ĐỖ HOÀNG

Nhìn từ xa Đỗ Hoàng,
Hao hao như Xuân Diệu,
Cũng mái đầu rất điệu,
Gờn gợn sóng Quy Nhơn.

Đỗ Hoàng nhìn gần hơn,
Chẳng giống gì Xuân Diệu,
Đỗ Hoàng vốn hay rượu,
Còn Xuân Diệu thì không.

Đỗ Hoàng yêu mênh mông,
Xuân Diệu “yêu là chết”,
Xuân Diệu không vợ con,
Đỗ Hoàng – nhiều khôn xiết!

Đỗ Hoàng và Xuân Diệu,
Nhìn gần rồi nhìn xa -
Hai tài năng tiêu biểu,
Của nền thơ nước ta!
THƠ VUI TẶNG ĐỖ HOÀNGNhìn từ xa Đỗ Hoàng,Hao hao như Xuân Diệu,Cũng mái đầu rất điệu,Gờn gợn sóng Quy Nhơn.Đỗ Hoàng nhìn gần hơn,Chẳng giống gì Xuân Diệu,Đỗ Hoàng vốn hay rượu,Còn Xuân Diệu thì không.Đỗ Hoàng yêu mênh mông,Xuân Diệu “yêu là chết”,Xuân Diệu không vợ con,Đỗ Hoàng – nhiều khôn xiết!Đỗ Hoàng và Xuân Diệu,Nhìn gần rồi nhìn xa -Hai tài năng tiêu biểu,Của nền thơ nước ta!