Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

Phê bình bao cấp

Phê bình bao cấp

Thứ hai - 18/03/2013 10:01
                                                                     
                                                                                          Nhà văn Nguyễn Hoàng Đức

PHÊ BÌNH BAO CẤP ẴM LẤY ĐƯỢC VÀ HÊ CHO XONG

  Nguyễn Hoàng Đức

Mới đây tôi  có đọc bài “Phê bình tấu hài trên báo Văn Nghệ” của Trần Mạnh Hảo, trước hết tôi cám ơn ông về sự tổng lược thông tin và một số ý kiến xác đáng của ông. Về việc đó, chúng ta thấy, báo Văn Nghệ cũng như Hội Nhà Văn đã tổ chức một bữa cơm văn nghệ đúng kiểu sân kho hợp tác, ra quân đồng loạt viết bài tập thể kiểu cơm tập đoàn. Trước hết là một loạt các người ẵm giải thơ được lên sân rồng bao cấp của trung ương, một khi phủ chủ tịch tiếp tổng thống nước ngoài, ông đại sứ hay cụ già quê mùa thì tất cả đều có nghĩa là đã được vào sân rồng để vua biết mặt chúa biết tên.
Nhưng có một điều khác, triết gia Hegel nói thế này: trong lâu đài có cả ông chủ lẫn đầy tớ, vậy thì làm sao phân biệt cái sang của chủ và cái kém cỏi của đầy tớ? Trả lời: ông chủ là người tự do sử dụng lâu đài. Còn đầy tớ là kẻ không thể sử dụng lâu đài theo ý mình. Tài xế và ông chủ đi cùng một chiếc xe sang trọng cũng vậy, ông chủ khác ở chỗ muốn đi chỗ này hay rẽ chỗ kia thì đều được, còn tài xế không thể sử dụng xe theo ý mình.
Báo Văn Nghệ xứng đáng là sân rồng trung ương, nhưng vào tay mấy anh tiểu nông thì chỉ thành cái sân gạch phơi sắn phơi ngô, bao nhiêu năm vẫn chỉ loay hoay phơi rinh rích toàn thơ lè tè cảm tính, tư tưởng cô lại chắc không đủ đầy hai bàn tay, đến như đại ca Thanh Thảo đúc rút cả đời tinh hoa vẫn chỉ là Trường ca chân đất, rồi Trần Quang Quí với “Mầu tự do của đất”, nghĩa là thứ tự do không có được hơi thở của giấc ngủ thụ động lười nhác mà chỉ là mầu đất người ta muốn vứt lên đó cái gì cũng được.
Trong bài này, tôi sẽ cố tình không nhắc đến tên những người viết, bởi tôi chỉ coi họ cũng như phần lớn HNV là những cán bộ quản lý học đòi viết văn bằng cảm xúc mà chưa hề có độ chuyên nghiệp của mỹ học hay lao động nghệ thuật. Đây không phải câu nói xấu vu vơ hàm hồ mà căn cứ trên toàn thể những gì thực chứng. Ở đời, người ta xem quả biết cây, những cán bộ này đã ra quả gì ngoài mấy bài thơ sinh hoạt? Xem chim thấy cánh, xem cá thấy vây, xem cái u của con lạc đà biết nó là loài vượt sa mạc. Trong văn học khi đọc Iliad và Odyssey người ta thấy thế giới thần thần thánh ngự trên đỉnh Ô-lanh-pơ, nhìn Icar gắn cánh bằng sáp bay người ta thấy khát vọng đòi siêu việt của con người. Vậy thì nhìn đại ca bác Năm Trì gãi háng, “sau lưng có một vài thằng con con” ca tụng, thử hỏi ta có hiểu họ là ai với tầm vóc thế nào?!
Có một phương ngôn bất khả cưỡng rằng: “Người nào nhận biết lẽ công chính thì mới là thước đo vạn vật”. Anh phải là thước thì anh đo dù cái gì ngắn dài cũng theo thước, còn nếu anh đo áng chừng bằng gang tay, rồi “cong ăn cong, thẳng ăn thẳng”, mang đậm tuy duy tiểu nông “phép vua thua lệ làng”, cứ ai là cánh hẩu của mình một gang đo thành một đòn gánh, còn ai không thuộc đồng hương của mình dài vài mét cũng chỉ là đầu ngón tay, rồi đem cái áng chừng văn học bụng đó đòi hẩy vàng ra, đem khoai sẵn phơi sẵn trong sân vào ẵm giải, rồi nói dù đây là khoai sắn những mang dòng máu quê hương – đất mẹ quê nhà ấm êm dịu ngọt yêu thương. Tất nhiên cái hương vị quê nhà đó cũng là quê mùa “dân gian” như người Việt đã từng bóc mẽ vui vẻ “đã dân thì gian”. Nhớ lại, việc Thanh Thảo, Phạm Đương, Văn Chinh cậy nhờ vào một comment không dấu, không tên, không rõ ràng mạch lạc, với trí tuệ không phân biệt nổi hai cái tên khác nhau định ù xọe ngụy biện, đủ thấy trí tuệ của mấy ông nghèo nàn rớt mồng tơi đến thế nào! Hôm nay tôi muốn phân tích cụ thể vào thơ của TT và PĐ, dựa trên những tiêu chí rõ ràng nhất:
1- Về Trường ca chân đất của Thanh Thảo, với đoạn được NCH trích dẫn, tôi xin trước hết bàn vào từng câu một:
                         bác Năm Trì tàng tàng tàng
“bác Năm Trì” là một đại từ ngôi thứ ba số ít, không có gì lạ, như cô Lý, cô Xoan,, hay bà Lý Toét. Ba chữ “tàng tàng tàng” có nâng cấp một tẹo gợi cho người ta nhịp điệu kiểu nói lặp từ hay ca khúc.
                         bác Năm Trì dân Quảng Ngãi
Câu này chẳng có gì lạ, là thông tin cấp một như kiểu ông Tổng Phệ hay bà Lý Toét quê Nam Định
                         đêm láng lênh bác ngồi gãi háng
“đêm láng lênh”, coi như được tính điểm vì khác cách nói thường. Còn “bác ngồi gãi háng” thì đó là xú học, thua hẳn câu của Thanh Tre “đêm âm u, nàng ngồi soi mu”. Chữ “gãi” chỉ là bản năng của những con vật, nhưng chữ “soi” là bản nhãn của trí tuệ và bắt đầu mở màn cho nghiên cứu cơ thể học.
                         trăng hạ tuần
Trạng từ chỉ thời gian bình thường
                         nhớ lung mung
Có một tí sáng tạo ở đây từ chữ thường dùng “lung tung” chuyển sang “lung mung”.
                         hình như tổ tiên mình có cái chén mẻ
                         gửi đâu đó bên dưới đế tháp Chàm
                         những ngọn tháp chỉ còn trong ký ức
