Thứ Ba, 29 tháng 1, 2013

Hữu Thỉnh rất tài đánh đáo lưỡi.

Hữu Thỉnh rất tài đánh đáo lưỡi.

Thứ tư - 30/01/2013 10:18
           
                   
Nhà thơ Hữu Thỉnh
Hữu Thỉnh rất tài đánh đáo lưỡi.
Tôi vừa đọc xong bài tường thuật về lễ trao giải và kết nạp hội viên mới của Hội Nhà văn VN. Lại một cái lễ Tự sướng của Chủ tịch Hữu Thỉnh và Nhóm lợi ích của ông ta. Phó chủ tịch Hội Nguyễn Quang Thiều đọc bài diễn văn Bổn cũ soạn lại: Giải thưởng thông chưa thông qua BCH..ô hay, Thiều không biết đọc hay sao? Trên trang web của Hội nhà văn VN đã đưa tin rõ ràng, hàng trăm cơ quan thông tấn đã đưa tin theo. Vậy mà lỗi lại thuộc về hai nhà văn từ chối giải? Sự thật được phanh phui đã làm xúc phạm ban sơ khảo và ban chung khảo? Vậy những việc làm khuất tất của chủ tịch Hữu Thỉnh và nhóm lợi ích của ông ấy đang xúc phạm niềm tin của hàng trăm hội viên thì sao? Cũng không nên sa đà vào hai ủy viên thường vụ chờ đục nước béo cò Quang Thiều Thu Huệ làm gì. Nước thì đục đấy nhưng tôm tép chẳng còn đâu hỡi hai chú cò con kia ơi.
Lời phát biểu của chủ tịch Hữu Thỉnh mới gọi là ghê chứ: Đây là hội, ai thích ở thì ở, ai thích đi thì đi chắc là BCH sẽ không giữ. Chủ tịch Hữu Thỉnh đang chọc vào lòng tự ái của nhà văn Y Ban để chị làm đơn xin ra khỏi hội đây mà. Nhà văn Y Ban đừng có mắc mưu ông Hữu Thỉnh nhé. Ông này rất giỏi đánh đáo lưỡi. Thư ngỏ của Y Ban đã chỉ rõ vào chủ tịch Hữu Thỉnh và Nhóm lợi ích của ông ta. Thế mà ông ta lại đánh đáo lưỡi sang Hội nhà văn VN. Hội nhà văn VN được thành lập từ năm 1957, các thế hệ nhà văn xây dựng lên. Hữu Thỉnh nói vậy chẳng hóa ra Hội nhà văn VN là của Hữu Thỉnh à? Hữu Thỉnh đã lộ rõ mưu đồ, chiếm Hội nhà văn VN để cho riêng ông ta. Ông ta đã và đang làm như vậy. Với lời phát biểu trong Lễ trao giải và kết nạp hội viên mới ngày 29.1.2013 Hữu Thỉnh đã ngầm ra tuyên bố. Ông ta đe dọa, Hội( Hữu Thỉnh)sẽ không cho phép ai làm như vậy. Ông ta sẽ đàn áp? Ông ta sẽ khai trừ? Ông ta và nhóm lợi ích của ông ta sẽ dám làm điều đó. Bà ủy viên thường vụ đã nhiều lần tuyên bố, bà ta sẽ đạp lên những kẻ dám cản đường bà ta.
Thực ra việc là hội viên hay không là hội viên Hội nhà văn VN cũng có làm tác phẩm hay hơn được đâu. Nhưng đây là nơi lưu giữ những kỷ niệm của những tài năng, của những hi vọng. Hữu thỉnh là người có tội rất lớn trong việc để Hội nhà văn VN xuống cấp như ngày hôm nay.
Chí Hướng

Nghèo đói là trường đại học tốt nhất.

NGhèo đói là trường Đại học tốt nhất

Thứ hai - 28/01/2013 10:09
BÀI VIẾT VÔ CÙNG CẢM ĐỘNG CỦA MỘT TIẾN SĨ Ở TRƯỜNG HAVARD ( NGƯỜI HOA) VIẾT CA TỤNG NGƯỜI MẸ NGHÈO KHỔ ĐÃ NUỐI ÔNG ĂN HỌC THÀNH TÀI. Bài rất cảm động, đề nghị chủ trang web hay blog đưa lên mạng để mọi người cùng tôn vinh bà mẹ của chúng ta. Mẹ tôi ( Trần Mạnh Hảo) đã từng giống hệt bà mẹ của vị tiến sĩ này, cũng nuôi tôi trong sự nghèo đói, trong khi bố tôi bị đi tù vì địa chủ, và tội làm tay sai cho các giám mục công giáo chống cộng, khổ ải muôn phần là tuổi thơ của tôi. Đọc bài viết này, tôi không sao cầm được nước mắt, bà mẹ trong câu chuyện này y như mẹ tôi. Cám ơn !

Nghèo đói là trường đại học tốt nhất.
 
