Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2013

Tập thơ Tâm sự người lính bị cấm của Đỗ Hoàng


TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH TẬP THƠ BỊ CẤM CỦA ĐỖ HOÀNG (trích phần 3)

Tôi viết tập thơ Tâm Sự người lính cách đây đã hơn 40 năm, và Nhà xuất bản Văn học in và bị cấm cách đây cũng đã gần 20 năm (1996).
 Tập thơ là tiếng nói của người lính và nhân loại lên án chiến tranh của loài người luôn luôn xảy ra mà không có cách gì ngăn cản được. Suốt 40 năm nay, sau cuộc chiến ở Việt Nam, chiến tranh lại xảy ra khắp mọi nơi trên trái đất: Vùng Vịnh, Apganstan, Chernia, Nam Tư nay lại sắp sửa xáy ra ở Nam Bắc Triều Tiên. Đau buồn không thể nói. Xin post lên một số bài trong tập đó!

ĐỖ HOÀNG
 
           CHẾT OAN


                        I

Tỉnh ra mới biết khi mai sớm,
Dòng suối trong xanh cháy bỗng dừng.
Khi thấy dao mình mài sáng quá.
Dẫn đầu một tốp lính rất đông!

                  12 - 1973

     
                     II

Lính ở bên kia mấy tiểu đoàn?
Vô nhiều đứng chật cả đường quan.
Ngày mai không biết nơi nào đánh?
Nhất định có người phải chết oan!

             12 - 1973







   BÀNG HOÀNG

Ngày kia chắc đến tiểu đoàn.
Nghĩ mà đến nỗi bàng hoàng cả đêm!
Sáng ra giữa máu nhìn lên.
Mịt mù sương khói ở trên quê nhà!

                      11 – 12 – 1973

 

HÀNH QUÂN QUA THÀNH ĐỒNG HỚI

Dừng lại vội vàng giây lát thôi,
Thành quách ngày xưa đổ nát rồi.
Sao cảnh trăm đời như vẫn một.
Đầu hèn lính mọi lại sắp rơi!

                         10 – 1973



        CÁI CHẾT NGƯỜI ĐẸP


Em chết rồi.
Người đẹp!
Viên đạn của thế kỷ nào bắn em?
Anh sững sờ giữa trái đất máu đổ.
Xác em nằm trong huyền ảo xa xôi.

Không gian đen,
Không gian trắng
Không nói ra lời
Nỗi đau trái đất màu mây xám.
Thế là vô tình
Sự sống
Bắt tay cái chết chia lìa!

Quân phục em mang
Máu thâm sì.
Nghìn năm sau em chẳng về được nữa.
Dù vật chất biến hoá bảo toàn,
Dù sự sống chỉ là điều phi lý.
Không gian,
Thời gian
Mệt mỏi trường tồn!

Anh đi trên trái đất cô đơn.
Gió bấc lạnh thổi tung làn ngực nở.
Xác em nằm
                     Một hành tinh vứt bỏ.
Vó ngựa trường chinh lãnh đạm dẫm qua.


Anh không thể nào viết nỗi lời thơ.
Khóc em để loài người nguyền rủa!
Trong vô biên
                       Mạng em thua hạt cỏ.

Khóc em
            Anh phản lại Trường Tồn!

     Chiến trường Quảng Trị tháng  1 – 1974

NGƯNG BẮN VỀ THĂM QUÊ


Vừa mới đến đầu thôn,
Đã thấy làng lạnh vắng.
Mùa này giêng hai đến,
Người chạy ăn khắp nơi.

Làng quê đồng trắng trời,
Tre yếu gầy buổi đói.
Mái nhà tranh không chói (1)
Dửng dưng trời cao xanh!

Khắp nơi người chạy ăn,
Như kiến ong vỡ mật.
Đói không còn  biết chết.
Xuống biển lại lên rừng.

Mẹ già đang tha phương.
Quên đường bom đạn nổ.
Chưa trọn đời đói khổ.
Nợ nần chất cháu con!

Ruộng ở nhà bỏ hoang,
Lúa tiêu điều xơ xác.
Kiểu làm ăn hợp tác,
Đói nghèo đến tuỷ xương!

Trai tráng bỏ quê hương,
Sung vào nơi lính tráng,
Coi thường thân mạng sống.
Cố lách qua đói nghèo!

Khuôn mặt đất nhăn nheo,
Quê nhà tan xác lá.
Bao giờ không đói khổ?
Lúa đầy rương giêng hai!

                30 -11 - 1973
--------
(1) Lợp thêm, tiếng miền Trung

Oan hồn lính gái

Thứ sáu - 20/07/2012 10:51
·                                
·                                
·                                
     
                Nhà thơ Đỗ Hoàng       

OAN HỒN LÍNH GÁI




LÍNH GÁI

“Sinh con gái hơn con trai
Sinh con gái gả chồng gần
Sinh con trai phải vùi thân chiến trường
….
Con gái gả cho lính
Như đem bỏ ngoài đường”
(Đổ Phủ)

Đường trống trải mai này lạnh thế
Rét tê người như thể châm kim
Tần ngần tôi đứng lặng nhìn
Một đoàn bộ đội chúng mình hành quân

Đoàn lính gái áo quần còn mới
Lứa lính này đưa tới miền trong
Họ không hề bị đeo gông
Mà sao ánh mắt mênh mông nỗi buồn1

Bước gấp lại đầu buôn lạnh vắng
Nghe chỉ huy sốt sắng truyền lời:
“Rằng quân ta đủ gái trai
Vào trong giải phóng đất trời tự do”

Đoàn lính gái thẽn thò vì lạnh
Ai xát lòng muối mặn mà đau
Hiền hiền những ánh mắt nâu
Lệ rời thấm đất nỗi sầu nghìn năm
                  
Họ chết lặng cắn răn im tiếng
Con gái miền quê kiểng biết chi
Tâm xà khẩu phật từ bi
Đen như hắc ín những khi láng đường

Rồi không biết chán chường hay đói
Hay đường dài mỏi gối chùn chân
Từ trong đám lính hành quân
Tiếng khóc xé ruột thất thanh, tang nhà!

Họ dậm chân hét là lại thét
Vào trong kia nào biết buổi về
Chao ôi da diết nhớ quê
Gào than theo gió bốn bề bão dông.