Ba câu cuối là một sự nghèo nàn tuyệt đối, tổ tiên có cái bát mẻ mà cũng chỉ là nghi vấn “hình như”, được chôn dưới tháp Chàm nhưng lại chỉ còn trong ký ức. Nghĩa là người ta nghèo nàn đến mức cái bát mẻ không có mà ăn, giờ dấu tích khoe khoang nó chỉ là bốc phét vì chẳng còn bằng chứng nào. Tại sao Thanh Thảo lại nghèo nàn đến thế? Không phải dại đâu! Đó chính là cái võ mậu dịch thường trực đấy. Trước đây, trong cơ quan, thường có châm ngôn “mặt trình bày hoàn cảnh”. Nghĩa là trong chế độ xin cho, người ta luôn thường trực một bộ mặt rầu rĩ trình bày hoàn cảnh, rằng gia đình tôi khó khăn lắm mẹ già con thơ cho tôi xin trợ cấp thêm hoặc vài ngày phép. Mở rộng ra, đám ăn mày kiểu “Cái Bang”, muốn ăn xin thì phải xé áo tả tơi, lăn lê cát bụi thì mới xin được chứ. Mở rộng hơn, đám gái điếm trong các thanh lâu bao giờ cũng có trích ngang trình bày hoàn cảnh, nào bố em mất, mẹ em yếu, thế là em cực chẳng đã phải “mồm muốn ăn sáng thì háng phải ăn sương” (chữ háng ở đây hay hơn chữ háng của Thanh Thảo 100 lần, vì đó là cái háng có mục đích và đang được đem ra biện hộ), rồi nàng quay đi giấu một nụ cười khi thấy hiệp sĩ đã sờ tay vào ví. Thanh Thảo cũng không thể là ngoại lệ khi muốn dở bài “khổ nhục kế” để xin-cho. Nào hãy cho tôi được giải, cho tôi giữ ghế, cho tôi được trì hoãn về hưu, thơ là người mà, hãy đọc thơ để hiểu tôi và quê hương tôi. Thanh Thảo sẽ còn có cơ hội với cả dân xứ Quảng. Ơ kìa xứ Quảng ơi, có phải tôi đã có đề từ là tặng dân xứ Quảng, rồi bên trong tôi đã cố gán ghép một nhân vật không có hành động là bác Năm Trì quê Quảng Ngãi, có phải vậy là tôi đã trình bày hoàn cảnh cho cả xứ ta không? Mọi người không xin thì ai biết đường mà cho!
Đây cũng là thứ trí khôn cán bộ “sáng cắp ô đi tối cắp ô về”, rồi cấu bè kết phái thì thầm nhỏ to cũng chỉ có bấy nhiêu thứ, ghế, giải, vào sân rồng phơi thơ khoai sắn, đánh chặn không cho đứa khác vào. Vào càng ít càng tốt! Càng đỡ lo! Vì thế mà mới có cảnh chỉ thấy thơ văn của mấy ông bà già nán lại không chịu về hưu! Mà cũng lấy làm đắc chí ta khôn ngoan. Đúng là cách tiểu nông đắc chí!
2- Về tập thơ “Giờ thứ 25” của Phạm Đương
Napoleon nói “Quá bao dung với tội lỗi là đồng tình với nó”. Nhưng đây không phải là bao dung nữa, mà sự làm ngơ, thậm chí ca tụng sản phẩm ăn cắp sờ sờ và giành giành. Một thiên thạch rơi xuống đồng quê, ta không thể cho rằng thiên thạch đó do đất đồi tạo ra. Một con chíp siêu điện tử lạc vào rổ rau của người trồng rau ta không thể nghĩ rằng, người trồng rau đó sản xuất ra con chíp điện tử. Cái tư duy đầu đường của Phạm Đương coi “Đếch” là ngọc tung vào thơ, ta không thể mặc định cho rằng “giờ thứ 25” là của Phạm Đương. Người đời đã dạy, “y phục xứng kỳ đức” hoặc “đóng gói phải hợp với bao bì”, cái bao bì kỳ vĩ như vậy sao có thể mặc nhiên đóng gói cho mấy câu thơ lẩm cẩm của PĐ?
Một kẻ ăn cắp thường không thấy kẻ ăn cắp là phạm tội! Một kẻ muốn bao dung cho kẻ cắp là vì hắn muốn “dễ người dễ ta”, đến khi tôi bị phát hiện ra là ăn cắp mong mọi người miễn thứ cho. Tôi đề nghị từ nay ai muốn khen thơ của PĐ thì tùy, nhưng trước khi đó phải trả lại tên gọi cho chính chủ, còn sau đó các vị muốn ca tụng thế nào cũng được.
Có một câu chuyện  Tiếu Lâm thế này. Anh chàng kia đần độn lắm, nhưng nó lú có chú nó khôn, ông chú nó bảo: “yên tâm tao sẽ cho mày lấy vợ quan”. Ông ta liền đi bắt mối cho cháu mình với nhà quan.
Quan bảo: – Thằng cháu ông đần thế làm sao đòi lấy cành vàng lá ngọc nhà tôi?
Ông chú:- Đần thế nào, bề ngoài nó thế nhưng cái gì cũng biết đấy, thông kim bác cổ.
Quan: – Thế thì ông phải để tôi thử!
Chú: -Xin mời!
Ông chú về dặn cháu, “mày đến nhà lão quan, chỉ nói đúng một chữ rồi về”. Anh đần đến nhà quan. Quan dẫn lại bàn thờ, chỉ bức hoành phi, chữ nghĩa thì anh biết gì bèn đứng đần mặt ra, quan giục, nhớ lời chú chỉ nói một câu anh liền văng “Con cặc!” rồi bỏ về.
Quan tức lắm liền tìm gặp ông chú: – Ông bảo nó thông thái mà đứng trước bàn thờ nhà tôi nó văng “con cặc” ra, như vậy có đốn mạt không?
Chú vỗ đùi: – Trời ơi sao thằng cháu tôi lại khôn và thâm thúy đến vậy!
Quan: – Khôn chỗ nào?
Chú: – Đứng trước bàn thờ nhà ông, tức là đứng trước tổ tông, nối dõi tông đường. Để làm việc đó phi con cặc ra thì ai làm được!
Quan: – Ừ nhỉ, cháu ông giỏi quá! Tôi sẽ gả con gái liền.
Phê bình tán là vậy, tán xuôi tán ngược người có ít chữ thì đều có thể tán, chính thế mà người Trung Quốc dạy, hãy đề phòng kẻ trí, có trí thì hay trá. Đặc biệt mấy anh cán bộ tiểu nông khôn vặt rất hay giở võ ma lanh trí trá. Giờ chúng ta thử nghĩ về một kịch bản hoàn toàn có thẻ xảy ra.
-         Các anh năm nay vào đợt xét giải đấy!
-         Phải thế chứ! Chẳng lẽ giải của các ông chỉ loanh quanh Vĩnh Phú, quân đội, rồi Sơn Tây, Hà Tây mãi sao?
-         Anh nói thế không được, năm trước chúng tôi chẳng trao cho một đàn bà con gái ở tận miền Trung sao?
-         Đàn bà là một cơ số khác, thiếu gì thằng đàn ông đã cho đàn bà ăn giải chỉ vì đã ăn vốn tự có của nó! Ông có muốn tôi kể tên ra không, kể luôn cả tên thằng làm thơ hộ nó…
-         Thôi, thôi… thì anh được sắp ẵm giải lần này rồi còn gì nữa! Sống nên biết điều, mình ăn thì cũng phải có chỗ cho người khác ăn.
-         Chúng tôi có mấy xuất?
-         Hai xuất được chưa?
-         Tôi và ai?
-         Đệ tử ruột của anh luôn!
-         Tôi sợ thằng ấy thơ hơi kém! Cái tên tập thơ ấy nó lại ăn cắp của người khác!
-         Ôi dào nước ta ai người ta bắt bẻ việc đạo văn, lại chỉ có mỗi một đầu đề.
-         Bạn đọc đã vậy, nhưng ban giám khảo thì sao?
-         Ban giám khảo mình thì cũng toàn là nông-binh, như anh và tôi vậy, toàn đọc tập thơ mỏng như kiến, có mấy khi đọc sách có gáy mà biết được.
-         Ừ nhỉ! Nhưng thơ thằng này mới học đòi cũng dở lắm!
-         Anh trao giải hay tôi? Anh cứ bảo nó gửi thơ lên. Lên chức được, thành tích được là do báo cáo chứ đâu phải việc làm. Anh cứ bảo nó gửi lên, tôi sẽ sai mấy đứa long tong bình cho ra cái hay thì thôi. Anh biết chuyện bình “con cặc” chưa?
-         Chưa!
-         Đấy cái chuyện người ta vẫn kể đó, con cặc còn bình ra tổ tiên nữa là cái khác!
-         Nhưng thơ của tôi và thằng này có cả cứt và đếch?
-         Không sao, khoai sắn phơi ở đây mà chúng tôi còn tán đó là rượu nút lá chuối của tổ tiên đang lên hương thì ngại gì cứt và đếch?!