Nếu con có thể tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh con chắc chắn đều đỗ…."
Ngày 5/9/1997, là ngày tôi rời gia đình đi nhập học ở Đại học Bắc Kinh, khoa Toán. Ngọn khói bếp dài cất lên từ trên nóc ngôi nhà nông dân cũ nát gia đình tôi. Người mẹ chân thập thễnh của tôi đang nấu mì sợi cho tôi, những bột mì này có được nhờ mẹ đổi năm quả trứng gà cho hàng xóm,chân mẹ bị thương vì mấy hôm trước, để thêm tí tiền cho tôi nhập học, mẹ đẩy một xe chất đầy rau từ thôn ra thị trấn, trên đường bị trật chân.
Bưng bát mì, tôi đã khóc. Tôi buông đũa quỳ xuống đất, xoa nắn chỗ chân sưng phồng lên to hơn cả cái bánh bao của mẹ, nước mắt rơi xuống đất… Nhà tôi ở Thiên Tân, làng Đại Hữu Đới, huyện Vũ Thanh, tôi có một người mẹ tốt nhất thế gian tên là Lý Diệm Hà. Nhà tôi vô cùng nghèo khó.

Khi tôi ra đời, bà nội ngã bệnh ngay trên giường sưởi, tôi 4 tuổi, ông nội lại mắc bệnh hẹp khí quản và bán thân bất toại, những món nợ trong nhà lớn dần theo năm.
Khi 7 tuổi, tôi được đi học, học phí là mẹ vay người khác. Tôi thường đi nhặt những mẩu bút chì bạn bè vứt đi, dùng dây buộc nó lên một cái que rồi viết tiếp, hoặc dùng một cái dây chun xoá sạch những cuốn vở bài tập đã viết, rồi viết lại lên đó, mẹ thương tôi đến mức, cũng có lúc đi vay vài hào của hàng xóm để mua vở và bút chì cho tôi.
Nhưng cũng có những khi mẹ vui vẻ, là khi bất kể bài kiểm tra nhỏ hay kỳ thi lớn, tôi luôn đứng đầu, toán thường được 100/100 điểm.
 
Dưới sự khích lệ của mẹ, tôi càng học càng thấy ham thích. Tôi thực sự không hiểu trên đời còn có gì vui sướng hơn được học hành. Chưa đi học lớp một tôi đã thông thạo cộng trừ nhân chia và phân số, số phần trăm;
khi học Tiểu học tôi đã tự học để nắm vững Toán Lý Hoá của bậc Trung học Phổ thông;
Khi lên trung học, thành phố Thiên Tân tổ chức kỳ thi vật lý của bậc Trung học, tôi là đứa học trò nông thôn duy nhất của cả năm huyện ngoại thành Thiên Tân được giải, một trong ba người đỗ đầu. Tháng 6 năm đó, tôi được đặc cách vào thẳng trường Trung học số 1 danh tiếng của Thiên Tân, tôi vui sướng chạy như bay về nhà.

Nào ngờ, khi tôi báo tin vui cho cả nhà, mặt bố mẹ chất chứa toàn những đau khổ; bà nội vừa mất nửa năm, ông nội đang gần kề cái chết, nhà tôi đã
mắc nợ tới hơn 10 000 Nhân dân tệ rồi. Tôi lặng lẽ quay về bàn học, nước mắt như mưa suốt một ngày. Đến tối, tôi nghe thấy ở ngoài nhà có tiếng ồn ào. Thì ra mẹ tôi đang định dắt con lừa con của nhà đi bán, cho tôi đi học, nhưng ba tôi không chịu. Tiếng ồn ào làm ông nội nghe thấy, ông đang bệnh nặng, trong lúc buồn bã ông đã lìa đời. Sau lễ an táng ông nội, nhà tôi lại mắc thêm vài nghìn tệ tiền nợ nữa.

Tôi không còn dám nhắc đến việc đi học nữa, tôi cất “Giấy báo nhập học” thật kỹ vào vỏ gối, hàng ngày tôi ra đồng làm việc cùng mẹ. Sau hai hôm, tôi và ba tôi cùng lúc phát hiện ra:
con lừa con biến mất rồi. Ba tôi sắt mặt lại, hỏi mẹ tôi: “Bà bán con lừa con rồi à? Bà bị thần kinh à? Sau này lấy gì kéo, lương thực hoa màu bà đẩy xe tay nhé, bà tự cõng nhé? Bà bán lừa một hai trăm bạc liệu cho nó học được một học kỳ hay là hai học kỳ?” Hôm đó mẹ tôi khóc, mẹ tôi dùng một giọng rất dữ dội rất hung dữ để gào lại ba tôi: “Con cái mình đòi đi học thì có gì sai? Nó thi lên được trường số 1 của thành phố nó là đứa duy nhất của cả huyện này đấy, tôi không thể để cho tiền đồ của nó bị lỡ dở được. Tôi sẽ dùng tay đẩy, dùng lưng vác, để cho nó đi học…”

Cầm sáu trăm tệ mẹ vừa bán lừa, tôi thật sự chỉ muốn quỳ xuống dập đầu trước mẹ. Tôi đã thích được học quá rồi, mà còn học tiếp, thì mẹ sẽ khổ sở bao nhiêu, vất vả bươn chải thêm bao nhiêu?
 
Mùa thu năm đó tôi quay về nhà lấy áo lạnh, thấy mặt ba tôi vàng như sáp, gầy da bọc xương đang nằm trên giường sưởi. Mẹ bình thản bảo: “Khong có gì đâu, bị cảm, sắp khỏi rồi”.
 
Ai ngờ, hôm sau tôi xem vỏ lọ thuốc của ba, thì thấy đó là thuốc ngăn ngừa tế bào ung thư phát triển. Tôi kéo mẹ ra ngoài nhà, khóc hỏi mẹ mọi chuyện là thế nào, mẹ bảo, từ sau khi tôi đi học, ba bắt đầu đi ngoài ra máu, ngày càng nặng lên.
 
Mẹ vay sáu nghìn tệ đưa ba lên Thiên Tân, Bắc Kinh đi khắp nơi, cuối cùng xác định là u ruột bowel polyps, bác sĩ yêu cầu ba phải mổ gấp. Mẹ chuẩn bị đi vay tiền tiếp, nhưng ba kiên quyết không cho. Ông nói, bạn bè họ hàng đã vay khắp lượt rồi, chỉ vay mà không trả thì còn ai muốn cho mình vay nữa!
 
Hàng xóm kể với tôi: Mẹ dùng một phương pháp nguyên thuỷ và bi tráng nhất để gặt lúa mạch. Mẹ không đủ sức gánh lúa mạch ra sân kho để tuốt hạt, mẹ cũng không có tiền thuê người giúp, mẹ bèn gặt dần, lúa mạch chín chỗ nào gặt chỗ đó, sau đó dùng xe cải tiến chở về nhà, tối đến mẹ trải một tấm vải nhựa ra sân, dùng hai tay nắm từng nắm lúa mạch đập lên một hòn đá to…
 
Lúa mạch trồng trên ba mẫu đất của nhà, một mình mẹ làm, mệt đến mức không đứng dậy nổi nữa thì mẹ ngồi xổm xuống cắt, đầu gối quỳ còn chảy máu, đi đường cứ cà nhắc…Không đợi hàng xóm kể hết, tôi chạy như bay về nhà, khóc to gọi mẹ:
 
“Mẹ, mẹ, con không thể đi học nữa đâu…”. Kết quả, mẹ vẫn tống tôi lên trường. Tiền sinh hoạt phí mỗi tháng của tôi chỉ 60 đến 80 tệ (tương đương 120-160.000 VND=70 USD), thật thảm hại nếu so với những người bạn học khác mỗi tháng có 200-240 tệ. Nhưng chỉ mình tôi biết, món tiền nhỏ này mẹ tôi cũng phải tằn tiện lắm, từ ngày đầu tháng đã dành từng hào từng hào, bán từng quả trứng gà, rau xanh lấy từng đồng từng đồng, có lúc dành dụm không đủ đã phải giật tạm vài đôi chục. Mà cha tôi, em trai tôi, dường như chẳng bao giờ có thức ăn, nếu nhà ăn rau cũng chẳng dám xào mỡ, chỉ chan tí nước dưa muối ăn qua bữa.
Mẹ không muốn tôi đói, mỗi tháng mẹ chăm chỉ đi bộ hơn mười cây số mua mì tôm với giá bán buôn. Rồi mỗi cuối tháng, mẹ vất vả cõng một túi nặng lên Thiên Tân thăm tôi. Trong túi ấy ngoài những gói mì tôm ra, còn có nhiều xếp giấy loại mẹ phải đi bộ ra một xưởng in ngoài thị trấn cách nhà 6km để xin cho tôi (đó là giấy để tôi làm nháp toán), cả một chai tương cay rất to, cải bẹ muối thái sợi, và cả một cái tông đơ để cắt tóc. (Cắt tóc nam rẻ nhất Thiên Tân cũng phải 5 tệ, mẹ muốn tôi dành tiền cắt tóc để mua thêm lấy vài cái bánh bao mà ăn). Tôi là học sinh cấp 3 duy nhất của Thiên Tân đến cả rau ở bếp ăn nhà trường cũng không mua nổi, chỉ có thể mua vài cái bánh bao, mang về ký túc ăn cùng mì sợi khô hoặc chấm với tương ớt, kẹp dưa muối để ăn qua bữa. Tôi cũng là học sinh duy nhất không có giấy kiểm tra, chỉ có thể tận dụng giấy một mặt của xưởng in để viết bài.
Tôi là đứa học sinh duy nhất chưa bao giờ dùng xà phòng, khi giặt quần áo tôi thường đi nhà bếp xin ít bột kiềm nấu ăn (alkali - chất kiềm, dùng để hấp bánh bao, làm bánh nướng, làm nước sôđa) là xong.
Nhưng tôi chưa bao giờ tự ti, tôi cảm thấy mẹ tôi khổ cực cả đời, như người anh hùng chống lại đói khổ, làm con của người mẹ như thế tôi rất tự hào. Hồi mới lên Thiên Tân, tiết học tiếng Anh đầu tiên khiến tôi ù cạc. Khi mẹ lên, tôi kể cho mẹ nghe tôi sợ tiếng Anh thế nào, ai ngờ mẹ chỉ cười bảo: “Mẹ chỉ biết con là đứa trẻ con khổ cực nhất, mẹ không thích con kêu khó, vì chịu khổ được thì chả còn gì khó nữa.”

Tôi hơi bị nói lắp, có người bảo, học tiếng Anh đầu tiên cần làm chủ được cái lưỡi của mình, bởi vậy
tôi thường kiếm một hòn sỏi ngậm vào miệng mình, rồi gắng đọc tiếng Anh. Hòn sỏi cọ xát vào lưỡi tôi, có lúc máu chảy ra bên mép, nhưng tôi cố gắng để kiên trì.
 
Nửa năm trôi qua, hòn sỏi nhỏ đã bị mài tròn đi, lưỡi tôi cũng đã nhẵn, tiếng Anh đã thành người giỏi thứ 3 của lớp. Tôi vô cùng cảm ơn mẹ, lời mẹ khích lệ tôi vượt qua khó khăn lớn trong học tập.
 
Năm 1996, lần đầu tiên tôi được tham gia cuộc thi Olympic tri thức toàn quốc khu vực Thiên Tân, đoạt giải Nhất môn Vật lý và giải Nhì môn Toán học, tôi được đại diện Thiên Tân đi Hàng Châu tham gia Cuộc thi Olympic toàn Trung quốc môn Vật lý.
 
“Đoạt lấy chiếc Cup giải Nhất toàn Trung quốc tặng mẹ, rồi lên đường dự Olympic Vật lý Thế giới!” Tôi không ngăn được nỗi khao khát trong lòng, tôi viết thư báo cho mẹ tin vui và mơ ước của tôi. Kết quả, tôi chỉ được giải Nhì, tôi nằm vật ra giường, không ăn không uống. Dù tôi là người đạt thành tích cao nhất trong đoàn Thiên Tân đi thi, nhưng nếu tính cả những khốn khổ của mẹ tôi vào, thì thành tích này không xứng đáng! Tôi về trường, các thầy ngồi phân tích nguyên nhân thất bại cho tôi thấy: Tôi những muốn phát triển toàn diện cả Toán Lý Hoá, những mục tiêu của tôi quá nhiều nên sức lực tinh thần tôi phải phân tán rộng.

Nếu giờ tôi chỉ chọn một mục tiêu trước mắt là kỳ thi Toán, nhất định tôi thắng. Tháng 1 năm 1997, tôi cuối cùng đã giành chiến thắng tại kỳ thi Olympic Toán toàn Trung Quốc với điểm số tuyệt đối, lọt vào đội tuyển Quốc gia, cả mười kỳ thi kiểm tra ở đội tuyển
tôi đều là người đứng đầu. Với thành tích đó, tôi được sang Argentina tham gia kỳ thi Olympic Toán quốc tế. Nộp xong phí báo danh, tôi gói những sách vở cần chuẩn bị và tương đậu cay của mẹ lại, chuẩn bị lên đường. Giáo viên chủ nhiệm và thầy giáo dạy Toán thấy tôi vẫn mặc bộ quần áo thải của người khác cho, những thứ áo quần màu sắc chả đâu vào đâu, kích cỡ khác nhau, bèn mở tủ áo của tôi ra, chỉ vào những áo trấn thủ vá, những áo bông tay đã phải nối hai lần, vạt đã phải chắp ba phân, hỏi tôi:

“Kim Bằng, đây là tất cả quần áo của em ư?”

Tôi chả biết nói sao, vội đáp: “Thầy ơi, em không sợ người khác chê cười! Mẹ em thường bảo, Phúc Hữu Thi Thư Khí Tự Hoa - trong lòng có sách vở tất mặt mũi sáng sủa, em mặc những thứ đồ này
đi Mỹ gặp tổng thống Clintơn em cũng chẳng thấy ngượng.”
 
Ngày 27/7, Olympic Toán học Thế giới lần thứ 38 chính thức khai mạc. Chúng tôi thi liên tục suốt 5 tiếng rưỡi, từ 8 giờ 30 phút sáng tới 2h chiều. Ngày hôm sau công bố kết quả, đầu tiên công bố Huy chương Đồng, tôi không muốn nghe thấy tên mình; Sau đó công bố Huy chương Bạc, cuối cùng, công bố Huy chương Vàng,
người đầu tiên, người thứ hai, người thứ ba là tôi. Tôi khóc lên vì sung sướng, trong lòng tự nói: “Mẹ ơi, con mẹ thành công rồi!”

Tin tôi và một người bạn nữa đoạt Huy chương Vàng kỳ thi Olympic Toán học ngay chiều hôm đó đã được Đài phát thanh Nhân dân Trung ương TQ và Đài truyền hình Trung ương TQ đưa.
 
Ngày 1/8, chúng tôi vinh quang trở về, lễ đón long trọng được Hiệp hội khoa học Trung Quốc và Hội Toán học TQ tổ chức. Khi đó, tôi muốn về nhà, tôi muốn sớm gặp mẹ, tôi muốn chính tay tôi đeo tấm huy chương vàng chói lọi lên cổ mẹ…
Hơn mười giờ đêm tối hôm đó, tôi cuối cùng đã đội trời đêm về đến nhà. Người mở cửa là ba tôi, nhưng người một tay ôm chặt lấy tôi vào ngực trước lại chính là mẹ tôi.

Dưới trời sao vằng vặc, mẹ tôi ôm tôi rất chặt…

Tôi lấy tấm huy chương vàng đeo lên cổ mẹ, khóc một cách nhẹ nhõm và sung sướng. Ngày 12/8, trường Trung học số Một của Thiên Tân chật ních người, mẹ được ngồi lên bàn Chủ tịch danh dự cùng với các quan chức Cục giáo dục Thiên Tân và các giáo sư toán học hàng đầu.
Hôm đó, tôi đã phát biểu thế này: “Tôi muốn dùng cả sự sống của tôi để cảm tạ một người, là người mẹ đã sinh và nuôi nấng tôi. Mẹ tôi là một người phụ nữ nông dân bình thường, nhưng những đạo lý mẹ dạy tôi nên người đã khích lệ tôi cả đời. Năm tôi học lớp 10, tôi muốn mua cuốn sách “Đại từ điển Anh-Trung” để học tiếng Anh, mẹ tôi không có tiền, nhưng mẹ vẫn nghĩ cách giúp tôi.
 
Sau bữa cơm sáng, mẹ tôi mượn một chiếc xe cải tiến, chất một xe rau cải trắng, hai mẹ con tôi đẩy ra chợ huyện cách hơn bốn mươi km bán rau. Đến được chợ đã gần trưa, buổi sáng đó tôi và mẹ chỉ ăn hai bát cháo ngô nấu với khoai lang đỏ, lúc đó bụng đói cồn cào, chỉ mong có ai tới mua cho cả xe rau ngay. Nhưng mẹ vẫn nhẫn nại mặc cả từng bó, cuối cùng bán với giá 1 hào một cân. Hai trăm cân rau đáng lẽ 21 tệ, nhưng người mua chỉ trả 20 tệ. Có tiền rồi tôi muốn ăn cơm, nhưng mẹ bảo nên đi mua sách trước, đó là việc chính của ngày hôm nay. Chúng tôi đến hiệu sách hỏi, giá sách là 8 tệ 2 hào 5 xu, mua sách rồi còn lại 1 tệ 7 hào 5 xu. Nhưng mẹ chỉ cho tôi 7 hào rưỡi đi mua hai cái bánh bột nướng, một tệ kia còn phải cất đi để dành cho tôi làm học phí. Tuy ăn hết hai cái bánh nướng, nhưng đi bộ tiếp 40km về nhà, tôi vẫn đói tới mức hoa mắt chóng mặt, lúc này tôi mới nhớ ra tôi đã quên không phần cho mẹ ăn một miếng bánh nướng nào, mẹ tôi chịu đói cả ngày, vì tôi mà kéo xe suốt 80km đường xa. Tôi hối hận tới mức chỉ muốn tát cho mình một cái, nhưng mẹ tôi chỉ bảo: “Mẹ ít văn hoá, nhưng mẹ nhớ khi nhỏ được thầy giáo dạy là, Golgi có nói một câu: Nghèo đói là trường đại học tốt nhất. Nếu con có thể tốt nghiệp trường đại học này, thì những trường đại học như Thiên Tân, Bắc Kinh con chắc chắn đều đỗ.”

Khi mẹ nói thế mẹ không nhìn tôi, mẹ nhìn ra con đường đất xa xôi, cứ như thể con đường đất đó có thể thông tới tận Thiên Tân, đi thẳng tới Bắc Kinh. Tôi nghe mẹ bảo thế, tôi không thấy đói nữa, chân tôi không mỏi nữa…Nếu nghèo đói là trường đại học tốt nhất, thì tôi muốn nói rằng, người mẹ nông dân của tôi chính là người thầy giáo giỏi nhất của đời tôi.”

Dưới khán đài, không biết có bao nhiêu đôi mắt đã ướt đẫm, tôi quay về phía người mẹ tóc hoa râm của tôi, cúi người xuống kính cẩn…
 
 Nhà thơ Trần Mạnh Hảo chuyển in
 

Văn Chinh ăn táo xong chặt cây

Ăn táo xong Văn Chinh liền chặt cây

Thứ bảy - 26/01/2013 09:57

              
                    Nh
à thơ Trần Mạnh Hảo

ĂN XONG TÁO, VĂN CHINH LIỀN CHẶT CÂY ?

Trần Mạnh Hảo

Chúng tôi viết bài này nhằm trao đổi với nhà văn Văn Chinh về bài : “Văn Chinh: Đoạt giải xong sẽ 'nằm ngửa, đấm với”,  trả lời phỏng vấn nhà báo Dương Phương Vinh in trên báo Tiền Phong online :

http://www.tienphong.vn/van-nghe/611350/Van-Chinh-Doat-giai-xong-se-nam-ngua-dam-voi-tpp.html


“TP - Văn Chinh vừa đoạt giải thưởng Hội Nhà văn VN cho cuốn sách phê bình Đa cực và điểm đến. Trong câu chuyện hậu giải thưởng, anh tỏ ra là một người đa cực - khi phán xét các vấn đề khác nhau. Anh cho biết đang thai nghén tiểu thuyết mới có tên Nằm ngửa đấm với.”

     
Nhà văn Văn Chinh tin rằng sự tử tế đang đến dần dần ở Hội Nhà văn VN.  


Trước khi vào phần chính của bài viết, chúng tôi xin quý độc giả hãy ngó qua một phần tiêu đề những bài viết rất nóng dưới đây vừa được nhiều trang mạng cho in, kể từ khi Hội nhà văn Việt Nam công bố giải thưởng văn học của Hội  2012 :

Ngày 25/1/2012 :
NHÀ VĂN Y BAN TỪ CHỐI NHẬN BẰNG KHEN GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN 2012 VÌ “MỘT BAN GIÁM KHẢO KHÔNG ĐỦ TÂM ĐỦ TẦM ĐỦ TÀI”

SÓNG GIÓ NỔI LÊN RỒI: NHÀ VĂN PHẠM NGỌC CẢNH NAM TỪ CHỐI “GIẢI THƯỞNG BẰNG KHEN” CỦA HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM 2012

2 TÁC GIẢ CÙNG TỪ CHỐI BẰNG KHEN CỦA HỘI NHÀ VĂN VÌ “GIẢI THƯỞNG ĐÃ KHÔNG ĐƯỢC XÉT ĐÚNG THEO TIÊU CHÍ VĂN CHƯƠNG”

NHÀ VĂN Y BAN: “ĐÃ CÓ NGƯỜI NÓI TÔI VÌ KHÔNG ĐƯỢC GIẢI CHÍNH THỨC THÌ HỜN GIẬN, NHƯNG CÂU TRẢ LỜI CỦA TÔI LÀ NẾU KHÔNG VÀO HANG THÌ SAO BẮT ĐƯỢC CỌP”

VĂN GIỚI ĐANG Ì XÈO BÀN TÁN VỀ GIẢI THƯỞNG 2012 MÀ HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM VỪA CÔNG BỐ

QUY CHẾ CHẤM GIẢI CỦA HỘI NHÀ VĂN KHÔNG ĐÚNG SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HỌC

NHÀ VĂN NGUYỄN HOÀNG ĐỨC: THƠ THANH THẢO – CHUYÊN GIA NƯỚC ỐC TRƯỜNG CA, CỠ VẠN NGƯỜI LÀM

NHÀ THƠ ĐỖ HOÀNG: GIẢI THƯỞNG VÔ LỐI PHẠM ĐƯƠNG – MỘT LOẠI PHI THƠ CA

BÁO TUỔI TRẺ: MÙA GIẢI “HỤT HẪNG” CỦA HỘI NHÀ VĂN VÀ CHÍN THÀNH VIÊN CHUNG KHẢO GIẢI THƯỞNG LÀ NHỮNG AI?

NHÀ PBVH NGUYỄN HOÀNG ĐỨC: GIẢI THƯỞNG KHÔNG CÓ TIÊU CHÍ, LOANH QUANH CHẤM TRAO CHO CÁC ĐỒNG ĐỘI THUỘC HỆ “NƯỚC PHỞ MẬU DỊCH” GIỐNG MÌNH

NHÀ PBVH NGUYỄN HOÀNG ĐỨC ĐỀ NGHỊ HỘI NHÀ VĂN PHẾ TRUẤT GIẢI THƯỞNG TẬP THƠ “GIỜ THỨ 25” CỦA PHẠM ĐƯƠNG VÌ LÝ DO “ĐẠO VĂN VÔ VĂN HÓA TRẮNG TRỢN”

KINH HOÀNG: CHỦ TỊCH HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM HỮU THỈNH “THAY MẶT” BAN THƯỜNG VỤ TIẾP TỤC LỪA ĐẢO HÀNG TRĂM CƠ QUAN THÔNG TẤN BÁO CHÍ KHI CÔNG BỐ SAI TÊN TÁC PHẨM ĐOẠT GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC VÀ BẰNG KHEN NĂM 2012 (Văn chương +). “Hậu quả là hàng trăm cơ quan thông tin báo chí tiếp tục đưa tin sai về tên tác phẩm đoạt giải thưởng và bằng khen của Hội Nhà văn VN. Không biết, với việc không phải đứa con đẻ của mình được trao giải thưởng và bằng khen, nhà thơ THANH THẢO và nhà thơ KHUẤT BÌNH NGUYÊN có dám can đảm từ chối hay không?”
- “NÓI LẠI CHO RÕ” CƠ QUAN NGÔN LUẬN HỘI NHÀ VĂN VN ĐANG TỰ BÔI PHÂN TRÁT PHẤN NHEM NHUỐC GƯƠNG MẶT TRỊCH THƯỢNG, KẺ CẢ CỦA MÌNH (Văn chương +).
- GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN 2012: CHUYỆN HỦY DIỆT CẢM XÚC CỦA NGƯỜI NHẬN GIẢI, TRAO GIẢI VÀ CẢ NHỮNG NGƯỜI TỪ CHỐI GIẢI
- NGUYỄN VĂN THỌ: LÀ NHÀ VĂN, TA SỐNG VỚI BẠN ĐỌC, HAY LÀ TA SỐNG VỚI CÁI GIẢI THƯỞNG CỦA BẤT KỲ ĐOÀN THỂ CƠ QUAN NÀO?
- VĂN CHINH TRẢ LỜI PV TIỀN PHONG : SỰ NHẾCH NHÁC CỦA HỘI NHÀ VĂN CÓ MỘT PHẦN CỦA ÔNG HỮU THỈNH
- "NHỨC ĐẦU" VÌ GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN 2012: VÌ ĐÂU NÊN NỖI?
- UV BCH HỘI NHÀ VĂN TRẦN ĐỨC TIẾN: “IM ỈM LÀ CÓ KHI LÀ BỊ CHAN TƯƠNG ĐỔ MẺ VÀO MẶT OAN”
Ngày 24/1
Đặc biệt loạt bài về giải thưởng HNV:
- HOÀNG TUYÊN – CÁN BỘ BAN SÁNG TÁC HỘI NHÀ VĂN KHẲNG ĐỊNH “KHÔNG COI THƯỜNG” KHI GỌI ĐIỆN THOẠI CHO TÁC GIẢ PHẠM NGỌC CẢNH NAM
- NGUYỄN VĂN DÂN: CHỈ CÓ NHÀ THƠ HỮU THỈNH TỪ CHỐI GIẢI THƯỞNG VÌ LÝ DO CÁ NHÂN, CÒN TẤT CẢ CÁC TRƯỜNG HỢP KHÁC ĐỀU LÀ TỪ CHỐI “TẶNG THƯỞNG VÀ BẰNG KHEN”
- TRẦN TRƯƠNG – TẠP CHÍ THƠ VIỆT NAM “BẸO ĐÍT” NHÀ VĂN Y BAN BẰNG 1 MẨU VĂN BE BÉT CHÍNH TẢ
- NHÀ THƠ PHAN HOÀNG: CẦN LÊN TIẾNG MẠNH MẼ VỀ “VĂN HÓA GIẢI THƯỞNG”
- TRANG WEB HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM “NÓI LẠI CHO RÕ”
- NHÂN ĐỌC THƯ NGỎ CỦA NHÀ VĂN Y BAN: NẾU CÓ AI “NGỬI VĂN”

(Theo : http://vanchuongplusvn.blogspot.com )

Ngoài những bài trên, còn khá nhiều bài trước đó lên án giải thưởng Hội Nhà Văn VN năm 2012, chê bai là dở, là chạy giải, lợi ích nhóm…Trong mấy chục bài chê bai, phê bình giải thưởng này, chỉ có một người vừa được giải là nhà văn Văn Chinh khen ban giám khảo làm việc rất nghiêm túc, rất chi là sáng suốt khi đồng loạt bỏ phiếu cho tập tiểu luận phê bình có tên : “Đa cực và điểm đến” của ông được giải thưởng chính thức.

Ngày 18/01/2013, trên blog : http://vanchuongplus.blogspot.com người chủ biên có lời mào đầu bài viết : “Sự bôi nhọ có thể nằm ở lời nói dối, chân lý thì không ?” của Văn Chinh, nhằm bênh vực Hữu Thỉnh đang bị dư luận hè nhau kết luận, rằng bài thơ “ Hỏi” của ông này đạo thơ của một nhà thơ nữ người Đức. Lời mào đấy này như sau :
“Friday, January 18, 2013
“VĂN CHINH BÊNH BÀI THƠ HỎI LÀ BÊNH CHỦ TỊCH HỘI NHÀ VĂN VN” VÀ ĐÃ KIẾM ĐƯỢC GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN 2012 !?
Giải thưởng Lý luận phê bình Hội Nhà văn VN 2012 đã được trao cho cuốn “Đa cực và điểm đến” của nhà văn Văn Chinh. VC+ đã nhận được khá nhiều email về giải thưởng Hội Nhà văn năm nay.

Đã có ý kiến nêu rằng, sau những lần “đeo khiên” che chắn nắn bi cho nhà thơ – Chủ tịch Hội Nhà văn Hữu Thỉnh mà giờ Văn Chinh có tí “ti bột ngọt”; còn cái loại vung tay, đá chân ngang ngóc nhìn giải thưởng mà khóc nhé, sữa thơm chỉ vắt cho chú nào biết cúi xuống. Bài biện dưới của nhà văn Văn Chinh, cho rằng bài thơ “Hỏi” của nhà thơ Hữu Thỉnh không đạo văn...
Dù Văn Chinh cũng giỏi cãi, song “hàng lộ” rồi, thơ ta và thơ tây đều “nguyên con” ở đấy, dân tình có quáng đâu mà nhìn gà hóa quốc. Thật là, yêu nhau như thế bằng mười hại nhau, làng văn đều dưới quyền ông chủ tịch Hội, đã lâu rồi, đều lờ lớ lơ quên đi bài thơ “Hỏi”, thì Văn Chinh lại bạo gan bới thối lại. Phải chăng…?
Xin đánh tên bài dưới đây vào công cụ tìm kiếm http://googe.com để đọc bài  của Văn Chinh : “SỰ BÔI NHỌ CÓ THỂ NẰM Ở LỜI NÓI DỐI, CHÂN LÝ THÌ KHÔNG!”

http://vanchuongplusvn.blogspot.com/2013/01/van-chinh-benh-bai-tho-hoi-la-benh-chu.html

Đây là sự tóm tắt những lời buộc tội ông Hữu Thỉnh đạo thơ, nguyên cớ để Văn Chinh phản bác :
“BÀI THƠ “HỎI” CỦA HỮU THỈNH VÀ BÀI THƠ “THƯỢNG ĐẾ SINH RA MẶT TRỜI” CỦA CHRISTA REINIG, AI “ĐẠO” AI?
Đặt hai bài thơ của hai tác giả một Đức một Việt cạnh nhau, sao chúng giống nhau đến thế. Giống nhau về lập tứ, giống nhau về tinh thần, giống nhau về tư tưởng, giống nhau về cả cách hỏi, cách lập ngôn. Nó như là thơ “phỏng dịch” của nhau vậy. Christa Reinig chọn 4 đối tượng để hỏi: Gió, mặt trời, sao, người. Hữu Thỉnh cũng chọn 4 đối tượng để hỏi: Đất, nước, cỏ, người. Ba đối tượng trên có thể thay đổi thế nào cũng được, ví dụ có thể hỏi bò, lợn, chó xem nó sống với nhau thế nào, chắc cũng sẽ có những câu trả lời hay.”

( trích bài trên của Thường Nhân in trên Talawas 2006- http://vanchuongplus.blogspot.com  in lại)

Văn Chinh hãy nghe nhà phê bình văn học Đặng Tiến ( ở Pháp) khẳng định Hữu Thỉnh có đạo thơ của bà nhà thơ Đức : “Thượng Đế tạo ra mặt trời” nguyên bản tiếng Đức của Christa Reinig” :

“Ông Hữu Thỉnh thì cật lực mài dũa; ông đã cố tình thay thế những hình ảnh phụ thuộc gió, mặt trời, sao, bằng: đất, nước, cỏ, và giữ hình ảnh chính ở cuối bài là người, và phát triển ý tưởng chỉ đạo này bằng cách lặp lại ba lần.Như vậy, ông đã thao tác ý thức và công phu. Chữ đạo văn hay đạo thơ dùng ở đây là đúng, công bằng và chính xác. Còn tinh thần hay tư tưởng trong một bài thơ, lại là chuyện khác, dông dài lắm. Tôi chỉ nêu hai điều:
Ý tưởng trong một câu thơ hay bài thơ là cái mà độc giả (và Hữu Thỉnh) hiểu, không phải là điều mà tác giả nhất thiết muốn nói, dù được google xác nhận.
Nguyên tác của Christa Reinig là một bài thơ hay, ý nhị, nhuần nhị, sâu lắng; phóng tác của Hữu Thỉnh là một bài thơ xoàng, không dở không hay. Do đó không thể so sánh tinh thần hay tư tưởng. So sánh là tội nghiệp cho Hữu Thỉnh. Ta đối chiếu một nguyên tác hội họa với sao bản hay phiên bản thì thấy ngay.
Tóm lại: Hữu Thỉnh có đạo văn, một cách ý thức, công phu và tinh tế. (………)
Orleans, 20.11.200
(TRÍCH BÀI “VĂN ĐẠO… ĐẠO VĂN CỦA ĐẶNG TIẾN
 In trên talawas ngày 16.11.2006, blog http://vanchuonglus.blogspot.com in lại)

Xin trích bài : “Đi tìm những bài thơ phóng tác” của Đại Lãng du Tử khẳng định Hữu Thỉnh phóng tác bài thơ : “ Thượng Đế tạo ra mặt trời” của Christa Reinig để làm ra bài thơ “ Hỏi”; bài này từng in trên Talawas do http://vanchuonglus.blogspot.com vừa in lại :

“Trong tạp chí Văn học nước ngoài số 6 năm 2002 có đăng bản dịch của Quang Chiến:

Thượng đế đã làm ra mặt trời

Tôi gọi gió
Gió hãy trả lời tôi
Gió nói
Tôi ở bên em.

Tôi gọi mặt trời
Mặt trời hãy trả lời tôi.
Mặt trời nói
Tôi ở bên em.

Tôi gọi các vì sao,
Xin hãy trả lời tôi
Các vì sao nói
Chúng tôi ở bên em.

Tôi gọi con người,
Xin hãy trả lời tôi
Tôi gọi - im lặng
Không ai trả lời tôi.

Quang Chiến dịch

Trước đây, ở miền Nam cũ cũng có bản dịch tôi không nhớ của ai, xin ghi lại như sau:

Thượng đế sinh ra mặt trời

Tôi hỏi gió
Gió với em thế nào?
Gió luôn ở bên em.

Tôi hỏi mặt trời
Mặt trời với em thế nào?
Mặt trời luôn ở bên em.

Tôi hỏi các vì sao
Các vì sao với em thế nào?
Các vì sao luôn ở bên em.

Tôi hỏi con người
Con người với em thế nào?
Con người im lặng không ai trả lời tôi

Tình cờ, gần đây tôi cũng được biết một bài có thể gọi là phỏng dịch của nhà thơ Hữu Thỉnh, đó là bài Hỏi:

Hỏi

Tôi hỏi đất: Đất sống với đất như thế nào?
Chúng tôi tôn cao nhau.

Tôi hỏi nước: Nước sống với nước như thế nào?
Chúng tôi làm đầy nhau.

Tôi hỏi cỏ: Cỏ sống với cỏ như thế nào?
Chúng tôi đan vào nhau làm nên những chân trời.

Tôi hỏi người:
Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
Người sống với người như thế nào?

***

Xin nhắc lại, tôi không phải người có thẩm quyền, mà chỉ lãng du trong lĩnh vực này, xin được ghi nhận như vậy, kính mong các nhà chuyên môn nên quan tâm đến hiện tượng văn chương độc đáo và thật thú vị này.”
Đại Lãng Du Tử
http://vanchuongplusvn.blogspot.com/2013/01/ai-lang-du-tu-i-tim-nhung-bai-tho-phong.html

Văn Chinh đúng là Triệu Tử Long xông vào hang hùm cứu ấu chúa Hữu Thỉnh. Việc “ gái có công chồng chẳng phụ” xưa nay, là lẽ thường. Việc ông Hữu Thỉnh trả ơn cho Văn Chinh bằng cái giải thưởng phê bình năm 2012 này, âu cũng là chuyện “ ông mất chân giò, bà thò chai rượu”.

Nhưng thật bất ngờ, sau khi ăn táo của ông Hữu Thỉnh ( thậm chí xơi cả rổ táo của Hội Nhà Văn), Văn Chinh đùng đùng quay phắt lại chửi kẻ vừa ban táo dai cho mình, vung rìu toan chặt cây táo là sao ?

Qúy vị để ý sau tấm chân dung Văn Chinh, báo Tiền Phong in ngay một câu văn khủng của ông, như sau :

“Nhà văn Văn Chinh tin rằng sự tử tế đang đến dần dần ở Hội Nhà văn VN.”

Cứ câu văn này mà suy, ý Văn Chinh bảo Hội nhà văn vốn là một hội không tử tế . Sau khi Hội trao giải thưởng cho ông, thì sự tử tế mới đang dần dần trở lại? Như vậy, Trong các Hội viên phê bình Hội, Văn Chinh là một hội viên dám xúc phạm hội nhất, rằng : Hội nhà văn Việt Nam từng là một Hội không tử tế. Lừa nhau là không tử tế; dối trá là không tử tế; ăn cắp là không tử tế; lưu manh là không tử tế…Chẳng lẽ, một hội văn chương “phương diện quốc gia”, theo Văn Chinh,lại là một Hội hàm chứa mấy thuộc tính không tử tế trên ư ?

Có thể, do biết mình nói hớ, ai lại đi kết luận cả cái Hội to ngang bằng giời ấy là HỘI KHÔNG TỬ TