Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2013

Điềm ơi! Đừng rên rỉ nữa.


Điềm ơi! Thôi đừng rteen rỉ nữa.

Thứ hai - 20/05/2013 12:02



 

Thái Doan Hieu  (phải) và Nguyễn Trọng Tạo




ĐIỀM ƠI, THÔI ĐỪNG RÊN RỈ NỮA !

{Trả lời bạn văn Đinh Triết ở Australia và một số bạn đọc không hiểu yêu cầu trợ giúp sau khi đọc bài tản văn
của tôi Không tiêu hóa được chính kiến (1) đăng trên trang trannhuong.comvà một số web khác]


THÁI DOÃN HIỂU

Anh Hiểu,
Tôi không mở được mã bài chẩn bệnh của Anh  đối với Nguyễn Khoa Điềm chính xác đến mực nào ?
 Triết

Thưa Anh Đinh Triết, cùng các bạn đọc yêu quý.

NGUYỄN KHOA ĐIỀM khi còn đi với Nhân Dân thì viết được những bài thơ vềĐất Nước rất hào sảng, nhưng khi leo lên đến đỉnh cao của quyền lực thì quyền lực lại nhanh chóng biến đổi  con người.Thôi đành, đi theo ma phải mặc áo giấy vậy, quay lưng lại với Nhân Dân. Nguyễn Khoa Điềm dĩ nhiên không có cái khí phách can trường của Chu Văn An dâng sớ lên vua đòi chém 7 tên gian nịnh hách nhất trong triều, Điềm về hùa với nhóm lợi ích, cưỡng bức 90 triệu dân đi theo vết xe đổ của CNXH. Hệ quả là đất nước cứ bùng nhùng trong hàng chục quốc nạn không có lối ra, nặng nhất là chảy máu chất xám và tệ tham nhũng với hàng bầy sâu dân mọt nước, nạn cường hào cướp đất của dân, nạn công an làm luật trắng trợn trên mọi nẻo đường giao thông, nạn dối trá, bịp bợm, nạn  hội chứng chạy, phong bì, nạn ma tuý xì ke, đĩ điếm, nạn kinh doanh quyền lực, mua bán bằng cấp, nạn buôn thần bán thánh, nạn dùng luật rừng xử án phơi bày tất cả sự yếu kém của nền tư pháp Việt Nam trước bàn dân thiên hạ… Đất nước thiếu lãnh tụ - người cầm lái và cầm cân nẩy mực từ trên xuống dưới. Xã hội phân hóa giàu – nghèo thảm khốc. Chúng ta đang sống trong thời kỳ “đồ đểu” lên ngôi (Trần Quốc Vượng) với một xã hội đảo điên bởi sự thao túng từ các tay nô bộc bất tài vô đức. Trong thời gian đương chức đương quyền, Điềm cũng làm nhiều trò lố: đàn áp các nhà Dân chủ đòi đa nguyên đa đảng, cho tay chân bao vây ném đồ thối vào nhà thầy học của mình là Cụ Hoàng Minh Chính, bịt miệng, bỏ tù nhà văn Dương Thu Hương  và các văn nghệ sĩ đòi tự do cho ngòi bút. Nhưng khi về vườn, trở lại với đời sống thường nhật của một dân đen, tiếp xúc với đời sống nheo nhóc cùng khốn của người dân Huế, Nguyễn Khoa Điềm mới vỡ mộng ra là những lý tưởng mà anh ta ôm ấp bấy lâu chỉ là cái tưởng ...có lý ! Cuộc cách mạng lạc đường rồi ư ? cách mạng đổ ra cả núi xương sông máu mà không có mục đích ? Nước Nhật bại trận năm 1945, sau 30 năm thành cường quốc kinh tế. Nước Việt Nam thắng trận năm 1975 đánh bại tên Hung nô bạo tàn nhất thế giới, sau 30 năm vẫn là nước lệt đệt theo sau thế giới về nghèo đói và lạc hậu. Toàn bộ kinh tế khổng lồ của đất nước hằng ngày ào ạt chảy vào hồ lô những nhóm lợi ích, những tên tư sản đỏ, của cải chúng vơ vét được mấy chục đời ăn không bao giờ hết. Độc lập mà không có tự do, độc lập mà không có cơm no áo ấm cho dân, cả nước vẫn sống dưới mức nghèo khổ so với thế giới thì độc lập ấy có nghĩa lý gì như bác Hồ đã dạy. Lỗi tại ai vậy thưa đồng chí UVBCT Nguyễn Khoa Điềm ? Tại các đồng chí lãnh đạo chứ còn ai, trong đó có ngài ! Thế là Nguyễn Khoa Điềm rơi vào khoảng trống cô đơn, rối loạn tín ngưỡng, sợ hãi, tuyệt vọng, lạc lõng với mọi người. Anh ta buồn, anh ta sám hối, anh ta lo lắng cho vận nước (!?) Lo lắng cái nỗi gì ? Khi quyền lực có trong tay thì Điềm không cất chân động tay, nay sư tử rụng hết nanh vuốt lại ngồi trong xó gầm gừ, xót xa cho hiện tình đất nước: văn hóa xuống cấp, đạo đức băng hoại, tình người trắng vôi, khủng hoảng niềm tin từ trên xuống dưới. Là Trưởng ban Tuyên giáo TW đảng, bộ trưởng bộ văn hoá - người nắm linh hồn dân tộc sao Điềm không có một quyết sách nào tử tế để cứu nguy dân tộc ? mà còn than cái nỗi gì ?  Mới rời khỏi cỗ xe quyền lực, Điềm hỏi rất ngố "Ai sẽ nắm vận mệnh chúng ta - Trong không gian đầy sợ hãi?...”. Thì vào tay ai nữa, nó nằm trong tay bọn đàn em ở bộ Chính trị của Điềm chứ chạy đi đâu ? Quyền lực của một UVBCT thì cao ngất ngưởng nhưng không có thực quyền tập trung. Bộ Chính trị chỉ là một thứ vua tập thể với 15 ông vua con mà bạn đọc cũng cần thông cảm cho Điềm. Danh hư họa thực là vậy. Đi với BCT thì được mình, đi với Dân thì mất mình. Nguyễn Khoa Điềm những năm tháng trong BCT giống như ngồi trên lưng cọp. Gương Trần Xuân Bách còn sờ sờ ra đó.Từ một trí thức thông minh, học rộng biết nhiều, đức độ muốn tồn tại Điềm phải tập làm con chim khướu hót theo. Không hót thì chết. Có thể chính Điềm và NPT là tác giả đại tài chế ra công thức trộn nước vào lửa "kinh tế thị trường định hướng XHCN" tạo nên một nền kinh tế TBCN hoang dã méo mó què quặt không giống ai. Tuy thế, uy tín của Nguyễn Khoa Điềm cũng nhiều phen gieo neo. Khi cử người đi dự đại hội Đảng khóa XI,  Điềm chỉ được hai phiếu.

Bi kịch của Nguyễn Khoa Điềm là bi kịch của một người không tiêu hóa được chính kiến, không tìm ra phương hướng cho cuộc đời mình, cho vận mệnh của đất nước. Cuộc đời của Nguyễn Khoa Điềm giống cuộc đời của Tô Đông Pha và Nguyễn Du trong tâm trạng hoạn lộ thì hanh thông nhưng trong bụng toàn chứa những cái không hợp thời, quá đát.

Nguyễn Khoa Điềm và Thái Doãn Hiểu tôi có khá nhiều điểm giống nhau: Điềm xuất thân trong một gia đình danh gia vọng tộc, có bà nội là công chúa con vua Thành Thái, có cha là nhà phê bình văn học macxit xuất sắc Hải Triều (3), có cô ruột là nguyên Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam.  Hiểu tôi sinh trong một gia đình nhà nho thanh bạch, có bố là nhà cách mạng lão thành Thái Doãn Tiên, Đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương 1930,  là nhà giáo trí thức tham gia Xô viết Nghệ Tĩnh, bạn tù của Hồ Tùng Mậu và Tôn Quang Phiệt. Hai người Điềm - Hiểu cùng ra đời trên giải đất hẹp miền Trung nghèo kiết. Hai người cũng sinh năm Quý Mùi 1943. Hai người cùng học Đại học Sư phạm một thời, cùng trở thành thầy giáo  văn chương. Điềm và Hiểu cùng tham gia chiến tranh chống Mỹ. Điềm làm thơ và trở thành nhà thơ nổi tiếng, Hiểu viết nghiên cứu và phê bình văn học, trở thành học giả ngoài quốc doanh đáng nể. Điềm làm Chủ tịch Hội Nhà văn, Hiểu cũng chẳng màng vào Hội. Điềm lên làm bộ trưởng bộ Văn hóa, Hiểu cũng chẳng động dong. Điềm leo lên làm UVBCT phụ tranh văn hóa tư tưởng, Hiểu vẫn chỉ là Phó thường dân Nam Bộ. Cái số nó thế: Điềm sinh ra là để làm quan, Hiểu sinh ra là để làm dân.  Điềm thuộc giai cấp thống trị ăn trên ngồi trước cỡ bự, Hiểu tôi thuộc giai tầng bị trị dưới đáy. Điềm xa rời Nhân Dân hơn 15 năm, Hiểu tôi trọn đời trước sau như một dùng cây bút phụng sự Nhân Dân không bao giờ chệch hướng.

Điềm ạ, không như anh, giới trí thức chúng tôi buồn từ lâu những ba bốn chục năm nay cho sự hẩm hiu của đất nước, sự lầm than của Nhân Dân. Chúng tôi thì chẳng có thời gian để buồn, ngày ngày phải đánh vật với đồng lương chết đói trên thí  dưới cho, chỉ  đủ “cầm hơi và để khỏi mất giống” (K.Mác). Đọc "Đất nước những tháng năm thật buồn"  (3) của Điềm quả buồn thực. Nó phả cái nỗi buồn nhếch nhác sang cả tôi. Điềm thường xuyên sống trong nhung lụa, quyền uy sinh sát trong tay, miệng nói ra toàn là gang là thép, có bao giờ Điềm biết buồn. Thế mà nay toàn cái giọng hắt ra. Điềm "chường cái mặt thật của mình trong thơ" (4) cho bàn dân thiên hạ chiêm quan. Dại thật. Làm chính trị phải có thủ đoạn và nói dối như cuội. Làm thơ cũng vậy thôi. Sao Điềm dại  thế ? cứ thổ lộ bô lô hồn nhiên như thời "Mặt đường khát vọng" vậy sao ? Điềm là người từ xứ sông mê trở về cơ mà, người ta sẽ xét nét Điềm ở mọi phương diện.

Không còn quan dân lệ cách với mấy lần lính gác, một vị đại đại quan viên Nguyễn Khoa Điềm và một gã thảo dân Thái Doãn Hiểu bây giờ đã có thể ngồi với nhau trong một quán cóc lơ xơ bên bờ sông Hương sì sụp xơi với nhau một tô bún Huế cay xè ngún khói hoặc nhâm nhi vài cái bánh bèo, bánh nậm, đọc cho Điềm nghe chân dung của Điềm được Hiểu khắc chạm khá kỳ công những bốn chục trang trong "Thi nhân Việt Nam hiện đại" (5). Nhưng không, ra Huế dự Fettivan thơ Huế năm 2008, hắn  không dành làm chuyện theo thói tục này mà nhảy núi, chui vào thảo am đàm đạo rất tâm đắc việc đời việc văn với Tỳ kheo Minh Đức Triều Tâm Ảnh. Trần Đăng Khoa tinh ý nhận ra kẽ nứt Hiểu đã xem thường Điềm từ đó và cứ cười ngất mãi.