Bài đã dài, để gạn đục khơi trong não trạng cán bộ nhạt nhẽo của văn học mậu dịch thì còn rất dài. Hẹn bà con một dịp rất gần đây, sau khi tôi đã xả hơi chút đỉnh. Cám ơn nhiều!
NHĐ   16/03/2013
Tác giả gửi cho NTT blog

Share this:

Like this:

Posted in Báo chí | Thẻ: Nguyễn Hoàng Đức
 

Trả lời

  1. Quá siêu! Xin bái phục, bái phục Nguyễn Hoàng Đức!
    “…đám ăn mày kiểu “Cái Bang”, muốn ăn xin thì phải xé áo tả tơi, lăn lê cát bụi thì mới xin được chứ. Mở rộng hơn, đám gái điếm trong các thanh lâu bao giờ cũng có trích ngang trình bày hoàn cảnh, nào bố em mất, mẹ em yếu, thế là em cực chẳng đã phải “mồm muốn ăn sáng thì háng phải ăn sương” (chữ háng ở đây hay hơn chữ háng của Thanh Thảo 100 lần, vì đó là cái háng có mục đích và đang được đem ra biện hộ), rồi nàng quay đi giấu một nụ cười khi thấy hiệp sĩ đã sờ tay vào ví. Thanh Thảo cũng không thể là ngoại lệ khi muốn dở bài “khổ nhục kế” để xin-cho. Nào hãy cho tôi được giải, cho tôi giữ ghế, cho tôi được trì hoãn về hưu, thơ là người mà, hãy đọc thơ để hiểu tôi và quê hương tôi.”
    Chuyện “mồm muốn ăn sáng thì háng phải ăn sương” của thày trò Thanh Thảo Phạm Đương:
    Ban giám khảo, BCH:– Ông bảo thằng Đương nó thông thái mà đứng trước bàn thờ nhà tôi nó văng “con cặc” ra, như vậy có đốn mạt không?
    Thanh Thảo: – Đứng trước bàn thờ nhà ông, tức là đứng trước tổ tông, nối dõi tông đường. Để làm việc đó phi con cặc ra thì ai làm được!

    BGK & BCH : – Ừ nhỉ, Phạm Đương cháu ông giỏi quá! Tôi sẽ gắp cho cái giải liền.”
    Đại Cồ Việt: Vải thưa Thanh Thảo làm sao che mắt các vì thánh Nguyễn Hoàng Đức, Trần Mạnh Hảo…Cái nhục này do thày trò Thảo Đương và BGK, BCH Hội Nhà văn tạo ra, có thể nói lên hàng đại ô nhục! Vô tiền khoáng hậu, xưa nay chưa thấy bao giờ!

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

Trò chơi huỷ diệt cảm xúc - một thành công của Y Ban...

Trò chơi huỷ diệt cám xúc - Một tác phẩm viết về thân phận phụ nữ



                        
                                                  Nhà văn Y Ban

TRÒ CHƠI HUỶ DIỆT CẢM XÚC - PHẢN ÁNH THÂN PHẬN PHỤ NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI MỘT CÁCH XUẤT SẮC
 
Đỗ Hoàng
 
Nhà văn Y Ban nổi tiếng trên văn đàn với tác phẩm Bức thư gửi mẹ Âu CơI am đàn bà trước đây trên dười hai thập kỷ. Lần này chị cho ra mắt cuồn sách mới viết về thân phận người phụ nữ Việt Nam đương đại.- Trò chơi huỷ diệt cảm xúc. Đây là, cuốn tiểu thuyết thứ ba và cuốn sách thứ 15 của tác giả. Y Ban là nhà văn nữ hàng đầu viết về vấn đề nóng hổi thời đại - thân phận bầm dập của phụ nữ Việt Nam hôm nay.
Thể chế nào, thời đại nào người phụ nữ có mặt trên cõi đời này đều khốn khổ. Ngay cả con gái vua chúa cũng khổ. Tiền nhân đã viết: Nhân sinh nữ tử thị tối khổ (Ở trên đời con gái là tột cùng khổ - Đời con gái khổ tận cùng/ Bùn đen bầm dập, cái cùn (1) xác xơ ) - quần. Họ khổ đến mức như nhiều người đã viết là họ không biết khổ nữa, họ cũng không biết sướng là gì. Cho họ sướng họ cũng không sướng được! Có nhiều quốc gia bạo tàn, đàn bà con gái là hàng hoá, là đồ chơi của đàn ông!
Đất nước Việt Nam bốn nghìn năm máu lửa, bốn nghìn năm chiến tranh xương khô cốt tàn thì người phụ nữ Việt Nam khốn khổ vào loại đứng nhất thế giới:
Xương trắng phơi lối ra tiền tuyến
Mổ gái tơ diều liệng, chồn giay
Lớp này rồi lớp khác thay
Màu cờ lau trắng rợn lay sa trường!
(Lính gái - Tâm sự người lính - Đỗ Hoàng - 1973)
Chị em hợp tác, hợp te
Không có mảnh vải mà che cái lồn!
(Ca dao mới)
Họ cơ cực khốn cùng trong chiến tranh, họ xác xơ trong lao động, họ quằn quại rên xiết trong hoạt động sinh tồn nòi giống:
Đang khi đỏ lửa cơm sôi
Lợn kêu con khóc chồng đòi tòm tem
(Ca dao)
Cái tòm tem - Cái truyền giống, cái cực khoái con vật nó còn tận hưởng được nhưng người phụ nữ đương đại trong Trò chơi huỷ diệt cảm xúc là một cực hình là án oan nghi vấn mà anh chồng treo lên trên cổ vợ. Khi làm tình ả lên cơn sướng, muốn thể hiện lòng yêu chồng, ả kêu lên: anh ơi, thì ông chồng nghi ngờ ngay. Vì sao không gọi giời ơi như thường ngày mà gọi anh ơi? Chắc là con vợ ngoại tình với thằng nào mới kêu tên anh ơi như vậy! Ông chồng luôn ngoại tình nên ông mới biết khi đạt cực khoái hay kêu tên tình nhân để lên nhanh điểm đỉnh nên mới nghi oan cho vợ.
Cái khác người nữa là khi ngủ với chồng, ả không gọi tên chồng mà ả gọi giời ơi. Ôi giời ơi. Ơ ơ ơ ơi.... nhiều lúc cùng với tiếng rên rỉ. Chồng ả rất khoái cái việc ả rên rỉ gọi Giời. Thì cũng đúng thôi. Khi con người ta cầu xin điều gì thì hay lạy trời. Hôm áy đang trên một đỉnh ả rên rỉ giời ơi, chồng ả cho lên tiếp đỉnh thứ hai. Vuốt ve tấm lưng chồng, ả bám chặt vào vai, bỗng lên cơn thương chồng ả gọi anh ơi. Chồng ả đang hăng hái bỗng nhiên chùng xuống, kết thúc. Sau cơn thở dồn dập chồng hỏi:
- Nhớ đến thằng nào mà gọi anh ơi như vậy?
- Nhớ cái thằng đang nằm trên ấy. Bao nhiêu năm rồi không được gọi tiếng anh ơi cho ngọt.
- Mày có vấn đề rồi đấy. Anh nào?
(Trang 18 - 2 dưới lên; trang 19 - 1 trên xuống - Trò chơi huỷ diệt cảm xúc)
Trơ trẽn, tẽn tò, xấu hổ không khác gì người đàn bà trung tuổi trong Trăm năm cô đơn của Maz quezt muốn được ra đồng hoang làm tình để hét to lên một tiếng như bò rống cho đã cơn cực khoái lúc lên đỉnh.
Khi đô thị về làng, đất chuyển đổi làm dự án, gia đình có tí tiền thì thằng chồng sinh hư, rượu chè, cờ bạc. Người vợ trong lúc bột phát giết người phải vào vòng lao lý. Tiền của lại đội nón ra đi. Người phụ nữ khổ lai hoàn khổ!
Mây - Trang 52)
Tao giết chồng mày rồi. Mày mang hai đứa con này về nhà mẹ tao nhờ ông bà nuôi hộ. Tao đi tù đây.
(Trang 60 - 4 - dưới lên - Sách đã dẫn)
Những cô gài trẻ hơn thân phận cũng chẳng sáng sủa gì so với những người phụ nữ lớn tuổi. Khi mại dâm trá hình về làng thì họ là loài bò lạc được cả ông Tây, ông Tàu mê mẫn. Rồi thì tâm hồn tan nát, thân thể bầm dập, căn bệnh thế kỷ HIV, si da chẳng tha họ bao giờ. Nòi giống Việt đi về đâu?
- Làng em có nhiều người bạn làm như em không?
- Cũng nhiều đấy chị ạ.
- Em được trả nhiều tiền không?
- Một lần như thế được một trăm nghìn đồng.
(Nước - trang 77 - 4 - trên về - Sách đã dẫn)
Thân phận phụ nữ trong Trò chơi huỷ diệt cảm xúc còn quằn quại vì cái đám đông nữa.
Cái đám đông số không ấy, đám chúng khẩu đồng từ (cả đám đồng hô lên một tiếng là chết hết) cái đám đông vô sản lưu manh vô cùng nguy hiểm mà các thế lực bạo tàn thường sử dụng nó như một diệu sách.
Đám đông giải tán. Kỳ lạ, những đám đông này rất ít đàn bà. Những người đàn bà đang còn mãi làm việc.
(Đám đông - Trang 65 - 2 - dưới lên- Sách đã dẫn)
Và người đầu tiên chết dưới cái lưỡi dao oan nghiệt của đám đông vô sản lưu manh lại chính là người phụ nữ.
Người phụ nữ công chức trong Trò chơ huỷ diệt cảm xúc còn chịu một khổ hình nữa là bị áp lực công việc, bị đàn áp của cấp trên, bị trù úm bị vụ cáo một cách trắng trợn nếu không được lòng thủ trưởng, không đáp ứng yêu cầu vật chất hoặc yêu cầu tình dục của thủ trưởng.
Trong thể chế đảng chủ của ta, từ hiệu phó mầm non trở lên cũng phải đảng viên thì phụ nữ, con gái tơ, người đẹp là những nạn nhân vô cũng tang thương. Có nhiều thủ trưởng yêu râu xanh từ cấp thấp lên cấp cao đã ngủ hết đàn bà trong cơ quan như một con dê đực canh cửa chuồng mỗi sáng khi dê cái ra chuồng. Không cho ngủ không được. Có người vì lên lương, vì chức vụ, vì đi nước ngoài, vì trăm thứ mà phải hiến dâng miễn phí cho thủ trưởng. Ngủ là một tai nạn đã đành, có thủ trưởng còn muốn nhân viên nữ đẻ con với mình nữa. Chị em hôm nay chẳng khác gì ông bà họ ngày xưa:
Đẻ ra đứa con chẳng biết nó giống ai
Cái đầu thì giống ông xã, cái tai thì giống ông trùm
(Ca dao)
Đẻ ra đứa con là biết nó giống ai
Cái đầu của Bí thư, Chủ tịch, còn cái rái khoai của ông Đảng, đoàn
(Ca dao mới)
Linh trong Trò chơi huỷ diệt cảm xúc cứng rắn, cương quyết không dại dột nằm ngã ra cho thủ trưởng xài, thủ trưởng không được xơ múi gì nên quay ra trả thù. Cách hay làm là vu oan giá hoạ, vu cáo, đuổi việc, đưa ra khỏi cơ quan:
Thủ trưởng cướp lời thủ phó. Cô Linh là người ăn cháo đá bát.Bài bạn tôi đưa cô không cho đăng, bài của tôi viết cô tự cắt xén...Chữ của tôi là chữ vàng, chữ ngọc.Tôi đưa cô lên Trưởng Ban...
(Kiêu căng tự phụ, vô pháp, vô thiên - trang 87 - 8 trên xuống - Sách đã dẫn)
Nỗi niềm ấy của Linh và của nhiều người phụ nữ khác biết bày giải với ai.
Bức thư những đắn đo muốn viết
Viết cho ai, ai biết mà đưa
(Dương Khuê)
Đông liêu nghe thủ trưởng xa lánh, người chồng ham các mẩu vật khảo cổ học, con thì bé dại, bày giải với ai đây?
May thay có trò chơi trực tuyến đã lập trình sẵn, cô Kim, (tên ních nhân vật) dã gặp được người tình ảo tri âm tri kỷ trên mạng để bày giải nỗi niềm để nói hết thân phận người phụ nữ hiện đại Việt Nam đầy bản lĩnh thông minh và cũng chịu nhiều truân chuyên, bất hạnh.
Như chúng ta đã biết, trước đây Lan Khai viết tiểu thuyết tả thực Lầm Than bị phong kiến và thực dân Pháp dánh cho lên bờ xuống ruống. Sau đó Lan Khai phải quay về viết tiểu thuyết lịch sử Việt Nam người đi về đâu. Các nhà văn Việt Nam hiện đại như Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải và mọt vài tác giả nhỏ nữa cũng tìm viết đề tài lịch sử cho an toàn tính mạng. Viết đề tài lịch sử tha hồ chưởi vua quan độc ác, chưởi lý trưởng chánh tổng hiếp dâm, thật đã đời, thật sướng mồm. Rồi lại được giải thưởng văn chương, lại có danh vị.
Nhà văn Y Ban thừa sức làm đều đó. Nhưng chị không né tránh hiện thực,từ Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, I am đàn bà đến Trò chơi huỷ diệt cảm xúc chị xông thẳng vào vẫn đề nòng hổi của thờ đại "Giải phong phụ nữ là giải phóng cả thế giới" chị viết về thân phận phụ nữ đương đại của dân tộc mình. Y Ban dấn thân vì nghệ thuật. Văn chương tuyên truyền (văn chương mậu dịch - từ hiện đại) và văn chương phù phiếm không quyến rũ được chị. Y Ban biết xa lánh chúng.
Nghệ thuật lần bước giữa hai vực thẳm, một bên là chương tuyên truyên, một bên là văn chương phù phiếm. Trên đỉnh cheo leo là con đường đi của nghệ sỹ, mỗi bước tiến là cả một cuộc phiêu lưu, một cuộc mạo hiểm cực độ. Nhưng quyền tự do nghệ thuật ở trong sự mạo hiểm đó và chỉ ở trong đó thôi.ầi dấn thân người ấy thành công!
(Sứ mệnh văn nghệ - Cammuy)
Và Y Ban cũng đã thành công!
Về nghệ thuật Trò chơi huỷ diệt cảm xúc là cuốn tiểu thuyết có bố cục rất mới, không lặp lại hình thức cuốn sách nào. Văn phong của Y Ban ngắn gọn súc tích, mạnh mẽ, hóm hỉnh - amus, âm vang có độ truyền cảm lớn.
Ả là người đàn bà thoả mãn. Thì đó cũng là một bề. Ả không là người chủ động. Ả hưởng thụ và có sự hợp tác mềm dẻo. Ngày trước khi kinh tế nhà ả còn khó khắn, cái giường hay kêu cót két thì ả nằm trên nền đất...Khi kinh tế khá rồi ả tự thưởng cho mình hắn một chiếc sập gụ. Chiếc sắp ả thửa đúng với khẩu chân của chồng. Để anh chàng vác bừa chạy qua núi không phải quá chật vật.
(Trang 18 - 2- trên xuống - Sách đã dẫn)
Đồi thoại của Y Ban rất tuyệt. Người ta nói viết truyện ngắn và viết tiểu thuyết khó nhất là đối thoại. ai viết hay là một bậc thầy.
- Nó tên gì?
- Trạch Văn Đoành.
- Tên gì như súng bắn liên thanh vậy.
...
Nghề gì?
- Lang
- Lang thang!
(Truyện ngắn Nam Cao)
- Nhớ đến thằng nào mà gọi anh ơi vậy?
- Nhớ cái thằng đang nằm trên ấy. Bao nhiêu năm rồi không được gọi tiếng anh cho ngọt.
- Mày có vấn đề rồi đấy. Anh nào?
- Anh là mày, là giời. Giời của tao.
(Một người đàn bà - 9 - trên xuống - trang 19 - Sách đã dẫn - Y Ban)
 