Gào khản cổ gió đông chẳng thiết
Gió vô tình mải miết cứ trôi
Trên đường hàng vạn trăm người
Dửng dưng như ánh mặt trời cao xa

Xương trắng phơi lối ra tiền tuyến
Mồ gái tơ diều liệng, chồn giay
Lớp này rồi lớp khác thay
Màu cờ lau trắng rợn lay sa trường

*
Lới động viên dễ thường miệng mỏi
Vẫn trơ trơ con gái lính mình
Giữa trời đông đứng nín thinh
Cùng chung bao nỗi cực hình cỏ cây

Tim tôi cũng tái ngây vì lạnh
Cùng đường vào cám cảnh ngày xa
Đoàn con gái lính đi ra
Bao giờ về lại quê nhà thuở xưa?

Rồi cái chết sẽ chờ mọi lối
Trên con đường dẫn tới miền trong
Chiến tranh dai dẳng chưa xong
Còn bao nhiêu chuyện đau lòng xảy ra!

Chiến trường Quảng Trị 27 – 11 – 1973
Đỗ Hoàng

MOI MỒ LÍNH GÁI 


Thân lính gái gặp bao  tai ác
Một cõi đời sống thác nào yên
Sống thì gặp buổi đảo điên
Tuổi xuân đem ném vào miền biên cương

Thân gái lính muôn đường cơ khổ
Đẩy vào nơi bom đổ, đạn đì
Tàn phai héo úa xuân thì
Sa trường xương trắng còn gì mà mơ!

Năm tháng trong buồn bơ sầu thảm
Cả tuổi yêu u ám mây tàn
Hầm hào, địa đạo, súng gang
Da chì, tóc rối vỏ vàng tấm thân!

Bao thế hệ tuổi xuân vàng úa
Cảnh gái tơ bao lứa mồ hoang
Tấm thân nào được chu toàn
Xương phơi, thịt nát từng đoàn ra ma!

Đời lính gái thật là vô phúc
Đã chết rồi bị đục mồ lên
Làm cho hồn vía không yên
Bơ vơ lạc lỏng cuối miền hư không

Dựng xương lên đeo vòng nguyệt quế
Đốt văn khê mà tế vong hồn
Chắc rằng cái lúc đem chôn
Không hòm, không xiểng, không cồn tha ma
                 

Người ta gióng phèng la ing ỏi
Chẳng qua là vì gói tiền thôi
Mấy ai yêu quí con người
Huống gì ma gái ở nơi suối vàng!

Ham một chút bạc vàng bỏ túi
Bày trò này lại xúi trò kia
Phần trăm xin xỏ ăn chia
Đến hài cốt cũng đầm đìa máu xương!

Kẻ trong nước cùng đường làm bậy
Người phía ngoài ngửi thấy mùi đồng
Tụng ca âm đức ghi công
Ăn xương, uống máu trên hồn gái ma

Cảm lính gái tài hoa bạc mệnh
Sống quay cuồng, chết lạnh tấm thân,
Xương tàn còn bị tranh phần
Sống đau đớn chết vô ngần đớn đau!

Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2012
Đỗ Hoàng

 

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

Thơ mới của Nhà thơ Trần Mạnh Hảo


Đất nước có bao giờ buồn thế này chăng?

Trần Mạnh Hảo
imagesLời mào đầu của tác giả: Tôi viết bài thơ này sau khi đọc bài thơ “ Đất nước những tháng năm thật buồn” của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm. Xin cám ơn nhà văn Nguyễn Quang Lập đã đăng bài thơ này trên trang web Quê choa ngay sau khi tác giả gửi đến. ( tại đây)
Cũng xin cám ơn nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã gợi hứng cho tôi viết bài thơ “Đất nước có bao giờ buồn thế này chăng ?”. Nguyễn Khoa Điềm thế hiện trong bài thơ “ Đất nước những năm tháng thật buồn” là một con người cô đơn tuyệt đối trong một xã hội mà đảng cộng sản muốn tập thể hóa cả tấm hồn con người. Sao trong chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa vui hơn tết này mà nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm lại thấy đất nước mình buồn thảm dường ấy ? Những câu thơ tuyệt hay mà nhà thơ rút ra từ gan ruột đã làm tôi choàng váng :
Bây giờ lá cờ trên Cột cờ Đại Nội
Có còn bay trong đêm
Sớm mai còn giữ được màu đỏ ?
Bây giờ con cá hanh còn bơi trên sông vắng
Mong gặp một con cá hanh khác ?
Bao giờ giọt nước mắt chảy xuống má
Không phải gạt vội vì xấu hổ
Ngước mắt, tin yêu mọi người
 
Ai sẽ nắm vận mệnh chúng ta
Trong không gian đầy sợ hãi ?
Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ “ thời chống Mỹ” gần như duy nhất còn có thể làm được thơ hay. Maiacopxki từng nói : “Anh có thể dối em tất cả nhưng trong thơ anh không thể dối”. Tôi không tin vào những bài thơ nhàn nhạt, tôi chỉ tin vào thơ hay. Anh Điềm làm thơ hay như thế khiến tôi tin anh đang thành thật bộc lộ con người cô đơn, con người gần như tuyệt vọng vào một đất nước đang bị băng hoại như đất nước ta hôm nay. Có khá nhiều người vẫn lên án nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm chỉ vì anh đã từng là ủy viên bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam phụ trách trưởng ban tuyên giáo…Xin nhắc lại một câu danh ngôn phương Tây : “ Quyền lực làm tha hóa con người”. Vâng, đã đi theo ma thì phải mặc áo giấy. Nếu Trần Mạnh Hảo hay nhà thơ Bùi Minh Quốc… do ma đưa lối qủy dẫn đường mà bỗng dưng vào được bộ chính trị đảng cộng sản, biết đâu ta lại chẳng sắt máu hơn anh Điềm hồi ấy…, biết đâu ta vẫn còn diện áo giấy để làm ma văn học ? Hãy để anh Điềm được quyền làm một nhà thơ công dân, được quyền mặc áo vải, được nói thật với trang giấy và độc giả bằng những vần thơ nhỏ máu…
Tôi bắt đầu yêu quý lại nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm bằng bài thơ rất hay này của anh…
 
ĐẤT NƯỚC CÓ BAO GIỜ BUỒN THẾ NÀY CHĂNG ?
Thơ Trần Mạnh Hảo
 
Đêm trường ma giáo mặt trời đỏ
Những dòng sông là đất nước thở dài
Chó sủa trăng nhà ai ?
Không phải vầng trăng đất nước
 
Tôi ngồi ngót bảy mươi năm
Chờ một lời nói thật
Bầy sói tru ý thức hệ lang băm
Người nông dân bị cướp đất phải hát bài dân chủ
Đêm đêm thạch sùng tắc lưỡi bỏ đi
 