Điềm ơi, thôi đừng làm thơ, đừng ngậm ngùi rên rỉ nữa ! Lộ bem ra cả rồi. Các nhà thơ Trần Mạnh Hảo, (6), Lê Duy Phương (7) thương tình mà tán dương  thế thôi, chứ thực ra lôi kéo một người đã hết xí quách như Điềm bây giờ phỏng có ích gì. Chẳng qua là họ muốn tìm sự đồng cảm ở Điềm để xả xú bắp nỗi sầu nhân thế ra mà thôi. Lại khen thơ Điềm "Những câu thơ tuyệt hay mà nhà thơ rút ra từ gan ruột đã làm tôi choáng váng"  (6). Kể cả Thanh Thảo và một vài gã nữa, họ nịnh đầm đấy. Nếu lấy mỹ học làm thước đo thì thơ Điềm chỉ rặt một loại văn xuôi chặt khúc, chẳng có câu nào hay cả. Từ ngày về hưu, Điềm làm cả tập thơ, chẳng bài nào lọt mắt xanh nhà phê bình Thái Doãn Hiểu, nó làng nhàng những lời thở than sám hối dại dột, chỉ làm sướt mướt một số mệ hay mủi lòng, nó gây kích thích tò mò cho một số kẻ ưa thóc mách buôn dưa lê. Ừ, thì người ta cũng quý Điềm ở chỗ : sau lần áo vải trái tim của một quan lớn vẫn chưa đến  nỗi xơ cứng, vẫn còn biết đập một nhịp thắm đỏ với Nhân Dân, vẫn còn biết yêu ghét, giận hờn, buồn tủi, đắng ngọt… với chốn nhân gian bé tẹo này !






---------------------------------------------------------------------------------

(1) Không tiêu hóa được chính kiến 

http://trannhuong.com/

http://nguyentrongtao.info/2013/05/06/khong-tieu-hoa-d%C6%B0%E1%BB%A3c-chinh-ki%E1%BA%BFn/

http://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/to-dong-pha-om-toan-nhung-cai-khong-hop-thoi

http://docago.wordpress.com/2013/05/06/thai-doan-hieu-khong-tieu-hoa-duoc-chinh-kien/


Không tiêu hóa được chính kiến

                          Riêng tặng Nguyễn Khoa Điềm

THÁI DOÃN HIỂU


Quan Thượng thư Bộ Lễ Tô Đông Pha vào triều chầu vua Triết Tông xong, về nhà quá chén bụng căng tức anh ách. Ông lấy tay xoa bụng, thong thả đi tản bộ cho tiêu bớt, mặt  nhăn nhăn nhó nhó, quay phải quay trái hỏi gia nhân theo hầu:

- Các ngươi thử đoán hộ xem cái chi trong này ?

Một hầu gái nhanh nhảu:
-  Dạ thưa đại nhân, toàn là thi phú vàng ngọc cả ạ !

Tô Đông Pha lắc đầu. Lại một hầu nam thưa:
- Bẩm ! Toàn gan ruột cả ạ ?

Tô lắc lắc đầu quầy quậy, cho là trả lời chưa thỏa đáng. Đến lượt mình nàng Triêu Vân thưa:

-  Kẻ sĩ là hàng tôn qúy của triều đình ôm một nang toàn những cái không hợp thời cả ạ!

Nghe nói trúng ý mình, Tô ôm bụng cười ha hả !

LỜI BÌNH:

Cười ha hả mà ruột gan lại đắng chát héo quắt ! Ở đời còn gì chán chường và lố bịch hơn khi phát hiện ra rằng những lý tưởng mà mình ôm ấp trong lòng chỉ là cái tưởng có… lý ! Phải chăng thoại kể trên đây là sự thức tỉnh, sám hối của Tô Đông Pha trong những năm tháng đạt vận nhất của cuộc đời hoạn lộ dưới ô dù che chở của Tể tướng Tư Mã Quang? Sao lại đi với Bóng Tối là phe Cựu đảng đã bị đánh bại c ủa Vương An Thạch là lực lượng tiến bộ đang vươn ra phía Ánh Sáng ? Có lẽ đó là sự tan rã tất yếu óc cố chấp, thói bè đảng ti tiện khi người ta dám từ bỏ đặc quyền đặc lợi riêng để phụng sự cho cái chung là Tổ quốc, từ đó để giải quyết thỏa đáng vấn đề chỗ đứng của cá nhân trong lịch sử.

Đọc truyện Tô Đông Pha, tôi lại nhớ đến cảnh ngộ của Nguyễn Du quãng làm quan cho triều đình nhà Nguyễn khi ông tự diễu mình:

Đa thiểu nhất tâm trung sở sự
Mỗi vi thiên hạ tiếu kỳ nhi
(Những người cứ trung thành với kẻ mình giúp việc
Thường để người đời chê cười cho đó là ngu)

Người đời, có ai rơi vào trạng huống khó xử: không tiêu hóa được chính kiến của mình như ông Thượng thư bộ Lễ họ Tô và ông Tham tri bộ Lễ họ Nguyễn này không nhỉ? 

 

Nhà tho Nguyen Khoa Điềm

(2) Năm 1970, khi đi thực tập sư phạm ở Đông Sơn, Thanh Hoá, tôi và một nhóm sinh viên trường Đại học sư phạm Vinh đã trèo lên đỉnh rừng thông viếng mộ ông Hải Triều thân phụ Điềm - người nổi tiếng là chủ soái của cuộc tranh luận nẩy lửa giữa "Nghệ thuật vị Nghệ thuật" và "Nghệ thuật vị nhân sinh" .


(3)  Đất nước những tháng năm thật buồn
Nguyễn Khoa Điềm



NQL: Mình vừa nhận được thơ bác NKĐ gửi cho, tác giả của những vần thơ về Đất nước cháy bỏng năm xưa lại ngậm ngùi nghĩ về Đất nước hôm nay. 
Đọc bài thơ “Đất nước những tháng năm thật buồn” của bác Điềm, mình bất chợt nhớ đôi câu thơ của bác:
Ta đã đi qua những năm tháng không ngờ/ vô tư quá để bây giờ xao xuyến... tự nhiên thấy cay cay đầu sống mũi.

Đất nước những năm thật buồn
Nửa đêm ngồi dậy hút thuốc vặt
Lần mò trên trang mạng tìm một tin lành
Như kẻ khát nước qua sa mạc
Chung quanh yên ắng cả
Ngoài đường nhựa vắng tiếng xe lại qua
Người giàu, người nghèo đều ngủ
Cả bầy ve vừa lột xác

Sao mình thức ?
Sao mình mải mê đeo đuổi một ngày mai tốt lành ?

Bây giờ lá cờ trên Cột cờ Đại Nội
Có còn bay trong đêm
Sớm mai còn giữ được màu đỏ ?
Bây giờ con cá hanh còn bơi trên sông vắng
Mong gặp một con cá hanh khác ?
Bao giờ buổi sáng, buổi chiều nhìn ra đường
Thấy mọi người nhẹ nhàng, vui tươi
Ấm áp ly cà phê sớm
Các bà các cô khỏe mạnh yêu đời
Hớn hở tập thể dục
Bao giờ giọt nước mắt chảy xuống má
Không phải gạt vội vì xấu hổ
Ngước mắt, tin yêu mọi người

Ai sẽ nắm vận mệnh chúng ta
Trong không gian đầy sợ hãi ?
Những cây thông trên núi Ngự Bình thấp thoáng ngọn nến xanh
Đời đời an ủi
Cho người đã khuất và người sống hôm nay …
 22.4.2013
About these ads


(4) Tên một bài báo tâm sự của Nguyễn Khoa Điềm.

 (5) Trong Thi nhân Việt Nam hiện đại, Thái Doãn Hiểu xếp Nguyễn Khoa Điềm vào số 152 nhà thơ có công đổi mới thế ca Việt nửa cuối thế kỷ XX. Chân dung của Nguyễn Khoa Điềm rất đẹp, tỉ mỉ và chân xác  trong bộ sách trường thiên 4.000 trang.

(6) Thơ Trần Mạnh Hảo:

Đất nước có bao giờ buồn thế này chăng?

Trần Mạnh Hảo




Lời mào đầu của tác giả: Tôi viết bài thơ này sau khi đọc bài thơ “ Đất nước những tháng năm thật buồn” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Xin cám ơn nhà văn Nguyễn Quang Lập đã đăng bài thơ này trên trang web Quê choa ngay sau khi tác giả gửi đến. ( tại đây)
Cũng xin cám ơn nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã gợi hứng cho tôi viết bài thơ “Đất nước có bao giờ buồn thế này chăng ?”. Nguyễn Khoa Điềm thế hiện trong bài thơ “ Đất nước những năm tháng thật buồn” là một con người cô đơn tuyệt đối trong một xã hội mà đảng cộng sản muốn tập thể hóa cả tấm hồn con người. Sao trong chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa vui hơn tết này mà nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lại thấy đất nước mình buồn thảm dường ấy ? Những câu thơ tuyệt hay mà nhà thơ rút ra từ gan ruột đã làm tôi choàng váng
:
Bây giờ lá cờ trên Cột cờ Đại Nội
Có còn bay trong đêm
Sớm mai còn giữ được màu đỏ ?
Bây giờ con cá hanh còn bơi trên sông vắng
Mong gặp một con cá hanh khác ?

Bao giờ giọt nước mắt chảy xuống má
Không phải gạt vội vì xấu hổ
Ngước mắt, tin yêu mọi người

Ai sẽ nắm vận mệnh chúng ta
Trong không gian đầy sợ hãi ?

Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ “ thời chống Mỹ” gần như duy nhất còn có thể làm được thơ hay. Maiacopxki từng nói : “Anh có thể dối em tất cả nhưng trong thơ anh không thể dối”. Tôi không tin vào những bài thơ nhàn nhạt, tôi chỉ tin vào thơ hay. Anh Điềm làm thơ hay như thế khiến tôi tin anh đang thành thật bộc lộ con người cô đơn, con người gần như tuyệt vọng vào một đất nước đang bị băng hoại như đất nước ta hôm nay. Có khá nhiều người vẫn lên án nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm chỉ vì anh đã từng là ủy viên bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam phụ trách trưởng ban tuyên giáo…Xin nhắc lại một câu danh ngôn phương Tây : “ Quyền lực làm tha hóa con người”. Vâng, đã đi theo ma thì phải mặc áo giấy. Nếu Trần Mạnh Hảo hay nhà thơ Bùi Minh Quốc… do ma đưa lối qủy dẫn đường mà bỗng dưng vào được bộ chính trị đảng cộng sản, biết đâu ta lại chẳng sắt máu hơn anh Điềm hồi ấy…, biết đâu ta vẫn còn diện áo giấy để làm ma văn học ? Hãy để anh Điềm được quyền làm một nhà thơ công dân, được quyền mặc áo vải, được nói thật với trang giấy và độc giả bằng những vần thơ nhỏ máu…
Tôi bắt đầu yêu quý lại nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm bằng bài thơ rất hay này của anh…

ĐẤT NƯỚC CÓ BAO GIỜ BUỒN THẾ NÀY CHĂNG ?

Đêm trường ma giáo mặt trời đỏ
Những dòng sông là đất nước thở dài
Chó sủa trăng nhà ai ?
Không phải vầng trăng đất nước

Tôi ngồi ngót bảy mươi năm
Chờ một lời nói thật
Bầy sói tru ý thức hệ lang băm
Người nông dân bị cướp đất phải hát bài dân chủ
Đêm đêm thạch sùng tắc lưỡi bỏ đi

Đất nước đang treo trên sợi chỉ mành
Sợi chỉ mành 16 chữ vàng và dối lừa 4 tốt
Có kẻ rước giặc lên bàn thờ
Xì sụp lạy khấn tàn nhang chủ nghĩa
Những giáo điều làm cơm nguội bơ vơ 

Xin cứ tự do bán lương tâm cho chó
Vãi linh hồn vào thùng rác nhân dân
Mối mọt ăn rào rào lòng rường cột
Ôi thương thay giẻ rách cũng tâm thần
Anh sẩm bạc đầu dẫn đường dân tộc
Đám gà què bàn hiến pháp cối xay

Đất nước có bao giờ buồn như hôm nay
Những thiên đường vỡ chợ
Những học thuyết đứng đường
Hoàn lương tượng đài
Hoàn lương chân lý
Nghị quyết còn trinh bạch cũng hoàn lương

Không ai đuổi cũng giật mình bỏ chạy
Nhốt hết mây trời vào hiến pháp tự do
Mơ được đứng bên lề đường
Nói một câu gan ruột
Đất nước buồn
Đất nước bị ruồi bu

Đất nước bị cầm tù trong ngực trái
Chưa kịp nghĩ một điều gì
Sao đã toát mồ hôi ?
Có nơi nào buồn hơn đất nước tôi ?

Lý tưởng của loài dơi là muỗi
Dơi bay đêm cho đất nước đỡ buồn
Không ai tin vào hoa hồng nữa
Không ai tin vào dơi nữa
Dơi trở về làm chuột khoét quê hương

Sài gòn 24-4-2013
Tác giả gửi cho Quê Choa

 Trần Mạnh Hảo ngẫu hứng từ Nguyễn Khoa Điềm


(7) Thơ Lê Duy Phương
Điềm ơi !
Lê Duy Phương


Khi Điềm còn ở trên cao
Cái buồn thế sự đã vào chúng tôi
Bây giờ trời đã chiều rồi
Ngẫm ra thì muộn khóc cười làm chi
Phố phường vẫn lắm người đi
Hoa vẫn nở chẳng có gì khác đâu
Khác là ở chốn xa sâu
Trẻ em đi học không cầu qua sông
Khác là tận ngoài biển đông
Chủ quyền ta họ nói không lâp lờ
Riêng màu đỏ của ngọn cờ
Ở Đại Nội hay biển bờ xa xôi
Vẫn luôn phơi phới đỏ tươi
Nhạt là nhạt ở tình người Điềm ơi



 

ột nền văn nghệ "sôi động' mà trống rỗng.


MỘT NỀN VĂN NGHỆ SÔI ĐỘNG MÀ TRỐNG RỔNG


( Hội thảo tự do*)
Lời Bà Đầm xòe:
Ngày 19 tháng 5  là ngày sinh nhật ông Hồ Chí Minh. Chào mừng ngày sinh nhật này, mấy anh tôi tụ tập tại nhà nhà văn Nguyễn Đình Chính bàn về văn học nước nhà làm móm quà tặng chúc mừng ông Hồ Chí Minh.
7 
Nhà văn Nguyễn Đình Chính:
Một số nhà văn sinh sống ở nước ngoài có đưa ra nhận định về nền văn nghệ ở trong nước trong vài năm gần đây rằng, “Nó đang rất sôi động. Tôi trả lời ngay rằng, “đúng, nó sôi động, thậm chí rất sôi động nữa là khác, nhưng là sôi động mà trống rỗng”.

Tôi đã có đánh giá khải quát như vậy, tất nhiên là tôi không nói chơi, nói cho nó sang cái lỗ mồm mà là nói trên cơ sở của nó. Trống rỗng bởi vì nền văn học không thấy xuất hiện những tác phẩm văn nghệ xứng tầm, không thấy một định hướng có khả năng để cho ra đời những tác phẩm văn nghệ xứng tầm.
Tôi xin tạm dừng lời ở đây, nhường lời cho nhà văn khác.
Nhà văn Phạm Thành:
IMG_3650Nó sôi động mà trống rỗng, cụm từ mới này nghe hay đấy. Hay là vì nó phản ảnh đúng bản chất của hoạt động văn nghệ hiện nay. Tôi muốn làm rõ hơn nội hàm của cụm từ này: nó sôi động ở điểm nào, nó trống rỗng ở điểm nào.
Nó sôi động vì thấy kênh truyền hình nào, phát thành nào, cũng như báo chí in trên giấy, báo nào cũng có chuyên mục bàn đến chuyện văn học nghệ thuật, thậm chí văn học nghệ thuật xuất hiện dưới dạng diễn, dưới dạng câu chuyện… ngày nào cũng ồn ào, hò hét vang vang. Nào là: Mỗi ngày một cuốn sách, nào là “ai đồ”, nào là “cả nhà cùng hát”, nào là “cặp đôi hoàn hảo”, vân vân. Nhiều đến mức mà tôi phát chán không muốn nhìn mặt sao nay, nhìn đùi, vú sao kia, nhà biên kịch này, nhà văn, nhà thơ, nhà đạo diễn hay nhạc sĩ nọ nữa. Các “món ăn” nghệ thuật xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng nhiều đến mức nghe đã chán tai, nhìn đã mỏi mắt như vậy thì chẳng hạ một câu sôi động thì còn biết hạ chữ gì.
Sôi động như vậy những thực chất thì vẫn trống rỗng. Tôi tán thành. Thực chất, các màn sôi động của nền văn nghệ nước nhà chỉ là sự sôi động trong cấc trò diễn của đàn cào cào, trâu trấu hay như lũ “cá mán động sòng”, còn những chân nhân, những tác phẩm thực sự có giá trị thì vẫn nằm bên lề sự sôi động ấy hay là nó chưa chịu “sủi tăm” lên
Tôi chí nói gọn bằng cách đưa ra những câu cho những tác phẩm thực sự có giá trị tính trong thời gian xuất bản gần đây:
“Thời của Thánh thần là cuốn sách có giá trị”. Nó nằm ở đâu trong chuỗi sôi động của nền văn nghệ nước nhà? Nó không nằm ở đâu hết. Nó chỉ nằm ở đám in sách lậu để kiếm lời không biết là bao nhiêu. Sự sôi động này là sôi động các nhà văn đang bị xéo thịt vì sự cố tình không quản lý chặt chẽ nạn in sách lậu từ phía chính quyền. Mục đích để làm gì thì ai cũng biết.
“Dưới Chín tầng trời”, “con ngố” cũng chịu cùng số phận.
Rồi tập thơ “chẹc chẹc” được bạn đọc trong và ngoài nước đánh giá cao, nhưng cũng không nằm trong sự sôi động này. Hay dở của nó, phản động hay không phản động của nó cũng chả được ai có ý kiến đánh giá hay hội thảo về nó.
Mới đây nhất “Bên thắng cuộc”, mặc dù sách không in ở trong nước nhưng nó được xuất bản trên mạng, nhiều người đã đọc, nó cũng không nằm trong chuỗi sự sôi động của nên văn nghệ nước nhà.
Và rồi còn bao nhiều cuốn sách các nhà xuất bản từ chối không in, nó cũng là vấn đề rất đáng được sôi động, nhưng nó cũng chí nằm im “chờ chết” không có chỗ trong sự sôi động kia.
Tóm lại, sự sôi động của hoạt động văn nghệ nước nhà thực chất chỉ là sự sôi động giả tạo, vì trong đó không thấy xuất hiện những tác phẩm văn học có giá trị đích thực của văn học nghệ thuật nước nhà.
Nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức:
4Tôi đồng ý với nhận định của Nguyễn Đình Chính về nền văn nghệ nước nhà hiên nay: ồn ào nhưng trống rỗng.
Nhà văn Phạm Thành đã nói đến khía cạnh sôi động từ truyền thông, tôi bổ sung vào đây sự sôi động của nền văn học nước nhà còn là ở các giải thưởng. Giải thưởng Nhà nước, giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Hội Nhà văn, giải thưởng Đông Nam Á. Giảỉ thưởng này, thực chất chỉ là dùng nhãn tem phiếu của cơ quan Bưu Điện gắn mác cho văn học mậu dịch đã hết thời. Nó không lôi kéo được các nhà văn chân chính tham gia hay có tham gia cũng chẳng được, nhưng cái tồi tệ của nó là tạo ra dòng xoáy kế tiếp nhau cho kẻ hám lợi, hám danh, kẻ thích được nhận phiếu bé ngoan và hoan ngênh những miếng thịt, cân gạo ghi trong tem phiếu đau tranh.
Văn học phục vụ là văn học của cái máng lợn ở trong chuồng lợn. Người Việt Nam nhỏ bé chí thích cái gì cũng be bé. Tầm nhìn thì quẩn quanh: “Đi xa nhà thì nhớ em. Đói thì nhớ bánh chay, bánh đúc. Văn chương nghệ thuật chỉ đủ dụ dỗ các bà già và lừa phỉnh đám trẻ con.
 Nền học vấn của ta với phương pháp đào tạo ra để làm quan, cho nên ít khi họ dám ngảng mặt nhìn lên trần nhà hoặc cao hơn trần nhà mà họ chỉ nhìn vào bàn ăn, nhìn tiền, nhìn quyền, họ luôn luôn muốn hòa vào cốc nước mậu dịch vì trong đó có đường. Nghệ thuật như vậy thì đâu có tương lai.
Vụ Doàn Văn Vươn ầm ĩ đất nước như vậy, mây ông văn nghệ sĩ lại chui vào quán uống trà, uống rượu đến mức say rồi lên giường trùm chăn lại ngáy kho kho, khi tỉnh lại thì cái mặt trang trang nghiêm nghiêm đòi người khác đứa giấy bút để sáng tác. Như thế thì tác phẩm làm sao mà không trống rổng.
Hơn nữa, giải thưởng thường niên kiểu này chí tạo ra sự ly khai trong lực lượng sáng tác ngay một mạnh mẽ hơn, và chính những người kiên quyết ly khai mới có khả năng tạo ra nhưng tác phẩm văn học có giá trị.
Paxitecnas ( Nga) là ly khai.
Ở Việt Nam ta cũng đã xuất hiện những ly khai mới. Nhà văn… trả lại giải thưửng, nhà văn Y Ban trả lại giải thưởng, trả lại chức vụ. Đó là sự thức tỉnh và đã bắt đầu nhận ra “sự tủi nhục khi đứng chung trong cùng một chuồng”.
Lẽ ra nền văn nghệ nước nhà phải nắm lấy những câu chuyện này để tạo ra sự sôi động mang sức sống mới của nền văn nghệ thì nền văn nghệ lại cứ suốt ngày cả bài ca cũ, khuôn mặt cũ, kích thích cái trò nhố năng mang đậm chất của xướng ca ngay đêm trên các phương tiện thông tin đại chúng thì nên văn nghệ ấy sẽ sôi động nhưng trống rổng còn dài.
Nhà phê bình sân khấu Nguyễn Thành:
2Tôi xin nói về sân khấu, một loại hình nghệ thuật của văn học nghệ thuật. Nó là loại hình rất gần với đời sống, có sức cổ động, lay chuyển, rung động đám đông hơn hẳn các loại hình nghệ thuật khác.
Hiện nay loại nghệ thuật này đang tồn tại như thế nào. Tôi cũng đau lòng lắm, mặc dù sân khấu bây giờ khác trước nhiều. Sân khấu hiện tại cũng tồn tại hai loại: Mậu dịch và phi mâu dịch và nó đang thoái trào với căn bệnh là thiếu sáng tạo, trì trệ và xa cách với đời sống.
Dòng sân khấu chính yếu hiện này là sân khấu hề, sân khấu trò, mua vui, vô thưởng, vô phạt, chưa có tác phẩm nào đạt tới hài kịch. Hài kịch bản chất là phát hiện mâu thuẩn. Thời buổi này nhiều tiêu cực, đạo đức suy thoái… nó là “đất” cho hài kịch phát triển, nhưng nhưng vỡ gọi là hài kịch của ta thực chất chí là những vở hài, hề, chủ đề cũng chỉ dám nói đến nhưng cái nhố nhăng trong sinh hoạt để anh tròn trách nhiệm ăn lương của nàh nước và xã hội, rằng “tôi cũng có, tôi cũng đã”. Nhà hát tuổi trẻ có tới chín vở “đời cười”, nhưng ở đây cũng không có hài kịch đích thực. Làm như vậy thực chất là trốn tránh trách nhiệm.
Cũng là sự trốn tránh trách nhiệm trong khai thác đề tài, nền kịch nghệ hiện tại của ta lại phát triển từ Hề kịch sang Kịch Kinh dị. La liệt những vở gây cảm gíac sợ được dàn dựng với các chủ đề như: người ma, người sợ ma, ma sợ người… Nhưng vở diễn này luôn làm cho trẻ em sợ mà khóc thét lên khi xem. Kịch bản và đạo diễn chỉ chú trọng đến “nội dung” gây cảm giác. Bởi vậy mà có hàng loạt vở diễn đã biến Kịch lịch sử thành kịch giả sử; biến anh hùng dân tộc, danh nhân thành thành tình nhân. Ngay cả vở vụ án Lệ Chi viên viết về Nguyễn Trãi cũng vậy, họ đã biên một danh nhân văn hóa thành một người của trai gái nhố nhăng.
Bản chất sự việc này cũng là cách né tránh hiện thực.
Họ quên mất rằng “ Sân khấu chân chính phải là Hàn thử biểu của thời đại”, dùng nó để đo độ nóng, lạnh của thời đại.
Vở diễn chỉ nhằm tác động đến cảm giác nào đó cho người xem, nó chỉ là “động tác” nhằm ru ngủ người ta quên đi hiện thực mà thôi.
Bản chất của cách “ biến thể” này cũng là một:
- Trò hề
- Nhố nhăng.
Sân khâu Việt Nam hiện nay đang tự làm bé mình đi, đang tự biến đổi mình từ hoạt động chuyên nghiệp thủ đô sang nghiêp dư làng bản.
Nhà văn Nguyễn Đình Chính:
Chúng ta đã đánh giá về sự trống rổng trong sự ồn ào của văn nghệ nước nhà trong giai đoạn hiện này, vậy đâu là nguyên nhân của hiện tượng tượng này?
Nhà phê bình Nguyễn Hoàng Đức:
Như ông Nguyễn Thành nói, chung quy lại là kịch sợ hiện thực. Tai sao lại như vậy, cái chính là các nghệ sĩ hèn trong một cái hèn chung của trí thức Việt Nam. Văn học Việt Nam không bao giờ có sám hối và rất hay đánh đồng khái niệm. Người ta hay đồng nhất: “ Put sit kin – Nga là nhà thơ, Nguyễn Du – Việt Nam cũng là nhà thơ”, nhưng Nguyễn Du thì sánh thế nào được với Put sit kin.Cách đánh đồng như thế là ăn gian.
Người Việt Nam ta, văn nghệ sĩ Việt Nam ta đang là sản phẩm của tiểu nông, lối sống tiểu nông, trí tuệ tiểu nông. Thế giới, một nghệ sĩ múa có phẩm cấp thì người múa luôn phấn đấu để múa thế nào mà người xem thấy họ múa mà như không múa, còn Việt Nam mình thì ngược lại cứ cố múa làm sao cho như múa.
Nhà văn Nguyễn Đình Chính:       
Ông cha ta nói: trong đầu không chứa vạn quyển sách, chân không bước qua ngàn vạn nẻo thi không nên viết cái gì. Thế hệ tôi lê bám cơ quan, hương thụ tem phiếu, rồi cố viết mấy câu có vần, có vè cốt cho nó có cảm súc thì tự mãn. Họ không thấy rằng, sản phẩm Văn chương của họ còn thua cả lớp tem phiếu trước.
Phạm Thành viết xong tiểu thuyết Cò hồn xã nghĩa thực chất là một cuốn tiểu thuyết tổng kết cái khốn nạn trên 40 năm theo tem phiếu của đời anh. Hiện thực ngồn ngồn trong đó. Liệu có nhà xuất bản nào của Việt Nam dám in, cũng như “ chẹc chẹc”?
“Online ba lô” không cho tái bản với ly do là nhiều cái “zịt zịt” quá, nhưng “Thời của thánh thần” không cho tái bản thì là lý do gì?”

Nhà phê bình Nguyễn Hoàng Đức:
Trong đầu không chưa vạn quyển sách…” thì là đúng rồi, nhưng kêu gọi ngươi ta đi thực tế là sai, vì nước Việt Nam minh nhỏ bé, công nông binh trà trộn trong một xóm một làng, đủ cả nên thực tế có thể lúc nào cũng đầy trong người anh, nhưng anh không có tác phẩm ra hồn không phải là vấn đề thực tế mà là trình đọ kém và nhiệt huyệt không có. Việt Nam ta các nghệ sĩ sang tác thường chỉ lấy cảm xúc làm phương tiện mà không xuất phát từ lý trí.
Nguyễn Đình Chính:
Ý tôi nói là không phải đi nhiều mà viết được mà ở cái nghĩa nghệ sĩ phải dấn thân. Đọc sách để có kiến thức. Đi cơ sở, chấp nhận thử thách: dân thân.

Nguyễn Hòang Đức: Con người là sản phẩm của tự nhiên và của xã hội. Do đó, chỉ ở xã hội Mỹ mới có Obama da đen lên làm tổng thống. Trung Quốc thì chỉ có người Hán. Ở Việt Nam ta chỉ có bọn nhà văn tem phiếu mới được nhận tiền tài, bổng lộc. Đó là một đướng hướng phát triển sai. Chân lý phổ quát, quyền lực đối với nhà văn là “tác phẩm” của anh ta. Nhưng ở Việt Nam người ta ngăn cấm tất là tại sao? Tại sao chỉ có bọn mậu dịch mới được “đội mũ” quyền lực và “ngai vàng”.
Nhà văn Phạm Thành: Các ông nói đến sự dấn thân. Nhưng cái gì cũng có giới hạn của nó. Dân thân vào thực tế đến mức không còn sức để cầm vững cây bút thì sự dấn thân ấy cũng dễ đi tong lắm. Hoặc chỉ chăm chắm vào viết lách mà sách bị đốt thành tro, vợ con nheo nhóc, mình không có gì cho vào bụng ngày ngày, có muốn dân thân cũng không thể.
*
“Hội thảo” kết thúc lúc 16 giờ ngày 19 tháng 5 năm 2012 với lời hẹn, nhân một ngày đẹp trơi nào đó trong năm chủ đề này lại được tiếp tục “hội thảo”, tất nhiên cũng là để chúc mừng một sự kiện nào đó của nước nhà để duy trì sự “sôi động” cho văn nghệ đương đại nước nhà.
Bà Đầm xòe lược ghi
* Hội thảo gồm: Nhà văn Nguyễn Đình Chính; nhà phê bình sân khấu Nguyễn Thành, nhà phê bình văn học, triết gia Nguyễn Hoàng Đức; Nhà văn, bloger Nguyễn Tường Thụy, Nhà báo Nguyễn Hùng và nhà văn Phạm Thành – Bà đàm xòe.
167IMG_0875

Dắt tay nhau đi... Hà Sỹ Phu


Dắt tay nhau, đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ


Hà Sỹ Phu là bút hiệu của một trí thức trong nước, một nhà nghiên cứu khoa học tự nhiên. Bài viết này của ông đã gây tranh luận sôi nổi, đặc biệt vì nó được viết trước khi xảy ra các biến cố tại Liên xô và Đông âu. Chúng tôi đăng toàn văn để độc giả có một ý niệm về những suy tư của người trí thức trong nước, và cũng là để đền bù phần nào sự thiệt thòi của tác giả : bài của ông chưa hề được đăng trên báo nào trong nước, trong khi những bài đả kích ông xuất hiện nhan nhản. Chúng tôi cũng sẽ có bài giới thiệu những bài đẩ kích - đôi khi có tính cách đe doạ - của các quan chức đảng Cộng sản Việt nam.

Mấy lời phi lộ

Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Nhớ lời dạy ấy của cha ông, tôi bỗng quên đi sự quá hạn hẹp về hiểu biết của mình mà cả gan làm bàn chuyện quốc gia đại sự. Nhưng biết đâu nỗi bức xúc này lại chẳng là chung của nhiều người!

Xin được tiếp cận vấn đề từ góc nhìn của những quy luật lôgic khoa học, trước hết là khoa học tự nhiên. Bài viết có tính chất gợi mở, cung cấp một số nhận thức cơ bản để suy nghĩ, chưa giải quyết vấn đề gì cụ thể, trọn vẹn.

Nếu từ bài viết có thể lọc ra một chút gì đó gọi được là cái hạt nhân hợp lý thì đối với người viết đã là điều may mắn lắm rồi, nên xin miễn phi lộ dài dòng về những sai sót khó tránh khỏi. Tuy vậy người viết không thể giấu niềm hy vọng được người đọc quan tâm hưởng ứng mà chỉ bảo thêm, và cá nhân người viết xin nhận trách nhiệm trước mọi sự phán xét.

Những điều này nói ra hôm nay là đã quá muộn.

Ngày 2 tháng 9 năm 1988

Tú Xuân Hà Sỹ Phu 


Hãy thử để cho trí tuệ được vài phút tự do, xem nó có thể mách bảo ta điều gì. Sau đó, nếu thấy không có gì ích lợi thì xin mọi người cứ coi đây như những lời nhảm nhí mà loại nó ra khỏi bộ nhớ, tưởng cũng chẳng tốn kém là bao. It ra điều đó cũng chứng tỏ rằng chúng ta đã có sự trao đổi dân chủ thực sự.
Chúng ta hãy cùng nhau tham gia vào việc giải thử bài toán lôgic lớn của xã hội mà bấy lâu nay cứ ở trong tình trạng vừa như rất đơn giản vừa như quá thần bí không có lời giải : Mọi điều rắc rối bắt nguồn từ đâu? Bây giờ ta làm theo cách công khai và dân chủ. Mọi người hãy tạm thời thoát ly khỏi những nếp suy nghĩ mà ta đang có, kể cả những tư duy đang được coi là đổi mới, tạm thời thoát ly khỏi những điều đang gắn chặt với quyền và lợi của ta hàng ngày, để cùng ngồi lên chiếc xe của tư duy lôgic. Trong thế giới của tư duy thì không có vùng nào là vùng cấm. Mọi hiện tượng, mọi phạm trù, mọi nhân vật, mọi chủ nghĩa... đều là những dữ kiện của bài toán, không hơn mà cũng không được kém.
Đi một vòng để quan sát toàn bộ bức tranh, ta có nhận xét tổng quát rằng hệ thống mà ta đang khảo sát chứa đựng quá nhiều nghịch lý :
- Hệ thống dân chủ gấp triệu lần lại vướng mắc chính vấn đề dân chủ.
- Hệ thống tiêu biểu cho sự thật (có các nhà xuất bản Sự thật, và chúng ta thường nói chỉ chúng ta mới có đủ dũng cảm nói sự thật) thì đang phải cố chữa cho được bệnh nói dối.
- Hệ thống tiêu biểu cho triết học duy vật lại là điển hình của bệnh duy ý chí
- Hệ thóng ưu việt (tức là tốt vượt hẳn lên), tiêu biểu cho sự giải phóng Con người, thì lại không ưu việt về quyền Con người, luôn bị chỉ trích về quyền Con người :
- Hệ thống tiêu biểu cho sự đề cao những giá trị tinh thần thì lại xuống cấp những giá trị đạo đức, đang cần làm lành mạnh trở lại những quan hệ xã hội và gia đình.
- Hệ thống tiêu biểu cho tính nhân loại, tính tập thể thì lại xuất hiện nhiều ví dụ tệ sùng bái cá nhân, tập trung quyền lực vào tay một người, lấy một người thay cho tất cả.
- Hệ thống tiêu biểu cho sức sáng tạo của tri thức (xem định nghĩa của Lênin về chủ nghĩa cộng sản và người cộng sản)thì vấn đề tri thức lại cứ cộm lên như một hạt nhân của toàn bộ cái hiện thực cần phải cải tổ.
- Chúng ta vẫn nói sự thắng thua giữa các chế độ rốt cuộc là ở năng suất lao động. Ta luôn nói về những thắng lợi to lớn nhưng chính về năng suất lao động thì ta lại thua quá xa!
- Hệ thống xã hội chủ nghĩa được mô tả đầy sức sống, còn chủ nghĩa tư bản thì đang giẫy chết. Vậy mà, trong tất cả những trường hợp quốc gia bị chia cắt làm hai thì dù chia theo kiểu nào, nửa thuộc phía giẫy chết cũng có năng suất lao động và chất lượng sản phẩm tốt hơn nửa kia!
Trước thực tế ấy, nhiều luận điểm đã và đang được chúng ta đưa ra để giải thích. Ví dụ :
- Ta có đường lối đúng đắn nhưng khi thực hiện thì có sai lầm. Trên thì đúng đắn nhưng cán bộ trung gian quá yếu. Chủ nghĩa thì đúng đắn nhưng con đường quá mới mẻ nên ta chưa có kinh nghiệm.
- Đây là khó khăn tạm thời do chiến tranh để lại, bè lũ Đế Quốc, Thực dân và bọn Bành trướng phải chịu trách nhiệm về tình hình khó khăn này.
- Do có những cá nhân không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên thoái hoá, biến chất.
- Do chế độ quan liêu bao cấp. Do thiếu sót về những tư duy cụ thể như tư duy kinh tế, tư duy đối ngoại, v. v...
Trước một xã hội đầy những nghịch lý lớn lao đã kể ở trên thì những luận điểm giải thích này dẫu có phản ảnh được phần nào đấy hiện thực cũng không đủ tầm để bao quát cả một thời kỳ của lịch sử nhân loại. Nó khác nào như đem dầu xoa, thuốc cảm để chữa ung thư vậy.
Từ khi có cuộc Cải tổ, Đổi mới trong phạm vi toàn hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đến nay, chúng ta đã làm được một việc là đem bày ra công khai trước mọi người một số tư liệu để chúng ta nhìn cho đúng chân dung của mình, một chân dung mà tự mình cũng thấy không thể chấp nhận được. Những hiện tượng tiêu cực rất cần được phơi bày, nhưng phơi bày mãi cũng không bao giờ hết, và nếu cứ sửa chữa theo kiểu thợ vườn sai đâu sửa đấy thì chẳng khác nào chơi trò trốn tìm vòng quanh. Điều quan trọng là những hiện tượng tiêu cực đã nêu cần phải hệ thống hoá lại, tìm mối liên hệ nhân quả giữa chúng, rồi theo mạch lôgic mà tìm đến nguyên nhân gốc rễ. Cái mạch lôgic ấy chẳng chóng thì chày sẽ tự động diễn ra trong đầu mỗi người nên dầu ta có sợ cũng không cản lại được. Vận mệnh lâu dài của hàng nghìn triệu người cũng đòi hỏi phải làm như vậy, nếu không mọi sự sửa chữa đều chỉ là sự đối phó nhất thời.
Những thông tin, nhất là thông tin từ cuộc Cải tổ ở Liên xô, đã bộc lộ dần một vài hướng suy nghĩ. Chẳng hạn :
- Cần xem lại một số luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, hay ít ra là xem lại cách hiểu về những luận điểm cơ bản ấy (ý nghĩ này chẳng có gì mới lạ vì chính Mác và Lênin cũng khuyên như thế và cũng từng làm như thế).
- Chủ nghĩa Đế quốc có thật là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản hay chỉ là một trong những bước đi ban đầu của chủ nghĩa tư bản !Và một khi chủ nghĩa tư bản chưa ở giai đoạn tất yếu phải cáo chung thì điều đó có nghĩa là lịch sử chưa đòi hỏi và chưa tạo tiền đề để có một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đích thực...
Chưa nói nguyên nhân nào là đúng, nguyên nhân nào là sai, nhưng ít ra ngưyên nhân cũng phải ở tầm cỡ như vậy mới có thể có sức chi phối ghê gớm đối với xã hội như chúng ta đã và đang thấy.
Song ta cũng không cần nói theo ai cả. Hãy dùng hiểu biết của chính mình mà rà soát lại toàn bộ vấn đề xem có tự phát hiện được điều gì không?
Điều đầu tiên để hiểu một chủ nghĩa là xem mục đích và phương tiện mà chủ nghĩa ấy đề cập tới. Lý tưởng cộng sản là một lý tưởng hết sức tốt đẹp. Vì đã gọi là lý tưởng thì lý tưởng nào chẳng hướng tới hạnh phúc của con người, giải phóng con người khỏi những bất hạnh về vật chất, tinh thần và sự bất công xã hội? Lý tưởng cộng sản nhấn mạnh tính xã hội của con người cũng như của tư liệu sản xuất, điều đó là khoa học, là xu hướng tiến hoá tất yếu của xã hội loài người, nhưng sự xã hội hoá sẽ diễn ra cụ thể thế nào là thuận quy luật thì sẽ bàn sau. Một xã hội không còn người bóc lột người, chính điều này còn gây tranh luận, vì nếu hiểu một cách chung chung là không còn áp bức bất công thì chẳng có gì để tranh luận, nhưng nếu hiểu chữ bóc lột ở đây như một thuật ngữ kinh tế chính trị học, là bóc lột giá trị thặng dư , thì vấn đề lại không đơn giản chút nào. Tuy vậy vấn đề nàycũng xin tạm xếp sang một bên, vì tự nó cũng chưa thể là nguyên nhân sinh ra mọi chuyện.
Điều quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với một lý tưởng lại là đi tới lý tưởng đó bằng cách nào, bằng phương tiện hay công cụ gì. Luận điểm về con đường đấu tranh giai cấp và công cụ chuyên chính vô sản chính là hòn đá tảng của chủ nghĩa xã hội khoa học . Do tầm quan trọng như vậy mà ta hãy dừng lại lâu một chút trên hòn đá tảng này để xem xét cho kỹ, không thể vội và cho qua được.
Giai cấp là gì, và ý nghĩa của nó trong xã hội như thế nào?
Để phân định điều phải và quyết định thái độ cũng như hành động của mình, con người có ba thứ căn cứ : trí thức, lòng tin và quyền lợi. Luôn lấy trí thức, lấy khoa học làm căn cứ, đó là chủ nghĩa DUY Lý (1), cái gì trái với quy luật khách quan mà mình nhận thức được thì không chấp nhận. Luôn lấy lòng tin làm căn cứ là chủ nghĩa DUY TIN (2), cái gì trái với những điều mình tin, mình cho là thiêng liêng thì không chấp nhận. Luôn lấy lợi ích làm căn cứ là chủ nghĩa DUY LợI (3), cái gì trái với lợi ích của mình hay của những người chung lợi ích với mình thì không chấp nhận.
Theo mức độ duy lý, con người chia thành tri thức và không tri thức. Theo mức độ duy tín thì chia thành có tín ngưỡng và không tín ngưỡng. Người thực sự duy lý hay thực sự duy tin thì tự thân không có tính giai cấp rõ rệt, vì sự phân chia giai cấp chỉ là sự phân chia theo quyền lợi. (Giai cấp là những tập đoàn người được phân chia theo sự chiếm hữu đối với tư liệu sản xuất, theo vai trò trong tổ chức sản xuất và theo sự phân phối của cải xã hội : cả ba tiêu chuẩn này đều là quyền và lợi). Hiểu theo nghĩa đó thì người mang tính giai cấp rõ rệt là người duy lợi (túc là lấy lợi ích làm chuẩn, kể cả lợi ích chân chính, lợi ích của một giai cấp). Vì vậy sự phân chia con người thành giai cấp tuy có những ý nghĩa nhất định nhưng không phải là sự phân chia duy nhất có ý nghĩa, không hoàn toàn đầy đủ, không bao hàm được hết xã hội. Tuyệt đối hoá lý thuyết giai cấp là rơi vào thuyết giai cấp cực đoan. Đem cái nhìn giai cấp trùm lên mọi hiện tượng của con người và xã hội sẽ không tránh khỏi làm méo mó xã hội, sẽ gặp lúng túng khi giải quyết vấn đề tri thức, vấn đề tôn giáo cùng như nhiều vấn đề xã hội khác.
Vì quan niệm rằng người nào cũng phải có một thành phần giai cấp nên ta gặp lúng túng khi không biết xếp những người tri thức vào giai cấp nào, và gán luôn cho họ cái bản chất lừng khừng không kiên quyết cách mạng . Thực tế đã cho thấy nhiều nhà bác học đã kiên quyết lên giàn lửa để bảo vệ chân lý khoa học, người tín đồ kiên quyết cách mạng đến mức trở thành lãnh tụ cách mạng, khi nhận thức rằng sự vận động đó phù hợp với quy luật, phù hợp với căn cứ duy lý của mình.
Duy lý, duy tín và duy lợi tuy khác nhau ở xuất phát điểm nhưng muốn hành động đạt được kết quả tốt thì lại cần sự hỗ trợ của nhau : vì thế nếu phát triển đến độ hoàn hảo thì lại gặp nhau, thống nhất với nhau. Nhưng trong thực tế, ở một phạm vi xác định, ở một con người cụ thể thì ba căn cứ ấy ít khi đạt được sự thống nhất hoàn hảo, thường có tình trạng một trong ba căn cứ ấy nổi lên chiếm vai trò chủ đạo để dẫn dắt hành vi của con người. Ba yếu tố ấy đan vào nhau, chuyển hoá lẫn nhau trong mối quan hệ tay ba vừa thống nhất lại vừa mâu thuẫn, nên việc tách bạch ba yếu tố ấy trong một con người, trong một việc làm không phải là điều dễ dàng, và đó là nguồn gốc sâu xa của biết bao hiện tượng rối rắm nan giải của xã hội và của mỗi con người. Nhiều người đã tuyên bố chủ trương kết hợp chân lý khoa học với lợi ích của giai cấp công nhân , nói cách khác là chủ trương chung sống hài hoà giữa duy lý và duy lợi Nhưng trong cuộc chung sống lâu dài thì cái cân bằng rất hợp lý này cứ chuyển dịch để duy lợi thôn tính dần duy lý.
Các Mác rất coi trọng vấn đề lợi ích và đây là một điều đáng quý ở một nhà khoa học, nhưng là nhà khoa học, Mác đứng ở góc độ duy lý mà tiếp cận sang duy lợi. Nhiều người khác cũng đi theo chủ nghĩa Mác nhưng lại từ góc độ duy lợi mà tiếp cận sang duy lý. Người càng ít hiểu biết thì tính duy lý càng ít (nhân bất học, bất trí ly), để thành duy lợi cực đoan, hoặc lại biến chủ nghĩa Mác thành một thứ duy tín, một thứ tôn giáo.
Trong ba căn cứ ấy thì duy lý tiêu biểu cho khoa học, cho quy luật khách quan nên là căn cứ đúng đắn nhất, nó bao dung dược cái duy lợi và duy tín hợp lý. Ngược lại, khi chủ nghĩa duy lợi hay duy tín mà nắm vai trò dẫn dắt xã hội thì nó rất dễ tiến đến cực đoan mà không chấp nhận nói cái duy lý. Giáo hội La mã ngày trước đã thiêu sống nhiều nhà bác học chỉ vì họ phát hiện những định luật khoa học. Những tên vua Trung Quốc nào võ biên ít học thì đã phân thư, khanh nho (đốt sách giết nhà nho). Những hồng vệ binh mù chữ Trung Quốc và những tên lính Pônpốt mù chữ Campuchia đã hành hạ những trí thức ưu tú của dân tộc mình. Phong trào Xô viết Nghệ tĩnh năm 1930 đã đặt tri thức lên hàng đầu trong khẩu hiệu Trí, phú, địa hao - Đào tận gốc, trốc tận rễ!. Nhiều nạn nhân văn hoá của Liên xô đã là nạn nhân điển hình của những sự đối xử tương tự...
Nhìn rộng ra nửa thì lịch sử tiến hoá của nhân loại thực chất là gì?
Do biết sử dụng công cụ nên, khác với mọi sinh vật, con người không tiến hoá bằng cách biến đổi những cấu tạo của cơ thể mà bằng cách hoàn thiện không ngừng công cụ lao động. Cùng với sự cải tiến công cụ là cải tiến quy trình sản xuất, hoàn thiện kỹ năng... dẫn đến tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm. Tất cả những biến đổi cơ bản ấy đều là biểu hiện sự gia tăng tri thức của con người về các quy luật tự nhiên và quy luật quản lý, tổ chức xã hội. Vậy thì, cái lõi bên trong của dòng tiến hoá là dòng phát triển của trí thức nhân loại, còn sự đấu tranh giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, tức là sự đấu tranh giai cấp chỉ là cái vỏ, là những hiện tượng xã hội kèm theo mà thôi. Dòng gia tăng tri thức của xã hội là cái lõi, nó phản ánh bản chất của sự tiến hoá nên không thể thiếu và tồn tại xuyên suốt từ đầu đến cuối lịch sử loài người. Còn sự đấu tranh giai cấp chỉ là cái vỏ bên ngoài, là một trong những hiện tượng xã hội kèm theo nên chỉ có tính chất tạm thời, luôn thay đổi màu sắc, và con người có khả năng sử dụng nó, hoặc giảm nhẹ hay loại trừ nó đi trong nhiều giai đoạn của dòng tiến hoá bất tận.
Khi nói trong phương thức sản xuất, lực lượng sản xuẩt là yếu tố năng động nhất thì sẽ là thiếu sót nếu không tiếp tục nói : trong lực lượng sản xuất thì sự năng động ấy nằm ở yếu tố con người, trong con người thì sự năng động ấy nằm ở bộ óc tức là phần lao động trí tuệ.
Bản chất của sự tiến hoá là như vậy. Tinh thần khoa học quan trọng nhất trong học thuyết xã hội của Mác đáng lẽ cũng phải là như vậy. Nhưng dưới lăng kính giai cấp nhiều cuốn sách lại có lối mô tả dòng tiến hoá của xã hội như sau :... Giai cấp bị trị và giai cấp thống trị luôn đối kháng nhau về quyền lợi nên sinh ra đấu tranh giai cấp. Nô lệ chống chủ nô làm chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã. Nông dân chống địa chủ phong kiến làm chế độ phong kiến tan rã. Giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản làm chủ nghĩa tư bản sụp đổ... . Lối mô tả ấy xuất phát từ nhận thức sai lầm coi dòng tiến hoá là dòng đấu tranh của những giai cấp bị trị lật đổ những giai cấp thống trị, nên mỗi khi giai cấp bị trị không nắn được quyền lãnh đạo trong xã hội mới thì chúng ta coi là công lao của họ bị lợi dụng. Thế thì lịch sử là một chuỗi bất công đầy vô lý, trong đó những kẻ xấu bụng đi lợi dụng công lao người khác lại cứ được lịch sử cho kế tiếp nhau điều khiển xã hội. Đến khi có cách mạng vô sản thì mới phát sinh một ngoại lệ, giai cấp công nhân là giai cấp bị trị lên lãnh đạo xã hội và ngoại lệ này mới chính là niềm mơ ước của nhân loại (!!).
Không, lịch sử rất thống nhất chứ không tuỳ tiện. Mỗi cuộc biến đổi được gọi là cách mạng xã hội bao giờ cũng là sự cạnh tranh của hai thế lực lãnh đạo xã hội, tiêu biểu cho hai bậc thang về trình độ tổ chức xã hội, ứng với hai trình độ khác nhau của khoa học, của tri thức con người thời ấy. Thế lực lãnh đạo mới sẽ thắng vì có trình độ cao hơn (thế lực có trình độ cao hơn này không bao giờ nằm ở giai cấp bị trị, dù giai cấp bị trị có tạm thời đoạt được quyền binh thì trước sau họ cũng lại rơi vào quỹ đạo của những thế lực kia). Sự đấu tranh của giai cấp bị trị cũng như của quần chúng nói chung chỉ có tác dụng tạo ra áp lực to lớn của xã hội giúp cho chuyên chính mau chóng chuyển từ tay thế lực lãnh đạo cũ sang tay thế lực lãnh đạo mới, điều này đáp ứng yêu cầu phát triển chung của toàn xã hội. Lôgic của lịch sử vốn là như vậy, bất chấp chúng ta vừa lòng hay không vừa lòng. Việc đưa giai cấp công nhân vào vị trí giai cấp lãnh đạo trong toàn xã hội mới là một việc làm mang tính đạo đức, làm nức lòng số đông đang công phẫn nên có sức mạnh tập hợp to lớn trong thời kỳ đầu, nhưng không theo quy luật nên dễ tự phát sinh mâu thuẫn trong những giai đoạn sau.
Nhiều người nhận xét rằng càng về sau việc thực thi chủ nghĩa Mác càng có xu hướng không đúng với những tinh thần nguyên lý ban đầu của Mác và chiều hướng của những sai lệch dường như có tính lôgic, tính quy luật.
Thực tế đã bộc lộ một nhận thức sai lệch của nhiều người, hiểu tinh thần chính của chữ cách mạng là ở ý nghĩa lật đổ, lật đổ người giàu, lấy của chia cho người nghèo như các anh hùng hảo hán ngày xưa vẫn làm. Đây là biểu hiện chủ nghĩa bình quân thiển cận của nông dân. Chủ nghĩa bình quân gắn chặt với tư tưởng lật đổ. Khi mình chưa có thì muốn lật đổ để cạo bằng, cạo bằng được rồi lại muốn mình giàu hơn người khác, lật đổ vua nhưng rồi mình lại thành vua.
Muốn làm giảm tận gốc bất công xã hội và tăng hạnh phúc của nhân dân thì sự công bằng phải đặt trên cơ sở nâng cao cả nền sản xuất của xã hội. Động tác chính của cách mạng là động tác nâng cao chứ không phải động tác cạo bằng. Cạo bằng là động tác của bạo lực, nâng cao là động tác của tri thức khoa học, của năng lực tổ chức sản xuất và tổ chức xã hội. Chúng ta đấu tranh cho công bằng chứ không chấp nhận sự cạo bằng, vì cạo bằng làm cho xã hội thấp đi và tạo ra sự bất công mới khốc liệt hơn. Nếu ta mới chỉ đạt những thắng lợi to lớn trong những việc mang tính lật đổ và cạo bằng mà chưa có những thắng lợi to lớn trong việc nâng cao thì thực chất là chưa có cách mạng. Cách mạng xã hội không đồng nghĩa với cướp chính quyền, cũng không đồng nghĩa với giải phóng dân tộc... mặc dù những hình thức đấu tranh chống áp bức, đòi công bằng xã hội (trong đó có đấu tranh giai cấp)đều rất cần thiết, và còn luôn luôn cần thiết trong xã hội loài người, đều có giá trị riêng của nó và liên quan mật thiết với nhau.
Giai cấp bị trị trong xã hội cũ không thể trở thành giai cấp lãnh đạo trong xã hội mới vì bản thân giai cấp bị trị không thể tiêu biểu cho trình độ nhất của tri thức con người thời ấy. Chính vì thế mà khi muốn đưa giai cấp công nhân thành giai cấp lãnh đạo, Mác đã phải đặt ra một điều kiện rằng đó phải là giai cấp công nhân đại công nghiệp để có thể tiêu biểu cho nền sản xuất hiện đại, để công nhân đồng thời là trí thức. Nhưng thử nhìn vào các nước tư bản đã có nền đại công nghiệp hiện nay thì ta thấy tầng lớp tiêu biểu cho khoa học, cho trí thức tiên tiến của các nước ấy không thể nào lại là công nhân của các nước ấy được, mặc dù trình độ công nhân của họ cao hơn của các nước khác rất nhều. Mà hình như khi trình độ của những công nhân ấy được nâng cao lên (như ở Nhật bản chẳng hạn) thì họ lại giảm đấu tranh đi, tức là giảm sự giác ngộ giai cấp , tức là giảm khả năng trở thành lãnh đạo cách mạng. Như vậy thì chính yêu cầu của Mác đề ra cũng có thể còn là bật cấp, huống chi những người Bôn-sê-vich Nga (cũng như đảng Cộng sản ở nhiều nước đã làm cách mạng vô sản) thì lại bất chấp cả yêu cầu tối thiểu ấy của Mác, chủ trương làm cách mạng ngay trong khi giai cấp công nhân nước mình còn cách xa yêu cầu của Mác. Chưa kể trường hợp mà sự lãnh đạo thực chất còn nằm trong quỹ đạo nông dân thì đương nhiên còn tai hại hơn.
Phải chăng do ý thức được cái lỗ hổng này mà Lê-nin đã yêu cầu người cộng sản phải cấp trau giồi trí thức, và tự Lê-nin đã nêu một tấm gương về sự sử dụng trí thức, kể cả trí thức của chế độ cũ. Lê-nin nói : Chỉ có đem toàn bộ kho trí thức của nhân loại để làm giàu cho bộ óc của mình, chúng ta mới có thể trở thành người cộng sản!. Cái định nghĩa tuyệt vời về người cộng sản ấy có thể coi chính là định nghĩa về người trí thức. Chất cộng sản và chất trí thức phải chung làm một. Nếu một đảng viên đều được kết nạp trên tinh thần ấy của Lê-nin thì đảng cộng sản chính là đảng của trí thức cách mạng.
Nhưng trong thực tế thì lời giáo huấn ấy có thực hiện được không?
Đây là một tình trạng có thật và khá phổ biến : Chúng tôi là những con em công nhân và nông dân. Nếu chúng tôi chỉ học khoảng hết cấp một và ở lại địa phương sản xuất thì với lòng hăng say mà chúng tôi vốn có giám chắc rằng chúng tôi đã thành đảng viên từ lâu rồi. Nhưng chúng tôi lại ham học. Sau mấy chục năm được nhà trường xã hội chủ nghĩa trau giồi bao nhiêu trí thức và khoa học tự nhiên, về triết học Mác Lê-nin, về chính trị... thì bây giờ các chi bộ lại không còn coi chúng tôi là thành phần công nông gần đảng nữa mà chuyển thành thành phần tiểu tư sản bấp bênh. Trở thành kỹ sư, tiến sỹ, giáo sư... thì lại xa đảng hơn lúc chưa đi học!. Nghĩa là trên thực tế thì chất Đảng không thuận chiều với chất trí thức.
Đó là những nghịch lý .
Những nghịch lý ấy lại là nguyên nhân của một loạt các nghịch lý tiếp theo.
Kết quả trực tiếp nhất và cũng cơ bản nhất là sản xuất không phát triển, năng suất lao động thấp, sản phẩm hàng hoá ít, đời sống khó khăn. Đời sống tinh thần cũng bị hạ thấp do phải lùi bước trước những nhu cầu sinh tồn tối thiểu. Tính kém hiệu quả của tổ chức xã hội đã gây nên cái điều rất vô lý (thực ra chẳng có gì là vô lý cả)là muốn xây dựng một hệ thống phát triển nhất trong lịch sử loài người thì lại thu được một hệ thống không phát triển, thậm chí chống lại sự phát triển.
Con người một khi không đủ trí thức để có điều kiện huy động sự thông minh và tính kiên quyết để tính cái lợi xa thì nó huy động sự thông minh và tính kiên quyết để tính cái lợi gần. Không tăng được sản xuất để gia tăng của cải chung của xã hội thì cải tiến cách phân phối để chiếm được phần hơn trong cái tổng số còn ít ỏi. Sự ưu tiên đặc biệt này gắn chặt với chức quyền. Vì lợi mà phải chiếm quyền (vẫn từ cái gốc duy lợi mà ra). Có chức có quyền thì có lợi. Người ta xô nhau chiếm chức quyền làm cho bộ máy chính quyền vốn đã ít hiệu quả lại cứ phình to mãi ra. Sự bao cấp đến mức thành đặc quyền đặc lợi cứ chất mãi gánh nặng lên vai Nhà nước, lên vai nhân dân. Đến mức không chịu nổi nữa thì Nhà nước buộc phải chống bao cấp nhưng lại buông khỏi tay mình những bộ phận cần được bao cấp chu đáo. Điều này làm cho Nhà nước yếu đi. Nhà nước yếu đi thì điều khiển làm sao được sự chống bao cấp? Nạn bao cấp không thực sự mất đi mà tồn tại một cách không chính thức thì lại càng nguy hiểm hơn. Nó mang tính bao cấp trá hình, bao cấp nhưng lại pha màu tự do cạnh tranh và chụp giựt. Giảm biên chế là một nhu cầu sống còn, nhưng nếu tiến hành giảm biên chế trong điều kiện cán bộ khung chưa được kiện toàn trước từ trên xuống (mà điều này thì không thể thực hiện được) và ở bên dưới thì quần chúng chưa thực sự làm chủ thì mỗi đợt giảm biên chế càng tạo điều kiện để những con ký sinh trùng bám chặt thêm vào ruột Nhà nước mà sinh đẻ thêm và đẩy những người trung thực ra rìa, thậm chí có thể dẫn đến tình trạng tư hữu hoá cơ quan nhà nước.
Khi người chỉ huy không đủ trí thức để điều hành công việc và thuyết phục quần chúng thì họ bị giằng co giữa hai động cơ :một mặt rất muốn dùng những người tri thức, một mặt lại sợ trí thức. Để có thể che giấu sự kém cỏi của mình, để được yên tâm toạ hưởng giữa nơi mập mờ, lùng nhùng, họ không giám thực sự nâng cao dân trí, không giám cho dân phát triển dân chủ, tự do. Anh sáng trí tuệ đối với họ lúc này lại là điều bất lợi (và cái châm ngôn kết hợp chân lý khoa học với lợi ích của giai cấp lúc này chỉ còn là khẩu hiệu trên giấy thôi, chân lý khoa học không được tôn trọng đã đành mà lợi ích cũng không còn là lợi ích giai cấp).
Có ham muốn, có quyết tâm mà thiếu trí thức thì ắt là sa vào vòng duy ý chí. Người chỉ huy sẽ trở thành kẻ độc tài dù tự giác hay không tự giác. Vì thế mà xất hiện cái điều tưởng như rất vô lý là muốn xây dựng một hệ thống đầy đủ tính Con người nhất thì lại thu được một hệ thống mâu thuẫn với quyềnCon người. Chúng ta không quên rằng Mác và Lê-nin đã từng phê phán kịch liệt thứ chủ nghĩa xã hội kiểu trại lính, kiểu này là sản phẩm chung của bệnh xã hội chủ nghĩa không tưởng .
Việc xây dựng chuyên chính vô sản như các nước xã hội chủ nghiã chúng ta đã làm ắt phải dẫn đến sự sùng bái cá nhân. Tại sao vậy?
Từ trước tới nay con người bao giờ cũng coi là giá trị nhân đạo là giá trị cao nhất, là thước đo cao nhất. Thước đo cuối cùng. Nhưng đùng một cái, xuất hiện và lưu hành luận điểm rằng : Không có sự nhân đạo chung chung. Trong xã hội có giai cấp thì sự nhân đạo cũng mang tính giai cấp (!). Vì thế, trước hết phải trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là tiêu biểu cho thời đại nên lợi ích của giai cấp này cũng phù hợp với lợi ích chân chính của các giai cấp khác . Thế là tính nhân đạo được thay thế bằng tính giai cấp, hay nói đúng hơn là phải quy thuận tính giai cấp. Cái giá trị tinh thần cao quý nhất mà con người bao đời đã dùng để dạy bảo nhau sống cho nên người bỗng bị đảo chính rất gọn để thay bằng một giá trị được gọi là mới, là cao hơn, nhưng chưa qua thử thách của lịch sử (và ngay về phương pháp luận nó đã tỏ ra không ổn). Nhưng ngay cả sự đề cao giai cấp công nhân ở đây cũng chỉ mang tính hình thức vì vấn đề không dừng ở chỗ này. Giai cấp phải được đại diện bởi đội tiền phong của mình là Đảng, tính giai cấp được nâng thành tính đảng. Đảng theo nguyên tắc tập trung dân chủ (mà thực tiễn cho thấy tính dân chủ thì thường bị vi phạm, còn tính tập trung thì bất khả vi phạm). Đảng tập trung vào trung ương đảng. Trung ương tập trung vào Bộ Chính trị... và cuối cùng tập trung vào một người nắm quyền cao nhất. Ai chống lại người này thực tế sẽ dễ dàng bị quy là chống Trung ương(tất nhiên về lý thuyết thì không ai nói như vậy), chống Trung ương sẽ bị quy là chống Đảng, chống đảng quy thành chống giai cấp mà chống đúng vào cái giai cấp tiêu biểu của nhân loại thì hiển nhiên là chống dân tộc, hoặc chống cả nhân loại rồi còn gì! Rốt cuộc, tình cảm thiêng liêng đối với dân tộc hay đối với toàn nhân loại lại được đo bằng sự trung thành đối với một con người cụ thể. Chuyện Stalin. Mao Trạch Đông... dễ dàng quy nhiều đồng chí của mình trong Bộ chính trị thành phản động đã chẳng là những ví dụ điển hình đó sao?
Vì thế mà tồn tại cái điều rất vô lý (?) là muốn xây dựng một hệ thống dặc trưng bởi tính tập thể, tính thế giới đại đồng, tính toàn nhân loại lại thu được một hệ thống rất dễ nảy sinh chủ nghĩa cá nhân cực đoan mâu thuẫn với tính Nhân loại.
Tiến hoá cũng là quá trình trong đó tính Nhân từng bước lấn dần Tính thú. Khi yếu tố nhận không được phát huy thì yếu tố thu sẽ vùng dậy. Biết bao vụ án đau lòng là biểu hiện sự lộng phát của thú tính. Con người dùng bạo lực để thống trị nhau, lấy việc trừng trị người khác làm điều thích thú, sinh sống bằng cách chiếm đoạt những giá trị có sẵn của thiên nhiên và xã hội chứ không sáng tạo...
Con người là một sinh vật xã hội nên sự phát triển tính nhân cũng đồng thời là sự phát triển tính xã hội, tính có tổ chức của nó. Tính xã hội là một biểu hiện cao của nhân tính, còn chủ nghĩa quân phiệt với mọi biểu hiện mất dân chủ về bản chất là dị chứng của thu tính, nên hai thứ đó phải được xem là đối lập nhau như nước với lửa.
Chúng ta có trong tay một xã hội không theo ý muốn, thậm chí lộn ngược, lộn ngược so với ý đồ thiết kế, lộn ngược so với cái tự nhiên, trong đó không có cái gì ở đúng vị trí hợp lý của nó cả (tức là một hệ thống có khuyết tật cấu trúc) nên cứ người nọ thì phải làm việc của người kia.
Vì thế mà không một quy luật chính thống nào của tự nhiên cũng như của xã hội có thể phát huy được xã hội. Vì như trong vùng phần vật chất thì những quy luật của thế giới vật chất thông thường không còn tác dụng vậy. Trong một không gian phần quy luật thì những nghịch lý sẽ hoạt động :cái tính thua cái thô, cái trật tự thua cái lộn xộn, cái tích cực thua cái tiêu cực, cái đạo đức thua cái vô liêm sỉ... và con người đi giật lùi!
Có phải rằng bấy lâu nay chúng ta lúng túng muốn cắt nghĩa cho mình mà không sao cắt nghĩa được? Vì, hiện thực xã hội tuy có thế thật nhưng lý tưỏng của chúng ta thì không thể nói là không cao đẹp. Vì thực tế khách quan tuy có thế thật, nhưng chung quanh thì ai muốn thế? Vì hiện nay tuy có thế thật, nhưng trước đây đâu có thế? Vì tuy có những kẻ đồi bại thật nhưng còn bao tấm gương tuyệt vời trong sáng thì sao? Vì tạm thời tuy có thế thật nhưng rồi xã hội vẫn phải tiến lên chứ?... Vâng, đúng như vậy, không có gì là bế tắc cả. Khi chúng ta đã gỡ được cái điểm nút cuối cùng trong mớ bòng bong ấy thì mọi điều rắc rối trái ngược đều được giải đáp thích đáng, trọn lý vẹn tình. Có tách bạch được chính xác tận gốc cái sai mới bảo vệ được các giá trị chân chính. Còn nhưũng lời giải nửa chừng thì có thể dễ dung hoá nhưng rồi sẽ lại tiếp tục bế tắc.
Chỉ cần chúng ta thực sự phục thiên. Nhưng chúng ta sẽ thực sự là những người bế tắc nếu chúng ta bảo thủ. Một bên là lý thuyết tốt đẹp, một bên là thực tế không chấp nhận được, chúng ta bị nhốt ở giữa, lúng túng đối phó, mà bức tường hai bên cứ khép dần lại dưới sức ép của nhu cầu đổi mới. Xuất phát từ lương tâm trong sáng, nhiều người bảo thủ trước đây nay đã dũng cảm tự phản bác mình để thành một chiến sỹ trong Mặt trận Đổi mới. Nhưng những kẻ cố thủ thì đối phó với thực tiễn bằng cách chiếm hữu chức quyền cho chắc, tranh thủ dùng quyền lực để kiếm lợi, miệng thì nói dối, tìm mọi cách để nguỵ biện, nguỵ trang.
Chiếm hữu quyền lực là biến tướng của chế độ chiếm hữu, nó khôn ngoan và triệt để hơn nhiều so với chiếm hữu trực tiếp tư liệu sản xuất. Còn muốn dung hoà giữa hai thứ không thể dung hoà là lý tưởng tốt đẹp và thực tế xấu thì có cách gì khác mà không phải chống chế bằng cách nói dối, nguỵ trang? Nguỵ trang và chống nguỵ trang là cục diện đặc biệt của những cuộc đấu tranh chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá... ngày nay. Những tính cách vốn là ưu điểm như nhân hậu chín chắn, có quan điểm lịch sự, biết chờ đợi nhau, có thái độ thực tế, biết thích nghi... nhiều khi lại được sử dụng một cách rất bệnh hoạn để che đậy những biểu hiện khác nhau của chủ nghĩa cơ hội như thái độ bạc nhược, quay mặt đi một cách vô trách nhiệm, ngậm miệng ăn tiền, trì hoãn, thậm chí độc ác, lì lợm, cố thủ... Một bộ phận của giới trí thức bị phân hoá đã rời khỏi sự duy lý chân thực mà đứng hẳn sang phía duy lợi cực đoan (như vậy thì về thực chất họ không còn là trí thức)đã góp phần rất đắc lực vào sự nói dối, nguỵ biện này. Trong bức tranh chung về sự tha hoá, cái bệnh nói dối cứ như con bạch tuộc ôm ghì lấy toàn xã hội, chẳng để cho ai thoát ra!
Nhưng không, chúng ta phải thoát ra!
Tất cả những điều đã trình bầy ở trên có thể được sơ đồ hoá bằng một sơ đồ kèm dưới đây. Xin theo dõi sơ đồ từ dưới lên trên, theo chiều những mũi tên, gốc mũi tên chỉ nguyên nhân, đầu mũi tên chỉ kết quả
Sau cùng, nhìn bao quát toàn sơ đồ để thấy một điều mấu chốt là dùng phương tiện không thích đáng thì không tới được mục đích.
Ta tưởng tượng như có anh lái xe nọ, phải đến một miền rất xa để kiếm lương thực về cho mọi người và cho anh ta. Nhưng chúng ta lại trao cho anh ta một phương tiện quá đặc biệt, một chiếc xe mà trên đó có đủ lương thực mà anh ta thoả sức ăn cả đời không hết, thì chỉ cần đi một quãng là anh ta bắt đầu thay đổi ý định (sự thay đổi tất yếu, mà chúng ta gọi là thoái hoá biến chất) :cứ việc ngồi trên xe mà toạ hưởng, chứ dại gì xông pha mưa gió đến nơi xa xôi nọ! Dẫu có đến nơi thì cái phần mà anh ta sẽ được chia chắc gì cái phần mà anh đang có sờ sờ trên chiếc xe này? Thế là anh lái xe biến luôn cái phương tiện thành mục đích. Anh ta đến đích một mình đến thiên đường rất sớm còn mọi người thì chẳng ai được xơ múi gì cả. Khi chiếc xe chỉ nổ máy, chữa máy giữa đường mà không đi nữa, hoặc muốn đi thế nào cũng được, thì người lái xe đâu cần phải biết lái xe? Cái anh ta cần biết bây giờ là kĩ thuật gây ảo giác và làm tê liệt khả năng phản ứng của mọi người.
Ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước thì cứu nước mưu hạnh phúc cho dân là mục đích. Chủ nghĩa Mác Lênin được Bác coi là con đường là phương tiện giúp dân ta đi đến đích đó. Nhưng rồi dần dần lại xuất hiện tín ngưỡng dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa ! Lạ như vậy đấy, chủ nghĩa với tư cách là con đường, là phương tiện thì nó là cái để ta dùng chứ sao lại là cái để ta thờ? Động cơ ấy lúc đầu hẳn là do ta thành tâm quá đó thôi... Nhưng dù do gì đi nữa thì hậu quả nguy hiểm vẫn là ở chỗ :khi cái phương tiện đã thành cái mục đích thì lẽ tự nhiên cái mục đích (ở đây là dân tộc), đổi chỗ để thành cái phương tiện (!). Như trong câu chuyện khôi hài ngày trước, khi đôi giầy da được đánh bóng và kẹp bên nách thì đôi bàn chân phải thay đôi giầy mà đương đầu với gai góc. Lúc vấp ngã, chân toé máu ra, ai cũng tưởng phen này anh ta phải tỉnh ngộ, bỏ giầy xuống mà đi vào chân. Nào ngờ đây chính là dịp để anh ta càng thêm tự hào về sự thông minh của mình, rằng nếu không thì cú vấp vừa rồi hắn đã làm sứt mất đôi giầy quý. Nghe chuyện khôi hài mà ứa nước mắt. Nhưng anh ta có cái lý của anh ta đấy vì đối với anh ta, thì cái để anh hy vọng trở nên sang trọng chính là đôi giầy bóng chứ đâu phải đôi chân! Cố giữ lấy đôi giầy cũng phải!
Đã có một thời, và thời đó còn tiếp đến ngày nay, chúng ta muốn giương ngọn cờ giai cấp làm tấm hộ chiếu quá cảnh vượt qua mọi biên giới dân tộc để thống nhất toàn thế giới. Nhưng thực tiễn lịch sử đã chứng tỏ rằng ý muốn ấy chỉ là chủ quan (nên chẳng giương ngọn cờ dân tộc để khắc phục dần mâu thuẫn giai cấp?). Có một quy luật đã được kiểm nghiệm là nếu thống nhất với nhau chủ yếu từ tiếng gọi của lợi quyền thì trước sau cũng lại chia ly chính do lợi quyền. Chỉ có một thứ thực sự là của chung của nhân loại, không thể chiếm hữu, không thể độc quyền, một thứ mà ngày nay cứ xuất hiện ở đâu là quốc tế hoá ngay, đó là trí tuệ, là khoa học, là sự phát hiện những quy luật khách quan. Cái tài sản chung quý báu này luôn được đổi mới, bổ sung. Còn nói về chủ nghĩa thì đủ sức ôm cả cái loại người bất diệt có lẽ chỉ có và chỉ cần một chủ nghĩa, cái chủ nghĩa chẳng có gì mới nhưng bất diệt mà ta rất nên tôn thờ là chủ nghĩa nhân đạo. (mọi chủ nghĩa khác chẳng qua chỉ là những hệ phương pháp ứng xử để ta sử dụng linh hoạt trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể mà thôi).
Có hành động đúng quy luật thì mọi việc mới xuôi được. Hiện tượng xã hội lộn ngược với những nghịch lý đã nói trên chỉ có thể giải thích rằng ngay từ những điểm xuất phát chúng ta đã nghĩ và làm không đúng với những quy luật khách quan nên càng về sau càng chịu sự chống trả quyết liệt của quy luật. Muốn làm chủ như chúng ta thường nói, trước hết phải làm chủ được các quy luật. Muốn vậy, con người trước hết phải có sự học hành đầy đủ để tiếp thu những trí thức đã có của nhân loại, phải được suy nghĩ hoàn toàn tự do, và đặc biệt phải lấy thực tiễn để kiểm chứng mọi điều đã nghĩ, kể cả những điều mà một thời những tượng đá đóng đanh vào lịch sử. Chính Các Mác đã khuyên mọi người hãy hoài nghi tất cả , hoặc là nhân cách của một nhà khoa học lớn! Chính Mác đã nêu tấm gương về sự tự hoài nghi, tự xét lại mình thì đương nhiên Mác không thể chấp nhận danh hiệu mác xít cho những ai muốn biến Mác thành một thần tượng bất khả xâm phạm. Một khi Mác đã không chấp nhận để mọi người coi mình là thần tượng thì còn học trò nào của Mác được phép chấp nhận điều đó? Từ khi Mác mất đến nay hơn một thế kỷ, con người lớn lên như vũ bão, khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi hẳn bộ mặt loài người, kỹ thuật tin học ngày càng gắn cả loài người thành một chính thể. Nếu chúng ta không nhìn nhận xã hội và lịch sử tinh tường hơn thời kỳ của Mác thì sao xứng đáng là những lớp con cháu của Mác? Những điều thú vị là ở chỗ việc nhìn nhận lại một số điểm trong học thuyết của Mác không làm giảm đi sự tôn kính của chúng ta đối với Mác. Chúng ta hãnh diện đã có Mác là một người khổng lồ nhân từ cho ta được phép đứng lên vai.
Những hoài nghi mới là điều kiện cần, chưa là điều kiện đủ. Hoài nghi có thể dẫn đến đúng hơn, cũng có thể dẫn đến sai hơn. Nếu lấy cớ hoài nghi của Mác để bổ sung, để nâng cao, thậm chí để cứu học thuyết Mác khỏi rơi vào sự tầm thường như có người đã nói, mà đưa thêm vào những quan điểm thiếu khoa học, thiếu thực tế, đầy ý chí chủ quan của mình thì lại càng tai hại hơn.
Vấn đề đặt ra quá lớn, tầm suy nghĩ của một người lại quá nhỏ, khuôn khổ một bài viết lại càng nhỏ hơn, thiếu sót là điều không tránh khỏi. Nhung chúng tôi thiết nghĩ sẽ không phải là vô ích nếu chúng ta chân thành, nếu chúng ta nói thật. Nhiều người nói thật sẽ dẫn đến sự thật. Điều quan trọng là tìm được cái gốc của những sai lầm. Tuy từ đó đến chỗ xác định được cách đi đúng đắn cũng không dễ dàng (và vấn đề này không phải là nội dung đề cập của bài viết này), nhưng khi cái gốc của sai lầm đã được phơi bày thì cái hướng đúng cũng tự nhiên đã lộ ra rồi.
Alexandr Bovin, nhà phân tích chính trị của tờ Izvestia (Liên xô), sau khi nói rõ quan điểm kiên quyết chối bỏ loại xã hội chủ nghĩa quan liêu, thiếu thốn triền miên, xuống cấp những giá trị đạo đức, thay tự do bằng sự trấn áp dốt nát... đã nêu ý kiến về cách sửa chữa là : tất cả các đoạn trên con dấu toán học cần phải đổi ngược lại! (tuần tin thanh niên. 8-8-1988).
Và nếu như trên trang giấy đã đổi ngược các dấu toán học thì trên đường đi lẽ nào không phải quay ngược các tấm biển chỉ đường.
Nhân loại, như lịch sử đã từng chứng minh, rốt cuộc vẫn dắt tay nhau đi chung trên một con đường, con đường tiến hoá, thêng thang, dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ!
Ngày 2-9-1988
Tú Xuân Hà Sỹ Phu
(1), (2), (3) Khái niệm duy lý ở đây không hoàn toàn trùng với khái niệm duy lý của Descartes. Những chữ duy lý, duy tín, duy lợi là những thuật ngữ riêng của tác giả.