hay:
- Có chuyện gì vậy?
- Có vẫn đề . Sao rắm lại to thế?
- Rắm à? Rắm gì? Rắm nào?
- Rắm rít chứ rắm nào?
(Trang 63 - 1 - trên xuống - Sách đã dẫn - Y Ban)
Đối thoại thật là tài.
Trò chơi huỷ diệt cảm xúc của nhà văn Y Ban là một tác phẩm văn học tiêu biểu không chỉ của năm 2012 mà cả những năm của thập kỷ đầu XXI này.
Hà Nội, ngày 15 - 3 - 2013
Đ - H
 

Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

Phi nhân vật bất thành văn học

PHI NHÂN VẬT BẤT THÀNH VĂN HỌC

Nguyễn Hoàng Đức
 .
Nếu không có con người chắc hẳn không có xã hội và thế giới. Vậy con người (chí ít về mặt nhân văn) phải được sinh ra từ Đấng sáng tạo! Và theo đó, không có nhân vật thì chắc chắn  cũng không thể có tác phẩm văn – thơ! Đấng sáng tạo sinh ra vũ trụ càn khôn cùng con người làm chủ tể muôn loài. Nếu không có các nhân vật như con người, các loài động thực vật, thì chắc hẳn vũ trụ chỉ là một tinh cầu hoang phế không có gì để nói! Và cũng vậy, nhà văn, nhà thơ nếu không có thể trở thành “đấng sáng tạo” cho tác phẩm của mình, nghĩa là tạo ra các nhân vật thì chắc hẳn tác phẩm chỉ còn là thứ thế giới vô nghĩa, ất ơ, hò xướng vớ vẩn.
Ngay từ trong nôi, những đứa trẻ của mọi dân tộc đã được nghe tiếng ru hay lời kể chuyện về một ông tiên hay mụ phù thủy nào đó, ngay cả việc có một đồng xu hay một gói quà nhỏ bỏ vào chiếc giầy bé xíu của bé đêm Nô-en, cũng phải là những nhân vật như ông già tuyết cưỡi xe lộc tuần kéo đến bỏ vào đó. Trẻ con dù trí tuệ yếu ớt, nhưng chúng cũng chỉ có thể tin được vào một sự việc có chủ, tức một nhân vật nào đã làm điều gì đó dù thiện hay ác. Đấy cũng là thứ tư duy căn bản của triết học, khi cho rằng mọi thứ sinh ra không thể từ hư vô. Người Trung Quốc còn nói “oan có đầu, nợ có chủ”. Làm sao có món nợ nào từ trên trời rớt xuống nếu không do người này đã từng mượn của người kia, càng không thể có tội ác tự nhiên mọc mầm, mà là giết vua giết cha không thể xảy ra trong một sớm một chiều, mà chúng phải được tích lũy bằng dồn nén cũng như âm mưu từ lâu.
Cách tự nhiên, một đứa trẻ sinh ra đã muốn nghe chuyện, và không gì khác ngoài chuyện có thể quyến rũ được nó, ngay khi bà và mẹ hát ru cũng phải có chuyện, chứ không thể hát xuông, và chuyện cũng chính là cách tốt nhất để giáo dục nhập tâm cho trẻ. Một lời ru bình thường cũng phải có chuyện như:
             Con cò, con vạc, con nông
             Sao mày là mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò
             Không không tôi đứng trên bờ
             Mẹ con nhà vạc đổi ngờ đổi ngờ cho tôi
             Không tin ông ra mà xem
Lời hát ru trên reo vào lòng đứa trẻ biết bao nhiêu giá trị ngay tức thời không thể lý giải. Trước hết là có mấy nhân vật: cò, vạc, nông. Và chúng đã phạm lỗi khi dẫm lúa nhà ta ( mặc nhiên là nhà của đứa bé ), ở đó khung cảnh cũng được mở ra, với ruộng lúa và trên bờ, và có một tinh thần bên trong rất trí tuệ, đó là “không tin ông ra mà xem”.  “Xem” là động từ thực chứng bằng mắt, lời ru đó đã gieo vào đầu đứa trẻ: muốn chứng tỏ mọi sự hàm oan ở đời thì cần phải trực tiếp nhìn. Nhưng lần ngược lời ru, đó là một tình cảm đầy đối thoại và bổn phận. Cái cò, cái vạc, cái nông kia, nó là chim trời, nhún chân một cái bay đi, sợ gì ai, vậy mà vừa bị đổ lỗi, nó đã thanh minh “tôi đứng trên bờ”… Điều này đã truyền dẫn cho trẻ nhỏ một tình cảm và ý thức rằng, trên cánh đồng của chúng ta, mọi việc sẽ bị phơi bày và phải chịu trách nhiệm, từ sự phạm lỗi, đến đổ tội, hay thanh minh, hoặc đòi thực chứng, thì sẽ phải diễn ra như kịch bản của lời hát ru.
Có một phương ngôn vĩ đại rằng: “Con người không có quá khứ chẳng khác nào quốc gia không có lịch sử”. Đúng vậy, quốc gia không có lịch sử sao gọi là quốc gia! Một con người chưa có quà “sú-vơ-nia” (souvenir) theo tiếng Pháp nghĩa là “đã từng đến” thì làm sao gọi là con người. Cái chính yếu của lịch sử là “Biên niên sử”, “niên” tức là Năm, cũng có nghĩa, lịch sử quốc gia chủ yếu được ghi theo Niên đại. Lịch sử theo gốc chữ Latin là “Histoire”, tiếng Anh viết là “history”. Lịch sử dịch nghĩa đen, cũng có nghĩa là “câu chuyện”. Chẳng hạn nhân vật chiếc bàn của văn học có thể kể: xưa kia tôi sinh ra từ một thân cây, rồi người tiều phu đẵn cây, người thợ xẻ cắt gỗ, người thợ mộc đóng bàn… “câu chuyện về chiếc bàn” cũng được coi như “lịch sử về chiếc bàn”. Tiếng Anh (và tiếng Đức) có hai từ riêng biệt là: “story” – tức câu chuyện, và “history” – tức lịch sử. Nhưng trong tiếng Pháp, người ta không biệt giữa lịch sử và câu chuyện, cả hai đều được phản ánh qua từ “histoire”.
Không có ký ức không có con người! Không có lịch sử không thành quốc gia! Không có nhân vật sẽ không có khởi nguồn cho bất kể câu chuyện nào! Mà không có câu chuyện thì không cám dỗ nổi dù chỉ đứa trẻ con! Vậy thì lý giải thế nào về mấy trăm bài thơ không có cốt chuyện và nhân vật của Việt Nam? Chắc chắn đó là những thứ nhạt nhẽo thất bại ngay cái nhìn đầu tiên! Đó cũng là sự bất lực đại trà nhước thiểu của trí tuệ văn thơ Việt.
Không có nhân vật, tức không có những điểm vặn ốc hay giường cột cho tác phẩm. Những thứ nhẹ thõm như chiếc bánh đa chẳng hạn nó không cần xương cốt vì nó quá nhẹ, đến khi nướng lên nó cứng và tự chịu lực chính bản thân mình, nhưng chỉ cần một va chạm nhẹ nó vỡ tan tành! Chùa Một Cột kia chỉ to hơn manh chiếu mà người ta đã cần đến giường cột, và chiếc cột chịu lực cũng như những đòn ngang được thể hiện ngay dưới bệ đỡ của sàn.
Tại sao, hầu hết trường ca của Việt Nam, đặc biệt của mậu dịch không có cốt chuyện và nhân vật, vì thẳng thắn nói, các nhà thơ chẳng có gì để kể cả. Nhân vật thì phải có tư tưởng và hành động, ngay Trường ca chân đất của nhà thơ Thanh Thảo thuộc loại đàn anh đầu bảng của quốc doanh mậu dịch kia, cũng chỉ có lèo tèo bác Năm Trì ngồi gãi háng. Bác là một nhân vật gãi háng và văng tục, bác chẳng hành động gì như bám biển bám trời, hoặc tuyên ngôn một điều gì xứng đáng, bác chỉ có thể văng “đếch” vào những kỳ quan của loài người như Vạn Lý trường thành. Ở đời không khao khát cái vĩ đại làm sao có thể với tới hay làm ra cái vĩ đại? Vì thế bác năm Trì chỉ mãi mãi là chân đất mà thôi. Đã là trường ca thì cái tối thiểu phải có nhân vật (như trên đã bàn không có nhân vật không có thế giới), vậy mà người ta cứ nhồi nhét gán ghép bằng được để trao giải và tung hô nhau thì thật phi lý. Từ giờ, tôi xin mọi người hãy dứt khoát nhìn nhận: không có nhân vật thì không phải là trường ca. Nếu có gọi là trường ca và trao giải cho nhau thì chỉ là cách ăn gian trắng trợn.
Không có nhân vật, tức là cốt tủy yếu, như chiếc bánh đa tự chịu lực, không thể tạo thành tác phẩm lớn, chính thế mà một lãnh đạo văn chương đã thú nhận “trong ao không có cá to, chúng ta đành bắt tép”. Tép, tôm cũng là những thứ không có xương cốt, chúng lấy vỏ cứng để tạo ra độ lớn của mình, nhưng số phận lại bắt chúng phải gánh một định mệnh trớ trêu: đem cứt lên đầu làm cơ quan kiêu hãnh và tư duy.
Sự tiến bộ của loài người không cái nổi là thế này: những loại thân mềm có trước, sau đó mới là loài có xương sống. Chỉ khi có xương sống tức một cột trụ cứng dâng lên thì bộ não mới đích thực xuất hiện. Văn thơ Việt Nam, đặc biệt thơ mậu dịch còn ở trình độ thân mềm, chưa có hình bóng của tư duy, chưa có khung xương của lý trí, mới chỉ có tí nhũn nhẽo của cảm xúc lè tè, thì làm sao có thể vươn lên những đỉnh núi có kỳ hoa dị thảo? Xin trao đổi để mọi người cùng suy ngẫm. Cám ơn nhiều!
.

Kiểu phê bình tấu hài trên báo Văn nghệ

PHÊ BÌNH KIỂU TẤU HÀI TRÊN BÁO VĂN NGHỆ
Trần Mạnh Hảo

.
Trên báo Văn Nghệ hai số 7 và 8 / 2013 có in bốn bài viết ca ngợi ba tập thơ được giải và một tập phê bình được giải văn học của Hội nhà văn Việt Nam 2012: “QUAY VỀ LỜI NỀN TẢNG – Đọc “trường ca chân đất” của Thanh Thảo” của Nguyễn Chí Hoan, “Phạm Đương người đi trên dây” của Đặng Huy Giang, “Trần Quang Quý và sự ám ảnh hiện hữu” của Mai Vũ và “Mấy suy nghĩ cùng “Đa cực và điểm đến” viết về tập phê bình được giải của Nguyên An…
Nếu thày giao chấm điểm văn là bạn đọc ra bốn đề văn như sau:
“Em hãy phân tích và chứng minh “trường ca chân đất” của Thanh Thảo hay hay dở? Vì sao hay, vì sao dở”
Cũng đề này được ra cho ba tập tiếp: “Giờ thứ 25” của Phạm Đương, “Màu tự do của đất” của Trần Quang Qúy, “Đa cực và điểm đến” của Văn Chinh.
Qua bài viết, tức bài tập làm văn của các tác giả: Nguyễn Chí Hoan, Đặng Huy Giang, Nguyên An và Mai Vũ… không chứng minh được bốn tập này là tập hay, ngược lại nó vô tình (hay cố ý) đều cho rằng ba tập thơ và một tập phê bình này đều nhàn nhạt, vô bổ, nghĩa là thậm dở.
Nếu các vị này cố chứng minh các tập thơ trên hay thì độc giả là ông thầy chỉ có thể cho các vị điểm ngỗng (tức 2 điểm).
Xin trích một đoạn trong bài viết của Nguyễn Chí Hoan; ông này đã trích ra đoạn thơ bậy bạ, dở nhất, dễ dãi nhất, tầm phào nhất của “Trường ca chân đất” của Thanh Thảo để khen hết lời thơ Thanh Thảo hay tuyệt như sau:
“Nét riêng trong cái nhìn mà trường ca này khai triển là dựa trên sự nhấn mạnh cái vẻ thô mộc đó, dùng sự nhấn mạnh đó theo kiểu xây dựng các mô-típ trong mỹ nghệ dân gian; chẳng hạn như ở đoạn trích dưới đây.

bác Năm Trì tàng tàng tàng
bác Năm Trì dân Quảng Ngãi
đêm láng lênh bác ngồi gãi háng
trăng hạ tuần
nhớ lung mung
hình như tổ tiên mình có cái chén mẻ
gửi đâu đó bên dưới đế tháp Chàm
những ngọn tháp chỉ còn trong ký ức
Với nhịp điệu đan xen lối nói vần điệu dân dã tựa như “hát nói” và nhịp thơ tự do, đoạn thơ trên đây dựng lên ba hình ảnh: ông nông dân ngồi, ống quần rộng kéo quá đùi – mảnh trăng hạ tuần (xế/chếch) ngang đầu – nhìn sang ngang hình kỷ hà một ngọn tháp ước lệ làm nền cho hình đậm chiếc bát ăn cơm sứt mẻ; và chi tiết động tác “gãi háng” khiến thấy hình ông nông dân là một ảnh thực bên cụm ước lệ trăng-tháp có điểm nhấn bố cục là cái bát mẻ.
Tư thế và động tác trong hình ảnh này của nhân vật bác Năm Trì chính là điểm bộc lộ sự nhấn mạnh vào tính thô mộc của biểu đạt; và theo truyền thống, hình ảnh và động tác đó, như thể một vai hề gậy, biểu thị thái độ phản biện, phản kháng hay nhẹ nhất cũng là một cái cười mai mỉa, một lời chất vấn hay tự vấn. Và tính chất một mô-típ tạo hình ở đoạn thơ khiến có thể loại bỏ hoặc giới hạn phương diện “tục” trong cái “thô”, hay nói cách khác, là đưa cái “tục” với liều lượng được kiểm soát để biểu hiện sức phản kháng trước đau khổ bất bình, cũng là cái cười biểu thị hy vọng.”
(hết trích)
Nguyễn Chí Hoan đã chọn khổ thơ dễ dãi nhất, tầm phào bậy bạ nhất, dở nhất của Thanh Thảo để khen lên mây, dùng làm thí dụ cho “thi pháp gãi háng” thành trường thơ của “Trường ca chân đất”, đôn cái dở nhất thành hay nhất, tục tĩu nhất thành thanh tao nhất… để tha hồ tào lao xích bột, tán nhảm, bình càn, y như một kẻ không bình thường, hoặc một tay tấu hài hạng bét trong làng chọc cười, chọc quê…
Về việc này, vừa qua nhà thơ trẻ Thanh Tre, sau khi đọc bài bình có một không hai của Nguyễn Chí Hoan tâng bốc “Trường ca chân đất” của Thanh Thảo, đã gửi cho kẻ viết bài này đoạn thơ mô phỏng thơ “gãi háng” trên mà Thanh Tre thi sĩ cho là mình đã vượt qua thơ Thanh Thảo; xin trích thơ của tác giả Thanh Tre:
“Cô Sáu He cà lăm cà lăm cà lăm
Cô Sáu He quê Rạch Giá
Khuya trăng lu cô ngồi gãi mu
Sao Hôm mắc cỡ tắt ngúm
Cô vừa gãi mu vừa nhớ con chim cu
Thương bà cố nội cô có cái váy tổ đỉa
Chiếc váy còn phơ phất chiêm bao”

Trần Mạnh Hảo tôi xin mô phỏng lối bình thơ tấu hài của Nguyễn Chí Hoan mà bình đoạn thơ diễm lệ của thi sĩ Thanh Tre như sau:
“Từ “thi pháp gãi háng” tả thực của thi sĩ Thanh Thảo, thi sĩ Thanh Tre đã vượt qua cái bóng tiền bối mà nâng thơ lên thành “thi pháp gãi mu” hư ảo vô cùng, hàm súc dư ba. “Mu” của cô Sáu He so với “Háng của bác Năm Trì” sâu sắc và đa ngữ nghĩa hơn nhiều. Háng, nói cho cùng chỉ có nghĩa đen mà thiếu nghĩa bóng, chỉ có xác mà thiếu cái hồn. Háng của bác Năm Trì chợt biến thành chân tường của thi ca. Nhưng hình ảnh “Mu của cô Sáu He” thì vừa có không gian vừa có cả thời gian. Từ hình ảnh “Mu” thơ được mở ra không chỉ ba chiều ( ba góc = “chành ra ba góc dư còn thiếu- HXH”) , bốn chiều mà đa chiều, vô chiều khiến hồn người đọc cũng được hút vào thiên đường khoái lạc mà “mu” chính là cửa vào cực khoái thi ca. Hỏi có ai không bước ra từ cửa của cái mu này…? Mu là hình tượng cong đầy múp míp vòm trời. Các chân trời, các đụn cát, các vòm đồi, các đỉnh núi đều mô phỏng sự cong nẩy của mu cô Sáu He mà mơn mởn “tùm hum nóc” như thơ Hồ Xuân Hương…
Cám ơn thi sĩ Thanh Tre đã mang đến cho thi ca một “cái mu” thi pháp làm hầm trú ẩn cho thi ca muôn đời thập thò cua cáy nhân sinh. “Mu” trở thành vương miện của vương quốc sex mê ly kiếp người; “mu” chợt được thi sĩ Thanh Tre nâng lên thành triều thiên của thi ca tưởng thô tục mà cao sang vô tận. “Mu” không chỉ là thi pháp thơ mà còn là phạm trù thơ, hang hốc thơ, tiên thiên thơ, qủy cốc thơ…
Xin cám ơn “thi pháp gãi háng” của thi sĩ Thanh Thảo đã gợi cho thi sĩ Thanh Tre viết được câu thơ vĩ đại: “Khuya trăng lu cô ngồi gãi mu”. Thơ đang bay vùn vụt chợt đụng vào “háng” thì thơ dù đã học được phép xuyên tường cũng phải dừng lại, bởi vì sau háng là xương cứng như sắt mà thơ không thể gặm. Nhưng sau “Mu” thì quả là còn vô cùng thế giới, là thiên đường của thi ca, nơi thi ca lên đỉnh Vu Sơn khoái lạc chợt hét lên, rú lên niềm thú tính con người… Thơ, nói cho cùng phải đạt đến mức sướng muốn chết….”
Cứ đà bình kiểu Nguyễn Chí Hoan này, có thể xuất hiện một luận án tiến sĩ về thi pháp thơ ca: Thơ trong quá trình tiến hóa từ “thi pháp gãi háng” tả thực sang “thi pháp gãi mu” hư ảo… Nguyễn Chí Hoan, hiện là trưởng ban lý luận phê bình báo Văn Nghệ nếu làm luận án tiến sĩ về đề tài này chắc chắn sẽ được hội đồng giáo sư phản biện vỗ tay vang trời. Trần Mạnh Hảo xin biếu không ý tưởng này cho ông Hoan, chỉ xin một li café nâu nhuận bút mà thôi…
Chúng tôi xin trích một đoạn trong bài: “Phạm Đương người đi trên dây” của nhà thơ Đặng Huy Giang, bốc thơm tập thơ “Giờ thứ 25” (tên tập thơ ăn cắp tên của cuốn tiểu thuyết lừng danh thế giới của văn hào C. Gheorghiu) như sau:
“Ở đâu đó, ta bắt gặp một lối diễn đạt mạnh bạo: Từng cơn gió dại chưa tiêm phòng/ phập vào anh những dấu răng chí mạng (Gió dại); một cách diễn đạt cô đọng như châm ngôn: Không một nhà tù nào có thể nhốt được khát vọng/ không một xiềng xích nào có thể giam được cái ác (Hạt thóc và bom); một cách nói rất khác: Tôi bị chiều luộc chín từng khúc/ bằng chiếc nồi áp suất nhớ nhung (Khuya 1), tôi dát mỏng sự tử tế hiếm muộn của mình/ liền gặp ngay một cơn thịnh nộ/ đừng nhân danh lòng tốt, bạn ạ và đáng nói hơn là một cách nhìn khác.
Tiêu biểu cho cách nhìn khác được bộc lộ sinh động qua Lính đất Mũi. Đây là bài thơ độc đáo, mang nặng chất phát hiện của Phạm Đương:

Từ độ cao mười mét
những chiếc dù bung ra
rồi bám vào đất mà thở
rồi bám vào biển thành nhà

ở đây không cần khẩu lệnh
vẫn hàng ngang hàng dọc thẳng đều
cứ thấy bùn là tiến
nhìn triều xuống mà theo
giăng mắc ngang chiều những
sư đoàn binh đoàn
âm thầm cắm rễ
giăng mắc ngang trời nơi cửa sông
câu ca mở cõi

khoác trên vai những người lính nơi này
bộ quân phục phù sa
mang về từ châu thổ

phía trước mặt là bước chân mở đất
phía sau lưng là đôi tay giữ nước
trĩu nặng hai vai đất đai Tổ quốc

những - người – lính - đước.

Có lẽ, chưa có người làm thơ nào viết về những cây đước khái quát và khác lạ đến vậy.
Tất nhiên, Phạm Đương không chỉ có Lính đất Mũi mà còn có Biên tập, Tạp âm, Những mảnh vỡ, Trong đáy cốc, Gió dại, Hạt thóc và bom… nữa.
Đây là những câu ấn tượng trong Hạt thóc và bom:
Chúng ta cười vui chúng ta mếu máo
chỗ này tung hô chỗ kia lếu láo
chúng ta đang đi trên những chiếc dây
căng qua đời sống
tìm sự thăng bằng giữa hạt thóc và bom.

( hết trích)
Những câu thơ Phạm Đương (nhại thơ TÂN CON CÓC lẩn thẩn, lảm nhảm của Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều) trên đây do Đăng Huy Giang trích ra khen đều là những câu đại ngôn, sáo mới, sến, dễ dãi, thậm chí nhảm nhí, tầm phào há không phải là phê bình tấu hài hay sao?
Trần Mạnh Hảo xin mượn mấy câu thơ dễ dãi, đại ngôn và khiên cưỡng lại buồn cười của Phạm Đương do Đặng Huy Giang khen hay để giễu nhại cho đỡ tẻ:
“Từng cơn gió dại chưa tiêm phòng
phập vào anh những dấu răng chí mạng” (P Đ)
“ Từng tên ác dâm chưa bị hoạn
Phập vào em những dấu chim chết ngất” (thơ nhái)
“Tôi bị chiều luộc chín từng khúc
bằng chiếc nồi áp suất nhớ nhung” (P Đ)
“Tôi bị đêm rán thành mỡ
Bằng chiếc chảo em yêu “ (thơ nhái)
“Không một nhà tù nào có thể nhốt được khát vọng
không một xiềng xích nào có thể giam được cái ác” (P Đ)
“Không một bướm em nào nhốt được anh chim
Không một cái chai nào có thể nhốt được rượu tình (thơ nhái)
Mai Vũ trong bài: “Trần Quang Quý và sự ám ảnh hiện hữu” ca ngợi tập thơ “Màu tự do của đất” lên mây bằng trích ra toàn thứ thơ dễ dãi, sáo rỗng, cùn mòn, nói lấy được, chẳng cần hàm súc, dư ba, chẳng cần hình tượng, hình ảnh, biểu tượng, rất dở, cứ tràn ra vô tội vạ như nước cống:
“Ngoặc đơn tác giả viết: “Nỗi buồn trong cấu trúc cô đơn/ chiếc ngoặc mong manh gông cùm phận chữ/ những con chữ một đời vai phụ/ những con chữ chỉ giản dị làm phu giải nghĩa/ cũng một đời thèm/ tháo ngoặc/ Tự Do!”.
“Tôi đọc trên đất những bước đi ngắn, những bước đi dài/những khi bước thấp, những khi bước cao/bài học ban đầu/thuở còn lẫm chẫm/trang sách nhân gian đất bày vô tận/…Một đời khát vọng/tìm gió/theo mây/mới hay mọi điều học ngay từ đất” (Từ đất)
Ánh sáng của một ngày tự thức/ ánh sáng len lỏi vào ngõ quen, vào ngóc ngách vô cảm/ đánh thức bản nguyên/ cởi nút thắt bóng tối nằm hoang muội trong bức tường câm thức/ Ánh sáng dẫn tôi bò qua những con dốc nhịp thở/ gõ cửa trái tim cảm hứng/ bánh xe trật tự khởi quay/ và bật dậy trong tôi những lãng quên biền biệt chân trời… ánh sáng khoan thoai trong khung cửa ngộ thức/ hình như tôi vừa tự mở khóa mình”.
“Tôi đọc trên đất những bước đi ngắn, những bước đi dài/những khi bước thấp, những khi bước cao/bài học ban đầu/thuở còn lẫm chẫm/trang sách nhân gian đất bày vô tận/…Một đời khát vọng/tìm gió/theo mây/mới hay mọi điều học ngay từ đất”
Các nàng liếc nhìn tôi bằng sâu thẳm bầu trời thị giác/ bằng cả những phía sau cong mi… Tôi đi qua ngàn năm để đỏng đảnh một chiều váy ngắn… Sông hổn hển kể những ngày nàng thôn nữ ra bến quê giặt yếm/ khỏa những nụ cười duyên/ giặt cái dịu dàng, giặt phồn thực/ các nàng giặt tôi, kì cọ tôi bằng chiều quê cổ điển/ bằng cổ tích Ba Vì, bằng cả bây giờ quần jean, tóc hấp”
: “Trong mắt rắn, dĩ nhiên rồi ta cũng loài rắn/ngôn ngữ của trườn bò…Trong mắt bầy khuyển kia, làm sao khác ta cũng thành đồng loại/ những cơn tru hoang (tiếng người hóa dại)/ ngày thấp thỏm quạ kêu, đêm chập chờn cú rúc/ những con mắt gài quanh bờ giậu/ lách nhách cắn bóng đêm hay tự sủa phận mình/ có cái chết trong bầm rập vết răng đồng loại/ có bước chân côi cút lẻ bầy” (Đồng loại)”
Mai Vũ đưa thơ dở của Trần Quang Qúy ra ca ngợi lại chẳng phải là phê bình tấu hài hay sao?
Nhà phê bình Hoài Thanh đã dặn hậu thế đại để như sau: đọc bài phê bình thơ mà thấy trích ra toàn thơ dở để khen lên mây, thì bài ấy không có giá trị gì cả. Ta nên đọc các câu trích trước, rằng thơ trích ra khen mà hay mới đọc, còn trích toàn thơ dở ra khen thì nên ném bài bình thơ ấy vào sọt rác.
Nguyên An trong bài viết: “Mấy suy nghĩ cùng “Đa cực và điểm đến” khen cuốn phê bình được giải của Văn Chinh hết lời mà không hề chứng minh. Nguyên An chưa có đủ trình độ phân biệt được đâu là văn báo chí đâu là văn phê bình văn học nên mới viết lung tung như vậy. Cuốn sách này của Văn Chinh dù viết về đề tài văn học nhưng chỉ là những bài điểm báo, điểm sách thuộc thể loại báo chí chứ chưa thể gọi là phê bình văn học được.
Nguyên An dành cả bài viết dài để khen con vịt giống con thiên nga thì không phải là phê bình tấu hài thì còn là gì nữa…
Hi vọng, báo Văn Nghệ nên tiếp tục in loại phê bình tấu hài để giải khuây thiên hạ; đang buồn ngủ lại gặp chiếu manh mới khoái chí làm sao .,.
Sài Gòn ngày 14-3-2012
Trần Mạnh Hảo

Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2013

Đừng níu giữ những gì đã mất

Đừng cố níu giữ những gì đã mất

Thứ hai - 11/03/2013 09:21

Đừng cố níu giữ những gì đã mất

nguyen tri huan 1 (Trao đổi với nhà văn Nguyễn Trí Huân quanh nguy cơ biến mất của báo chí văn nghệ).
          Điều duy nhất tôi chia sẻ được với nhà văn Nguyễn Trí Huân ở điểm dám thừa nhận sự “biến mất” của báo chí văn nghệ. Điều này thể hiện cái khí khái của ông hơn hẳn khối ông Tổng khác, báo chết đến nơi rồi mà vẫn nhơn nhơn ngửa đầu cao ngạo. Là Tổng Biên tập tờ Văn nghệ, hơn ai hết, ông phải là người biết rõ tờ báo của mình in ra không biết bán cho ai, không ai thèm mua thèm đọc.
          Nhưng sự “biến mất” không phải là nguy cơ. Nguy cơ chính ở sự níu giữ những thứ không cần giữ. Cái gì đáng mất thì cho nó mất đi, không nên cố giữ làm gì.
          Tôi cũng đã đôi lần đặt ra một giả thuyết như ông Huân: “Nếu như tất cả các báo chí văn nghệ, vì một lý do nào đó đột ngột phải đình bản, “biến mất” khỏi thị trường báo chí thì đời sống tinh thần, sự tiếp nhận văn hóa, văn nghệ của xã hội sẽ ra sao”? Chắc chắn sẽ chả có biến động hay ảnh hưởng lớn lao gì đến sự nghiệp và đời sống văn học. Có chăng thì sự “biến mất” ấy lại là một tác động thay chuyển đáng mừng- mừng chứ không phải lo! Từ lâu tôi đã viết câu này: Báo chí dường như cũng tựa mô hình hợp tác xã (HTX) trong nông nghiệp. Và weblog cá nhân là sự cởi thoát khỏi mô hình hợp tác tư tưởng ấy.
          Báo chí văn nghệ càng phải vậy. Nhà văn luôn là lớp người nhạy cảm, và sự cởi thoát tư tưởng ấy với họ càng nhanh hơn. Nhiều, rất nhiều người đã chuyển sang chọn cách công bố và quảng bá tác phẩm của họ trên blog và website cá nhân. Nhiều, rất nhiều cách mà không cần đến báo Văn nghệ.
          Vì thế, ông Huân mượn câu “chỉ cần nhìn vào đời sống văn học, nghệ thuật của một quốc gia, có thể đo được sức khỏe tinh thần của quốc gia đó” để báo động về “lỗ thủng lớn” nếu báo Văn nghệ “biến mất” là một cách nhìn rất… cũ! Đời sống văn học nghệ thuật của một quốc gia không phải là những gì đăng tải trên tờ báo Văn nghệ của ông và vài dăm tờ báo văn nghệ linh tinh khác in ra không biết bán cho ai. Cái thời được in một bài trên báo Văn nghệ đem khoe cả họ đã qua mấy chục năm rồi. Giờ người viết có rất nhiều cách để công bố và quảng bá tác phẩm của họ nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đời sống văn học vì thế, từ mấy chục năm rồi đang diễn ra ở chỗ khác, chứ không phải trên tờ báo Văn nghệ.
          Trước tình thế bước ngoặt này, nếu không thay đổi được thì báo Văn nghệ nên tự biến mất đi, chứ chẳng nên níu giữ làm gì.
          Mà nếu có cố giữ, thì những giải pháp của ông Huân đưa ra lại càng giết chết tờ báo Văn nghệ và làm nó biến mất nhanh hơn. Hai việc, được ông Huân coi là giải pháp “cần làm ngay” gồm: “Đổi mới phương thức phản ánh, tuyên truyền cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và “Tham gia tích cực hơn nữa vào lĩnh vực chống quan điểm sai trái trong văn học nghệ thuật, chống những tư tưởng thù địch từ bên ngoài”.
          Mô phật! Tôi không dám tin ông Huân là nhà văn. Hay ông đang muốn biến tờ Văn nghệ thành tạp chí Xây dựng đảng hoặc báo Nhân dân? Cái tư tưởng văn học đến hôm nay vẫn chỉ nhìn thấy “thù địch” thì tôi tin sẽ chẳng bao giờ viết nên tác phẩm nào ra hồn.
          Còn cái gọi là “giải pháp của mọi giải pháp” của ông Huân hóa ra lại là: tiền! Ông kêu gọi nhà nước phải rót tiền cho báo ông như thời bao cấp: “báo chí Văn nghệ cũng cần được hưởng quy chế, chính sách mang tính đặc thù: được sự hỗ trợ của nhà nước về tài chính, được hưởng chính sách ưu đãi về thuế, về chế độ nhuận bút. Không có sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, báo chí văn nghệ không thể hoàn thành được nhiệm vụ. Đây là giải pháp của mọi giải pháp”.
          Đọc xong tôi không nín cười được. Thì ra vẫn còn không ít những người viết văn làm báo theo lối tư duy chưa được… giải phóng!
          Một khi tờ báo vẫn phải trông chờ vào bầu sữa ngân sách thì chẳng khác gì báo Nhân dân, in ra vứt không ma nào đọc.
          Tư tưởng ấy, tư duy ấy mà làm báo Văn nghệ, đòi cải tổ báo Văn nghệ thì chỉ có phá nát thêm tờ báo, làm nó chóng chết hơn mà thôi.
          Thế thì cố níu giữ làm gì, trong khi tự thân nó lại đang dần biến mất trong đời sống văn học.

                                          V -Tr 

Thứ Bảy, 9 tháng 3, 2013

Mùa xuân đi chùa chiền

Mùa xuân du lịch chiùa chiền

Chủ nhật - 10/03/2013 10:56
Mùa xuân du lịch chùa chiền
Ra tết Tạp chí Nhà văn tổ chức du lịch chùa chiền. Chúng tôi đã đên đền Trần, Chùa Cổ Lễ, Chùa Keo Thái Bình
Đi chùa chiền trước đây là thú vui. Bây giờ là làng nạn hòm công đức. Đa phần chùa nào cũng có mấy ông "Thù Tây" nói lái là Thầy tu dỏm mắt la mày léc nhìn khách thập phương và nhìn hòm Công đức. Hòm Công đức đfặt nhiều hơn tượng Phật.
Rất phản cảm.
Xin post lên ít ảnh xem cho vui cảnh đẹp nhiều chùa đàng hoàng.

     

   

   

    

   

Nhà văn Võ Thị Xuân Hà, nhà văn Vũ Đảm, nhà thơ Đỗ Hoàng, nhà báo Nguyễn Ngọc Dư, Nguyễn Thị Bình...Các cảnh Chùa Cỗ Lễ, Chùa Keo, bến phà Namn Thanh (Nam định - Thái Bình - sông Hồng hạ lưu) nương dâu Thái Bình ( huyện Vũ Thư)
Pv: Đỗ Hoàng

Không nên khen chê quá đáng

KHÔNG NÊN LẶP LẠI HIỆN TƯỢNG THƠ “NOBEL HOÀNG QUANG THUẬN” TRONG VĂN XUÔI HÔM NAY
Trần Mạnh Hảo

Nhà văn Nhật Tuấn trong bài : “Xã hội trơ lì trong “ Thành phố đi vắng” in trên trang báo mạng BBC đã hết lời khen tập truyện ngắn của “ Thành phố đi vắng” của nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ vừa được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2012.
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture_social/2013/03/130304_thu_hue_book_review.shtml

Việc khen chê một tác phẩm âu cũng là chuyện bình thường. Nhưng khen vống lên, một tấc tới giời thì không nên, đôi khi còn phản tác dụng. Chị Nguyễn Thị Thu Huệ xuất hiện cùng lứa với các tài năng nữ : Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà…có những đóng góp nhất định cho văn học đương đại. Tập truyện ngắn “ Thành Phố đi vắng” của chị có truyện hay, có truyện chưa hay, thậm chí có truyện còn dở. Tác phẩm này chưa thể thành cột mốc như của Nguyễn Huy Thiệp hay Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập…từng ít nhiều làm thay đổi văn đàn.

Chúng tôi viết bài này không nhằm tranh luận với nhà văn Nhật Tuấn về tập truyện ngắn “ Thành phố đi vắng”; chỉ cốt can các vị khi đọc nhau nếu hứng quá thì đi Ka ra ô kê hay đi cà phê võng, cà phê giường… chớ có tương nhau lên mạng rồi hô biến để biến nhau thành hiện tượng …nhất thế giới hay Nobel phải gọi bằng cụ như một số vị từng làm thì tuyệt đối không nên…

Phàm một nhà văn lớn trước hết phải có tư tưởng; tư tưởng ấy không nói toẹt ra mà lặn trong hình ảnh, hình tượng nhân vật, trong chất văn của tác phẩm. Tác phẩm lớn là tác phẩm viết như thế nào chứ không phải viết về cái gì ? Mục đích cuối cùng của văn học là truyền cảm, làm rung động người đọc bằng văn tài của nhà văn. Hơn nữa tác phẩm ấy phải tạo ra phong cách riêng biệt, tạo ra hiệu ứng xã hội mà sau này nhiều nhà văn trẻ còn phải bắt chước lối văn kia.

Trong bài viết của mình, nhà văn Nhật Tuấn khen ngợi lối văn có vẻ hình sự như chuyện vụ án kinh dị của Nguyễn Thị Thu Huệ không phải là không có lý. Nhưng chỉ với lối viết kể chuyện cái ác, cái xấu…một cách tỉnh queo này chưa thể làm nên văn chương, hơn nữa là văn chương đích thực. Chúng tôi cũng công nhận nữ văn sĩ Nguyễn Thị Thu Huệ là một cây bút có tài; nhưng nếu ví bà với Camus hay Kafka như anh Nhật Tuấn đã ví thì nghe ra không đặng.

Xin trích ra mấy đoạn trong bài viết đã nêu của Nhật Tuấn :
“Khác hẳn lối viết cảm xúc xót thương, day dứt, giận dữ cổ điển, giọng văn Nguyễn Thị Thu Huệ thản nhiên không phải vô cảm mà vô sắc, trung tính vốn là cảm hứng chủ đạo xuyên suốt các truyện ngắn của chị.
…"Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đầy ắp chi tiết thực, ảo, người , ma…gây liên tưởng tới truyện Allan Edgar Poe, nhà văn Hoa Kỳ nổi tiếng với truyện bí ẩn và rùng rợn, cha đẻ của thể lọai tiểu thuyết trinh thám."

Phải nói Nguyễn Thị Thu Huệ đã sử dụng thủ pháp ngoa khá nhuần nhuyễn tạo nên những yếu tố kinh dị hợp lý. Những chi tiết kiểu Hitchcock nhan nhản trong các trang truyện nhưng không thể nói truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ thuộc thể loại kinh dị. Không phải, truyện của chị vẫn là văn xuôi, một thứ văn xuôi như quái vật nuốt hết vào người những gì nó gặp trên đường đi của nó.
Đọc “Thành phố đi vắng”, người ta cảm thấy hiệu lực mạnh mẽ của ngôn từ chuyển vận rất nhanh những chi tiết, những sự kiện bị nén lại. Truyện ngắn như một file nén dồn chặt thông tin và chỉ cảm hết được những thông báo của nó khi người đọc giải nén bằng cảm thụ của chính mình. Một thứ không gian mê cung rối rắm và phức hợp, một cảm xúc vô tính, trơ lì, phập phồng bất an như Camus, như Kafka.
Trong nền văn chương trầm lắng hiện nay, “Thành phố đi vắng” thực sự rất đáng ghi nhận như một tín hiệu đáng mừng, một thành tựu mới trong văn xuôi hiện đại.( hết trích)
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/culture_social/2013/03/130304_thu_hue_book_review.shtml
Như thế, qua các đoạn trích trên, ta thấy tập truyện ngắn “ Thành phố đi vắng” của chị Nguyễn Thị Thu Huệ trong con mắt nhà văn Nhật Tuấn đã trở thành ngày hội của các thiên tài bậc nhất nhân loại : văn hào Allan Edgar Poe, nhà đạo diễn làm phim kinh dị số một của Mỹ Hitchock, văn hào Camus và văn hào Kafka; và như thế, tác phẩm này, qua đây ta phải hiểu là nó đã thành đỉnh cao của văn học nhân loại; vì bằng ấy số một kia đều tìm thấy trong tác phẩm này :
“gây liên tưởng tới truyện Allan Edgar Poe
Những chi tiết kiểu Hitchcock nhan nhản trong các trang truyện nhưng không thể nói truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ thuộc thể loại kinh dị.
Một thứ không gian mê cung rối rắm và phức hợp, một cảm xúc vô tính, trơ lì, phập phồng bất an như Camus, như Kafka.”( hết trích)
Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ tài hơn cả tỉ lần so với nhà thơ dỏm Hoàng Quang Thuận. Thế mà, ông nhà thơ thiên giáng đạo thơ đạo văn này còn được chủ tịch Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh giới thiệu tác phẩm đi dự giải văn chương Nobel…
Cơ chừng nhà văn Nhật Tuấn thông qua bài tụng ca lên mây “ Thành Phố đi vắng” này, chắc muốn gợi ý cho ông Hữu Thỉnh làm cú giới thiệu tập truyện ngắn trên đi dự giải Nobel chăng ? Vì một tác phẩm được ví với thiên tài A. Camus và thiên tài F. Kafka, thiên tài Allan Edgar Por thì giải Nobel với nó, chẳng qua chỉ bằng con tép.,.
Sài Gòn 9-3-2013
Trần Mạnh Hảo