Đất nước đang treo trên sợi chỉ mành
Sợi chỉ mành 16 chữ vàng và dối lừa 4 tốt
Có kẻ rước giặc lên bàn thờ
Xì sụp lạy khấn tàn nhang chủ nghĩa
Những giáo điều làm cơm nguội bơ vơ
 
Xin cứ tự do bán lương tâm cho chó
Vãi linh hồn vào thùng rác nhân dân
Mối mọt ăn rào rào lòng rường cột
Ôi thương thay giẻ rách cũng tâm thần
Anh sẩm bạc đầu dẫn đường dân tộc
Đám gà què bàn hiến pháp cối xay
 
Đất nước có bao giờ buồn như hôm nay
Những thiên đường vỡ chợ
Những học thuyết đứng đường
Hoàn lương tượng đài
Hoàn lương chân lý
Nghị quyết còn trinh bạch cũng hoàn lương
 
Không ai đuổi cũng giật mình bỏ chạy
Nhốt hết mây trời vào hiến pháp tự do
Mơ được đứng bên lề đường
Nói một câu gan ruột
Đất nước buồn
Đất nước bị ruồi bu
 
Đất nước bị cầm tù trong ngực trái
Chưa kịp nghĩ một điều gì
Sao đã toát mồ hôi ?
Có nơi nào buồn hơn đất nước tôi ?
 
Lý tưởng của loài dơi là muỗi
Dơi bay đêm cho đất nước đỡ buồn
Không ai tin vào hoa hồng nữa
Không ai tin vào dơi nữa
Dơi trở về làm chuột khoét quê hương
 
Sài gòn 24-4-2013
 

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

Dịch vô lối, tắc tỵ, bệnh hoạn Thanh Thảo

Vô lối, tắc tỵ Thanh Thảo


               
                 
      Nh
à thơ Đỗ Hoàng
DỊCH VÔ LỐI, TẮC TỴ THANH THẢO

Đỗ Hoàng

    Thanh Thảo thuộc thế hệ nhà thơ chống Mỹ đứng sau nhiều các nhà thơ Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Lâm Huy Nhuận, Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hữu Thỉnh… Một thế hệ viết theo bài bản, in sẵn trong các nghị quyết, nghị định, mệnh lệnh tuyên huấn cấp đại đội, tiểu đoàn; cùng với dòng thơ hô khẩu hiệu ở hậu phương hình thành nên một lớp đồng ca, cổ động viên của kênh thơ mậu dịch quốc doanh được chính thể ưu ái tinh thần, bật chất!
    Thơ họ rập khuôn, sáo rỗng, muôn người như một, không có bản sắc, không có cá tính rất khẩu hiệu xơ cứng “quyết đánh là quyết thắng, đã đánh là phải thắng”. Họ được áp nà và tự áp nà (ép đặt) lên tuy duy, cảm xúc, hành động của mình và của mọi người như robot, những kiểu nói lấy được đổ vấy cho người khác. “ Những gì tốt đẹp của mày thuộc về tao, những gì xấu xa của tao thuộc về mày” (Việt Phương). Tự cho mình duy nhất tốt đẹp, còn ai cũng xấu
“Con lạy ông,
Ông đừng ăn gan cháu!
Em mếu máo làm cho tôi mếu máo.
Chú đây mà, chú là giải phóng quân”
(Nguyễn Duy)
 Nên biết là Giải phóng quân, Mỹ mẽo, ngụy ngiệc gì cũng chơi cao Polpot, cao Bành trướng để chữa khớp cả!
  Thanh Thảo không hơn gì các bậc đàn anh, mà lại có phần kém hơn và áp nà (áp đặt), nói lấy được, tự hào rơm hơn:
Những tráng ca thuở trước
Giờ chỉ trong sách thôi
Những thanh gươm yên ngựa
Cũng đã cũ mèm rôi

Chỉ bài ca ống cống
Ống cống mà thôi!
(Bài ca ống cống)
  Hình ảnh thanh yên ngựa,  bài tráng ca vẫn còn mãi với non sông. Cái ống cống ai nhớ. Nó không thể nâng lên hình tượng nghệ thuật được!

 Hay:
Vẫn đằm hơi ấm thiết tha
Cho người sau biết đường ra chiến trường”
(Dấu chân qua trảng cỏ)
Đáng ra phải viết cảnh báo - waring  (Dù chiến tranh chính nghĩa):
Vẫn còn dấu vết chỉ ra
Cho người sau biết tránh xa chiến trường”
 Điều ấy mới đúng@
Nhưng Thanh Thảo và số viết cổ động viên ấy được các ông giáo khổ trường tư, các nhà học giả, học thật, tiến sỹ bò, tiến sỹ giấy, phê bình, phê chén mậu dịch quốc doanh như : Chu Văn Sơn, Phạm Quang Trung,  Văn Giá , Hồ Thế Hà, Đỗ Lai Thúy và nhà thấp học Phạm Xuân Nguyên tung hô hết cỡ!
  Sau hậu chiến khi nhìn lại thơ mình quá ngô nghê, kệch cởm, hô khẩu hiệu chay, Thanh Thảo không quay về bản ngã lại cố đi tìm một kiểu viết tắc tỵ hủ nút, đánh đố mình và đánh đố bạn đọc hoặc viết một cách sơ sài, quê kệch, bệnh hoạn, chân đất mắt toét thiếu sáng tạo... như “Khối vuông ru bích”, “ Metro”, nhưng được ẳm hết giải này đến giải nọ.
Xin dịch bài vô lối, tắc tỵ NHẬT THỰC của Thanh Thảo.

  Đây là một bài vô cùng tắc tỵ, bệnh hoạn với lời lẻ dung tục bẩn thỉu:
Tôi mơ cứt ngập nhà anh
Mai giàu anh trả hai mươi phần trăm
...
nghênh ngang lỗ chó chui

Cái nhìn rất thị dâm, toàn nhìn vào háng, lỗ đen:
Tôi dạng háng cho các anh ngắm
...
vùng tối đen
thèm tối đen
tối đen

tự thu mình
một lỗ đen sâu hun hút

lạm dụng những từ:
mò, sờ, vuốt, ôm...
 Những kiểu đánh đố không ai luận ra:
Ấn khớp gối
phìm đàn
bỏ rơi
...
trưa nhật thực những mẹ gà đeo kính
...
trứng hồng
những bố bò ngáp vặt
...
lối nói kiểu cách, vô học:
nắng chảy trên mái nhà ký ức
...
mặt trời mù dòng sông mang thai

Không thêt nào kể hết.