Dắt tay nhau trong một cuộc tranh luận kỳ lạ
Có lẽ chưa có cuộc tranh luận nào kỳ lạ như cuộc tranh luận quanh bài Dắt tay nhau, đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ của tôi, mặc dù trong đó nghĩ mười mới viết được một. Suốt một năm rưỡi trời các giáo sư triết học, các nhà chính trị, tuyên huấn... của Viện Triết, trường Nguyễn Aí Quốc, ban Văn hoá Tư tưởng Trung ương, báo Nhân dân, báo Quân đội nhân dân... đã viết liền mấy chục bài và sách, tập trung phê phán một bài tiểu luận mà bài này chỉ được truyền tay chứ không được phép in ở đâu cả. Mấy chục võ sỹ ra sân khấu, đấu rất sôi nổi với một địch thủ chỉ được phép ở bên trong hậu trường. Trong cuốn nếu cao tính chiến đấu, chống mọi hoạt động về văn hoá tu tưởng ban Văn hoá Tư tuởng Trung ương đã dành hầu hêt các trang để chỉ trích những nội dung được trích dẫn một cách rời rạc từ bài Dắt tay nhau... . Thậm chí trong cuốn giới thiệu Dự thảo Cương lĩnh của Đại hội 7, uỷ viên Bộ Chính trị Đào Duy Tùng cũng đề cập tới bài đó như một ví dụ cụ thể duy nhất làm đối trọng. Có bài viết đã gọi tôi là kẻ phát ngôn trong bóng tối, cao ngạo hơn cả During , có bài viết doạ sẽ có biện pháp đối xử với tôi một cách đúng mực, theo như yêu cầu đòi hỏi của quy luật đấu tranh giai cấp (!). Và thực tế thì bài Dắt tay nhau... đã không phải không gây phiền phức cho tôi và nhà văn Dương Thu Hương trong những ngày được tiếp kiến bộ nội vụ.
Đấy là mặt không vui, nhưng câu chuyện lại cũng có mặt vui của nó. Bài ấy tôi viết hai năm trước khi có những sự cố ở Đông Âu và Liên xô thực tiễn thế giới sau đó đã chứng thực cho dự đoán của tôi, các tấm biển chỉ đường lớn nhỏ đã được quay lại hết. Việc đại hội 7 lấy TRI TUÊ làm khẩu hiệu hàng đầu (mặc dù trước đó nhiều nhà lý luận đã khẳng định rằng chủ nghĩa Mác Lênin chính là trí tuệ tối cao của nhân loại rồi, nói trí tuệ nữa là thừa!)và không nói đến chuyên chính vô sản nữa thì điều ấy thực sự đã phù hợp với nội dung chính trong bài viết của tôi. Tôi lấy làm vui lắm, và tin rằng những nội dung khác của bài viết cũng sẽ chuyển rất nhanh từ trạng thái gây dị ứng, phải chống đến cùng, sang trạng thái mặc nhiên tự tại, biết rồi, khổ lắm, nói mãi, !
Là người làm công tác khoa học, dốt về chính trị, tôi chỉ nói những điều về nhận thức khoa học, những vấn đề có tính nguyên lý. Trong khoa học tự nhiên, Mác duy vật và biện chứng bao nhiêu thì khi vận dụng vào xã hội Mác lại duy tâm và siêu hình bấy nhiêu. Ai có thể phủ định được chủ nghĩa Mác, nếu không phải là phần này của tư tưỏng Mác đã xung đột với phần kia của tư tưởng Mác! Nhà duy vật biện chứng trứ danh trong khoa học ấy lại đồng thời là đại biểu cuối cùng và đặc sắc nhất của trào lưu xã hội chủ ngĩa không tưởng mà Mác đã chống đến cùng.
Nhân loại đã phải trả giá cho sự không tưởng của mình và đã vượt được qua nó, đó là một điều vĩ đại. Nhưng vượt lên trên máu và nước mắt, nói theo cách nói của Mác, cuối cùng thì nhân loại vẫn muốn từ giã quá khứ của mình một cách vui vẻ. Chỉ có điều là trong màn hài kịch lớn này, lịch sử sẽ chọn ai làm tên lính cuối cùng rút lui khỏi sân khấu!...
Tháng 2-1993
Hà Sỹ Phu