Cách viết, cách  nghĩ bệnh hoạn, tắc tỵ này được nâng cấp lên ở cái trường ca Chân đất mắt toét, một lối viết phản lại thơ ca mà lại được Hội Nhà văn Việt Nam, UB Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam đưa lên mây xanh! (Trao giải thưởng đúp thơ năm 2012)

Nên loại bỏ kiểu viết này ra khỏi văn chương Vịêt!

                   

                        Nhà thơ Thanh Thảo
Nguyên văn: (1)

NHẬT THỰC

I
Ấn khớp gối
phím đàn
bỏ rơi
những ốc sên nhận đường
bỏ rơi
cái cây vặt từng chiếc lá
im lặng vặt từng âm thanh
chói
âm
chói âm
lỗ đen

nổi trôi ngàn cặp vú
ngân hà

II

gạch bông
trống đồng
lông nhông
con đường vắt tong giọt
trưa nhật thực những mẹ gà đeo kính
trứng hồng
những bố bò ngáp vặt
chim bay ngập khoảng không

III

tôi mơ cứt ngập nhà anh
mai anh giàu trả hai mươi phần trăm
một triệu đô cho giấc mơ tôi
mười ngàn vé dán đầy mặt trời

IV

“anh đừng ăn xin, anh đừng ăn” *
mặt trời
mặt trời mù dòng sông mang thai
những trái cây mùa thu ngủ muộn
mùi hương bóng tối
chảy ra đặc quánh

V

anh chán sáng?
tôi buồn ngủ
đừng ru nhịp ba
đừng mơn bằng trắc
tôi dạng chân cho các người ngắm
vùng tối đen
thèm tối đen
tối đen
chán sáng

VI

ai định hướng cơn bão
ai chỉ đạo dải hội tụ nhiệt đới

tự thu mình
một lỗ đen sâu hút
nắng chảy trên mái nhà ký ức

đừng nói
chán rồi

có thể ngay phút này giây này
lại bắt đầu mọi thứ

VII

ốc sên đỉa vắt chuồn chuồn
bay thấp bay cao bay vừa
rối tung tối om
lần mò sờ sao
vuốt má vầng trăng
ôm lưng dải sáng
mười hai lỗ gai
sương dày la cháy
con đường cực nhọc
vô nghĩa
Vanga, Saga, Rama, Tôyota

VIII

càng cua xe dua liều thua
bài trời
lật sấp: mưa
lật ngửa: xong
long tong nhong nhong
ngọc đại ngại đọc
có cô thì chợ thêm đông
vắng cô thì chợ Đồng Xuân
bốn mùa

IX

xòe tay che vầng nhật
ngày 14 tháng 10
nghênh ngang lỗ chó chui
những dòng sông sặc nước

tắt ngay cho chúng biết
lại sáng trưng mấy hồi
đám phê bình vặc diệc
vung vẫy sừng trâu cười

X

nước dâng
biển thấp
ngày những đàn cá mập
diễu hành
những vòng tròn hiện sáng
khoảnh khắc
những giấc mơ vượt thái dương hệ
lỗ đen giữa trán
một ngọn đèn cực mạnh
cây hối hả như người
người đứng lặng như cây
nhìn vào mình
anh chit thấy mặt trời bé tý
đong đưa
phía trên lỗ rốn
chầm chậm. sông dâng
đám pha-ri-siêu giảng đạo đầy đường
bọ ngựa đá giọt sương
xuyên phá bức tường
con nhện chuyên dệt những ác mộng
là thủ môn vỹ đại nhất
mọi thời

(1) bài in trên Tạp chí Nhà văn tháng 12 năm 2007
*Phỏng lời một ca khúc Việt nổi tiếng (tác giả chú thích )


Viết liền theo kiểu văn xuôi - Đọc thấy nó rất oẳn tà roằn!

NHẬT THỰC

I
Ấn khớp gối ,phím đàn bỏ rơi, những ốc sên nhận đường bỏ rơi cái cây vặt từng chiếc lá im lặng vặt từng âm thanh chói âm  chói âm lỗ đen nổi trôi ngàn cặp vú ngân hà

II

gạch bông trống đồnglông nhông con đường vắt tong giọt trưa nhật thực những mẹ gà đeo kính trứng hồng những bố bò ngáp vặt chim bay ngập khoảng không

III

tôi mơ cứt ngập nhà anh mai anh giàu trả hai mươi phần trăm một triệu đô cho giấc mơ tôi mười ngàn vé dán đầy mặt trời

IV

“anh đừng ăn xin, anh đừng ăn” * mặt trời mặt trời mù dòng sông mang thai những trái cây mùa thu ngủ muộn mùi hương bóng tối chảy ra đặc quánh

V

anh chán sáng? tôi buồn ngủ đừng ru nhịp ba đừng mơn bằng trắc tôi dạng chân cho các người ngắm vùng tối đen thèm tối đen tối đen chán sáng

VI

ai định hướng cơn bão  ai chỉ đạo dải hội tụ nhiệt đới tự thu mình một lỗ đen sâu hút nắng chảy trên mái nhà ký ức  đừng nói  chán rồi có thể ngay phút này giây này lại bắt đầu mọi thứ

VII

ốc sên đỉa vắt chuồn chuồn bay thấp bay cao bay vừa rối tung tối omlần mò sờ sao vuốt má vầng trăng ôm lưng dải sáng mười hai lỗ gai sương dày la cháy con đường cực nhọc vô nghĩa Vanga, Saga, Rama, Tôyota

VIII

càng cua xe đua liều thua bài trời lật sấp: mưa lật ngửa: xong long tong nhong nhong ngọc đại ngại đọc có cô thì chợ thêm đông vắng cô thì chợ Đồng Xuân bốn mùa

IX

xòe tay che vầng nhật ngày 14 tháng 10 nghênh ngang lỗ chó chui những dòng sông sặc nước ắt ngay cho chúng biết ại sáng trưng mấy hồi ám phê bnh vặc diệc vung vẫy sừng trâu cười

X

nước dâng biển thấp ngày những đàn cá mập diễu hành những vòng tròn hiện sáng khoảnh khắc những giấc mơ vượt thái dương hệ lỗ đen giữa trán một ngọn đèn cực mạnh cây hối hả như người người đứng lặng như cây nhìn vào mình anh chỉ thấy mặt trời bé tý đong đưa phía trên lỗ rốn chầm chậm. sông dâng đám pha-ri-siêu giảng đạo đầy đường bọ ngựa đá giọt sương xuyên phá bức tường con nhện chuyên dệt những ác mộng là thủ môn vỹ đại nhất mọi thời

(1) Bài in trên Tạp chí Nhà văn tháng 12 năm 2007
*Phỏng lời một ca khúc Việt nổi tiếng ( tác giả chú thích )

Đỗ Hoàng dịch ra thơ Việt:

NHẬT THỰC

I

Ấn vào cái khớp gối
Như ấn vào phím đàn
Bỏ rơi sên nhận đường
Bỏ rơi trên cỏ rả
Cây vặn từng chiếc lá
Im lặng vặt âm thanh
Chói tai tiếng vang đanh
Lỗ đen trong vũ trụ
Nỗi trôi ngàn cặp vú
Trên mê cung Ngân Hà!

II

Gạch bông, trống đồng hoa
Lông nhông con đường nhỏ
Vắt từng giọt sương gió
Trưa nhật thực chói lòa
Những mẹ gà đeo kính
Trứng hồng và hồng trứng
Ngáp vặt những bố bò
Chim bay ngập sương mờ!

III

Tôi mơ phân ngập nhà anh,
Mai giàu anh trả lãi nhanh gấp ngàn.
Mơ tôi giá triệu đô vàng
Với mười vạn vé dán tràn trời cao!

IV

Anh ơi! Đừng ăn xin
Xin anh đừng ăn đấy
Mặt trời mù mắt vậy
Dòng sông đang mang thai
Những trái cây mùa thu
Trong tiết trời ngủ muộn
Trong tối hương nồng đậm
Chảy ra đặc quánh này!

V

Anh chán sáng thật hay
Tôi lại buồn ngủ lắm
Dừng ru nhịp ba bốn
Đừng mơn trớn trắc bằng
Tôi dạng chân người nhìn
Thèm tối đen, chán sáng!

VI

Ai định hướng cơn bão?
Và ai đang chỉ đạo
Dãi tu nhiệt đới này
Tự thu mình ai hay?
Một lỗ đen sâu hút
Nắng chảy nhà ký ức
Đừng nói chán lắm thay
Có thể phút giây này
Lại bắt đầu mọi thứ!

VII

Chuồn chuồn, vắt, sên, đĩa…
Bay thấp, cao, bay vừa.
Rối tung, tối om mù
Lần mò sờ sao lặn
Đến vuốt má vầng trăng
Tới ôm lưng dải sáng
Có mười hai lỗ gai,
Sương dày lá cháy loạn
Con đường cực nhọc thay
Tất cả dều vô nghĩa
Van ga, Tô yo ta này…

VIII

Xe đua cũng liều thua
Ván bài trời sấp ngữa
Lập sấp: thì là mưa
Lật ngữa : xong mọi thứ.
Chỉ long tong nhong nhong
Mơ ngọc đại, ngại học.
Có cô chợ thêm đông.
Vắng cô chợ đầy đồng
Bốn mùa Đồng Xuân hội!

IX

Xòe tay che vầng nhật
Ngày mười bốn tháng mười
Nghênh ngang lỗ chó chui
Những dòng sông sặc nước

Tắt ngang cho chúng biết
Lại sáng trưng mấy lần
Đám phê bình vặc diệc
Vẫy sừng trâu cười hênh!

X

Nước đầy mà biển thấp
Ngày những đàn cá mập
Diễu hành trong đại dương
Vòng tròn hiện sáng trưng
Qua khoảnh khắc nhỏ bé
Mơ vượt thái dương hệ
Lỗ đen giữa trán lồi
Một ngọn đèn cực mạnh
Cây hối hả như người
Người im như cây vậy
Nhìn vào mình sẽ thấy
Một mặt trời bé ti
Đong đưa trên lỗ rốn
Chầm chậm. sông dâng sáng
Với đám pha-ri-sêu
Đang giảng đạo đầy đường
Bọ ngựa đá giọt sương
Xuyên phá bức tường lửa
Nhện dệt ác mộng nữa.
Thủ môn lớn mọi thời!

Hà Nội ngày 16 – 1 – 2008

Đ - H

Thứ Bảy, 13 tháng 4, 2013

Tâm sự người lính- Tập thơ Đỗ Hoàng bị cấm (tiếp theo)

Tâm sự người lính (tiếp theo)



       
                     Nh
à thơ Đỗ Hoàng

ĐỖ HOÀNG

LOÀI NGƯỜI
I

bao nhiêu triệu năm Tạo Hóa mới sinh ra được chữ Người.
bao nhiêu triệu năm Tạo Hóa mới cho Ta niềm kiêu hãnh của loài vật thong minh bậc nhất.
bao nhiêu triệu năm niềm kiêu hãnh không một loài nào cướp mất
xuyên qua ngàn thế kỷ xa xôi.
Bao nhiêu triệu năm ta mới có được chữ Người
     - dẫn ta tới những tình yêu kỳ lạ
     - dẫn Ta tới cái căm hờn nghiệt ngã
trên hành tinh này nửa trắng, nửa đen.


               


Ôi!
Ta đã tự hào với những niềm tin.
với những đam mê điên cuồng cỗ vũ.
Tâm sự người lính

với những tình thương rộn ràng ghê sợ
khi Ta đứng trên đỉnh núi muôn loài!

con Người
con Người
lúc đang bé thơ
đã  biết bắt kẻ khác loài về thần phục
đã biết gieo vào triệu năm sự chết
trong hang ngàn niên đại xa xưa.
con Người
con Người
với tiếng cười điển hình trên lớp thú
với tiếng cười biết làm nên tất cả
cuộc sống khác thường trên khắp hành tinh!

II


Ôi!
Ta đã mất lòng tin
Ta biết bắt đầu từ trong loài ta ở
Ta biết bắt đầu từ khi
Ta đứng trong loài Ta,
Ta nhìn rất rõ
sự thật đắng cay


sự thật đảo điên
sự thật ác tàn
ngự trị thế gian
loài vật người, loài vật thú!

sự thật thông minh
sự thật ngu sy man rợ
thế gian đầy những nỗi thương đau!

III

điển hình cho sự điên cuồng cấu xé lẫn nhau
điển hình cho sự thù hằn khủng khiếp

       
là sự thật
hàng tỷ Người bị giết
nguyên do loài vật Người gây ra
mấy ngàn đời
vạn thế kỷ trôi đi
loài Người cô đơn sống trong loạn lạc

loài Người cô đơn ở trong chết chóc
loài Người cô đơn không có đường ra!
loài Người thông minh
loài Người ngu sy!
để bạo chúa nghìn đời ngự trị
để những cuộc sát tàn vô nghĩa lý
như chứng nan y hoành hành mãi trên đời!

IV

trong cái chết thất kinh cũng có tiếng cười
trong cái chết thất kinh cũng có kẻ lấy làm hàng mua bán
trong cái chết thất kinh cũng có kẻ lấy làm mục đích sự sống
nhuộm đồng tiền bằng máu Người rơi!

             
loài Người ngu si
và lũ chù hôi
hàng niên đại đè lên mạng Người cùng khổ
hàng niên đại vạn kẻ lánh đi vì sợ
để ngợi ca cái ác điên cuồng!



bao nhà thơ mất hết lương tâm,
bao bọn báo bồi, văn bồi làm gián điệp
bao tác phẩm nghệ thuật biến thành biệt kích
cuộc đời này đánh đĩ với văn chương!

V

bọn thống trị lấy ác tàn để làm "trí nhân",
bọn xu thời lấy cúi luồn làm nơi thăng tiến
mục đích đời là gì?
                khi ác tàn cần đến,
chúng sẵn sàng bán hết lương tâm!

chỉ lấy một mẩu đời thôi,
có bao nỗi bất công

        
bao nỗi oán thù khủng khiếp
bao tai họa chùm lên đầu Người
bao oan nghiệt
hành tinh đói nghèo ly loạn đến nghìn sau!

chỉ lấy một mẩu đời thôi
                        có ai tính hết đâu
một phần triệu triệu lần cái ác


con Người
con Người
gớm ghiếc

bao triết gia coi khinh sự chết
bao nhà thơ ca ngợi cái điên cuồng
bao nhà văn bán đứng văn chương
bao chình khách phỉnh phờ
                     ngồi một nơi xui gào cổ vũ...

VI

chưa một nhà thống kê nào tính chính xác

cái ác tàn hôm nay, mai sau và quá khứ.
chưa một nhà nhân đạo nào nói hết
sự thật trắng đen
chưa có kẻ cầm quyền nào tự nhận
mình là lũ ác tàn
chưa có kẻ nào dám ngoảnh lại nhìn
đời mình trong lốt thú!

loài Người vỹ đại làm ra những điều
diệu kỳ trên trái đất

con Người cũng là kẻ bạo tàn bậc nhất
đau thương nghìn đời xưa
đau thương nghìn đời nay
và sau những thế kỷ xa xôi...


VII

không gian, thời gian vĩnh viễn kéo dài

bao tai họa loài Người còn phải chịu

bao đau thương còn đẵng đeo mãi mãi
bao kẻ ác tàn đang sống phởn phơ
bao con Người lương thiện chết bơ vơ
bao nhiêu...
mà chữ Người lại chia đều cho mọi đứa?

biết bao giờ Ta được tin
                  được cầu mong hơn chút nữa?
loài Người xóa đi cái căm ghét thù hằn
loài Người xóa đi cái dai đẵng chiến tranh!
để cho con Người được nhìn trời cao, đất rộng
đem điều thiện trở về cuộc sống

mọi thù hằn, tàn ác sẽ tan đi!
cho trái đất không còn bị cắt chia
cho cuộc đời khồng còn ngu si, ác tàn bịp bợm
để chỉ có
con Người

con Người duy nhất


trên hành tinh này
tan hết màu đêm

ta mong một ngày
ta có lại niềm tin
ta có lại niềm tin

trong loài Ta ở
thì chữ Người
mới trở về với loài Ta đó!

            Cao điểm chốt 280
           Biên giới Việt  - Lào
             Ngày 4 - 6 - 1973

              


TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH

“Tòng quân lữ thứ tằng kinh chiến,
Thuyết đáo nam chinh các tự sầu”
(Lính già từng trải mùi chinh chiến,
Nghe đánh về Nam hết cả hồn)
 Nguyễn Trung Ngạn – Đỗ Hoàng dịch thơ



khi trái tim con người đã biét yêu thương,
đã biết phân biệt đâu là lẽ phải,
thì lúc đớ người ta phải chịu những gì tưởng như không chịu nổi,
của những thế kỷ chiến tranh bạo tàn trên mặt đất sinh ra!

tuổi thành niên năm tháng trôi đi,
bộ quân phục bạc phai màu nắng cháy,
mọi khổ đau đều bắt nguồn từ nơi ấy,
buổi chiều nhàu trên những dải rừng hoang…

ngày dài lãng quên theo nẻo, lối hành quân,
đêm co quắp với đội hình đánh giặc.
lính truyền cho nhau những tin kín mật,
chung lưng khi gặp quân thù!

đã vào lính rrồi,
người ta ít nói đến ước mơ,
kỷ niệm cũng phai dần theo khói lửa,
cái riêng kia nhiều khi không biết nữa,
mải mê công việc quên người!

thiên nhiên đổi mùa, mưa ngàn nắng nôi,
da dẻ thay màu,
người thay suy nghĩ!
đời lính tập làm quen với đói khổ,
làm quen với cái chết thường ngày.

thời gian trôi đi cũng chẳng ai hay?
Không có khái niệm thì giờ nơi chiến trường hoang dã.
khoảng thời gian vụt trôi qua đó,
nhẩm tính ra cũng mấy vạn năm rồi!

khi trái tim con người đã biết yêu thương,
là khi trái tim con người từng biết khổ đau,
vì những niềm vui,
vì những ký ức ban đầu trổi dậy,
vì những gì quý mến nhất trên đời tàn lụi!



trong cuộc trường chinh khò gặp lại một lần!
Tâm sự người lính

người lính sống nhiều với nỗi gian truân,
với bao nghĩ suy,
với bao dằn vặt!
nỗi đắng cay điên cuồng,
nỗi thâm gan uất ức.
mà cuộc đời không để để cho yên!

không thể đi tìm một sự thật lãng quên,
không thể sống tách mình ra ngoài quân ngũ.
kỷ luật nhà binh vẫn làm khốn khổ,
- lòng tự do khao khát của con người!

người lính đi nhiều và qua trăm nơi.
họ biết được nỗi đau của đời họ đang sống.
họ biết lắm kẻ gào lên
rồi im lặng,
triền miên trong suy nghĩ lao lung.

ai là người tri kỷ của nỗi lòng họ,
có không?
hay chỉ kẻ đứng bên ngoài tán thưởng.


họ muốn tìm ra thực chất cuộc sống,
mà máu tim hồng của họ đang rơi!

bao cái chết của một thời xa xôi,
nay lại trở về trên giường bệnh,
cái chết bình thường cũng làm nên con tính,
để loài người phải suy nghĩ hôm nay!

sống sót qua cuộc chiến tranh này còn lại là ai?
bụi chiến trường trên ngã đường chưa lắng đọng.
người lính ngã mũ ra,
trời cao đất rộng.
tưởng niệm hồn người quá cố năm xưa!
chiến tranh khốc tàn,
kẻ chết,
người lưa!
qua khói lửa bây giờ dừng lại.
nơi bờ tre có bàn tay run rẫy
của mẹ già khóc đón con về!

chiến tranh đã đi qua
chiến tranh là thế kia!
cái chết cũng bình thường như mạng kiến.
nhiều chứng nan y làm cho con người trống rỗng.


phần yêu thương nay đã mất đi rồi!
phút giây trở về
đổi lấy đời trai,
họ mệt mỏi ê chề như năm tháng.

mẹ hiền đón anh,
một người trọng bệnh.
qua vạn năm chưa ai chữa cho lành!

bây giờ anh không muốn tìm về người thân,
bỡi sức lực trong anh đã kiệt.
tuổi yêu đương ngày xưa đánh mất,
trái tim vết chém u bầm!

phía quê nhà không một ánh lửa thắp lên.
bom đạn xáo trộn cày sông bến.
người lính tần ngần như kẻ chưa hồi sinh sự sống,
nhìn tầng mây ngơ ngác giữa trời quê.

chiến tranh,
chiến tranh
là thế kia!

lứa tuổi yêu đương không còn mơ ước.



khi biết kẻ làm ra điều ác,
là khi anh đã ma dại, thân tàn!

nghìn năm qua nhân loại đã căm hờn.
bao cảnh chiến tranh vô nghĩa lý,
nghìn năm nay loài người xâu xé,
nghìn năm sau nhân loại vẫn lên án cuộc những chiến tranh này!

chiến tranh chẳng đem lại cho con người lợi ích nào đâu.
chỉ cái chết đè lên đầu, lên cổ.
bao đói rét dồn về người cùng khổ,
bao bất công phải ôm hận nghìn năm!

chỉ một nhúm người làm giàu trong chiến tranh,
chỉ một nhùm người nuôi sống đời mình
bằng máu đồng loại chảy.
chỉ một nhúm người ấy
xui cả tỷ người chém giết lẫn nhau!

được sống sót trở về trong khoảng vắng cô đơn.
đồng đội chết còn ai bât giờ nữa?


lạ lùng lắm dù đứng nơi xứ sở,
có mẹ già run rẩy đón con xa!

người lính thân tàn như một vật vô tri,
người ta nhìn vào anh lạ lắm
- đấy giá trị của người trai chinh chiến!
đổi lấy gì khi anh trở về đây?

người lính u buồn úp mặt vào hai bàn tay,
vết thương trong lòng máu túa.
giá anh như đồng đội anh không còn nữa,
sẽ yên hơn khi phải sống với thế gian này!

cuộc đời vẫn chưa hết đâu!
vạn người như anh hồn bay lưởng vưởng…
rồi sau này còn ai nhắc đến?
nỗi đau sâu kín của con người.
mà thế kỷ chiến tranh này đã tàn phái!

             
                                     Điểm chốt 176
                             Biên giới Việt – Lào
                                Tháng 9 năm 1973

                  

                                      
LÍNH GÁI

              *

Tín tri  sinh nam ác
Sinh nữ do đắc giá bỉ lân
(Sinh con gái hơn con trai
Sinh con gái gả chồng gần
Sinh con trai phải vùi thân chiến trường)
 Binh xa hành - Đỗ Phủ - Đỗ Hoàng dịch
          
                 **
Giá nữ dữ chinh phu
Bất như khí lộ bàng
(Con gái gả cho linh
Như đem bó bên đường)
 Tân hôn biệt -  Đỗ Phủ - Đỗ Hoàng dịch



Đường trống trải mai này lạnh thế.
Rét tê người như thể châm kim.
Tần ngần tôi đứng lặng nhìn,
Một đoàn bộ đội chúng mình hành quân.


Đoàn lính gái áo quần còn mới
Lứa lính này đưa tới miền trong.
Họ không hề bị đeo gông,
Mà sao ánh mắt mênh mông nỗi buồn!

Bước gấp lại đầu buôn lạnh vắng,
Nghe chỉ huy sốt sắng truyền lời:
“Rằng quân ta đủ gái trai,
Vào trong giải phóng đất trời tự do!”

Bầy lính gái thẽn thò vì lạnh,
Ai xát lòng muối mặn mà đau!
Hiền hiền những ánh mắt nâu,
Lệ rơi thấm đất nỗi sầu nghìn năm.

Họ chết lặng cắn răng im tiếng,
Con gái miền quê kiểng biết chi:
"Tâm xà khẩu phật từ bi,
Đen như hắc in những khi láng đường!"

Rồi không rõ chán chường hay đói,
Hay đường dài mỏi gối chùn chân?
Từ trong đám lính quân hành
Tiếng khóc xé ruột - thất thanhi tang nhà.


Họ giậm chân, hết la lại thét:
“Vào trong kia nào biết buổi về.
Chao ôi! Da diết nhớ quê!”
Gào than  theo gió bốn bề bão dông!

Gào khản cổ gió đông chẳng thiết,
Gió vô tình mải miết cứ trôi.
Trên đường hàng vạn trăm người,
Dửng dưng như ánh mặt trời cao xa!

Xương trắng phơi nẻo ra tiền tuyến
Mồ gái tơ diều liệng, chồn giay!.
Lớp này rồi lớp khác thay,
Màu cờ lau trắng rợn lay sa trường!

Lời động viên dễ thường miệng mỏi.
Vẫn trơ trơ con gái lính mình
Giữa trời đông câm nín thinh,
Cùng chung bao nỗi nhục hình có cây!



              *



Tim tôi cũng tái ngây vì lạnh,
Cùng đường vào cám cảnh ngày xa.
Đoàn con gái lính đi ra.
Bao giờ về lại quê nhà thưở xưa?

Và cái chết sẽ chờ mọi lối,
Trên con đường dẫn tới miền trong.
Chiến tranh dai dẳng chưa xong.
Còn bao nhiêu chuyện đau lòng xảy ra!

                    21 – 11 – 1973



Thứ Năm, 11 tháng 4, 2013

Tâm sự người lính - Tập thơ bị cấm của Đỗ Hoàng

Tâm sự người linh của Đỗ Hoàng

Thứ năm - 11/04/2013 12:09
              
                    
Nhà thơ Đỗ Hoàng

TÂM SỰ NGƯỜI LÍNH CỦA ĐỖ HOÀNG


Tôi viết tập thơ Tâm Sự người lính cách đây đã hơn 40 năm, và Nhà xuất bản Văn học in và bị cấm cách đây cũng đã gần 20 năm (1996).
 Tập thơ là tiếng nói của người lính và nhân loại lên án chiến tranh của loài người luôn luôn xảy ra mà không có cách gì ngăn cản được. Suốt 40 năm nay, sau cuộc chiến ở Việt Nam, chiến tranh lại xảy ra khắp mọi nơi trên trái đất: Vùng Vịnh, Apganstan, Chernia, Nam Tư nay lại sắp sửa Nam Bắc Triều Tiên. Đau buồn không thể nói.

Phần I:

CÂY ĂN THỊT (1)
Cây cũng thèm ăn thịt
Huống chi là giống người.
Biết có ai cản được ?
Ngọn cỏ này sinh sôi!
1968
 

SỐ PHẬN LOÀI NGƯỜI

Đường hành quân chùng gối
Ngày chinh chiến dài lâu
Chết chóc không dừng lại.
Con người níu kéo nhau!

Lô xô nòng súng dữ.
Ở trên thế gian này
Sinh ra bao triết lý,
Giết người không ghê tay!

Có đạo luật nào không?
Cấm loài người chém giết.
Bọn đao phủ đeo gông,
Kẻ ác tàn phải chết.

Đêm nay ai không ngủ?
Nghĩi số phận loài người,
Hận thù đang còn ngự,
Mấy triệu đời chưa thôi!

Trái đất đen một nửa
Bom đạn găm đầy mình
Những đưởng gươm ly loạn
Đang chém nát hành tinh!
!973
 



THÂN PHẬN LÍNH

Ai nhìn khuôn mặt lính?
Cháy đen màu đồng hun.
Mấy năm trời đã sống
Lặng câm như khoảng rừng.

Sinh viên năm thứ nhất
Sinh viên năm thứ hai
Lớp lớp trong cỏ rác
Dưới đất đen sâu vùi.

Số sư đoàn cơ động
Số sư đoàn chốt cao,
Biến đi cùng năm tháng
Đời trần ai biết đâu?

1972
(1) Rút trong tập th
ơ Tâm sự người lính – NXB Văn học, Hà Nội tháng 10 / 1996
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

Góp ý xây dựng Hiến pháp Việt Nam 1992


Góp ý xây dựng Hiến pháp Việt Nam (phần 3)

Thứ năm - 04/04/2013 10:17
               
                                             Bác Hồ

GÓP Ý XÂY DỰNG HIẾN PHÁP VIỆT NAM (phần 3)

HIẾN PHÁP VIỆT NAM: DÂN CHỦ GIẬT LÙI!
SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP TRÊN TINH THẦN HIẾN PHÁP NĂM 1946
 

 Đỗ Hoàng

Cuộc sinh hoạt dân chủ rộng khắp cả nước chưa từng thấy từ khi đổi mới đến nay là Nhà nước phát động phong trưng cầu dân ý lấy ý kiến đống góp về sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Từ các ngành trọng yếu của Nhà nước, bộ máy công quyền, các nghiệp đoàn, hội hè đến các giáo phải, dân chúng bình dân đã có nhiều ý kiến đóng góp thiết thực, bổ ích nhằm sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có lợi cho dân, cho nước.
 Đến nay đã có trên dưới 30 000 000 ý kiến tập hợp được.
Để hiểu thêm tinh thần dân chủ tiến bộ trong Hiến pháp năm 1946, nhất là về mặt tự do ngôn luận – tự do báo chí chúng tôi xin trích bài viết của Bác Hồ thời ở Pháp về báo chí Đông Dương để bạn đọc hiểu thêm.
  Hiến pháp năm 1946 là một hiến pháp dân chủ tiến bộ hơn cả hiến pháp Liên Xô (cũ) thời ấy cho đến bây giờ.
 Tính dân chủ thể hiện trong các điều luật của Hiến pháp năm 1946 như sau:
-         Tự do báo chí
-         Tự do hội họp, lập nghiệp đoàn
-         Tự do ngôn luận
-         Tự do đảng phái
-         Tự do cư trú, đi lại…
-         Công dân đủ 18 tuổi có đức, tài có quyền ứng cử tham gia chính quyền.
-         Quân đội, công an phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Trong nước có nhiều đảng phái, quân đội, công an không nên tham gia đảng phái.

 Để có được một hiến pháp dân chủ tiến bộ như hiến pháp năm 1946, Hồ Chí Minh và các nhà cách mạng, chí sỹ, nhân sỹ, nhân dân Việt Nam và các chiến sỹ quốc tế đổ bao nhiêu máu đào để xây dựng nên. Xin gới thiệu bài viết của Hồ Chí Minh về tự do ngôn luân, tự do báo chí.
                       
                                  Nhà thơ Đỗ Hoàng

NGUYỄN ÁI QUỐC

CHẾ ĐỘ BÁO CHÍ

…Giữa thế kỷ XX này, ở một nước có đến 20 triệu dân mà không có lấy một tờ báo! Các bạn có thể tưởng tượng được như thế không? Không có lấy một tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ chúng tôi. Lý do như thế này. Chính quyền Pháp quyết định rằng không một tờ báo nào bằng tiếng Việt Nam nào được xuất bản nếu không được viên toàn quyền cho phép với điều kiện là bản thảo đưa đăng phải trình viên toàn quyền duyệt trước đã, và giấy phép họ thu hồi lúc nào cũng được. Tinh thần bản sắc lệnh về báo chí là như thế đấy. (Chúng tôi bị cai trị bằng sắc lệnh do viên toàn quyền ban bố chứ không phải bằng những đạo luật đã được thảo luận và biểu quyết ở nghị viện). Trên thực tế còn tệ hơn nữa. Mãi đến bây giờ, chưa có người Việt Nam nào được phép xuất bản một tờ báo cả. Tôi gọi là một tờ báo về chính trị, về kinh tế hay văn học như ta thấy ở Châu Âu và các nước Châu Á khác, chứ không phải một tờ do chính quyền thành lập và giao cho bọn tay chân điều khiển, chỉ nói đến chuyện nắng mưa, tán dương những kẻ quyền thế đương thời, kể chuyện vớ vẩn, ca tụng công ơn khai hóa và ru ngủ dân chúng. Báo đầu độc người ta như thế thì ở Đông Dương cũng có ba hay bốn tờ đấy…
Hồ Chí Minh toàn tập
Tập hai. NXB Sự Thật, Hà Nội năm 1981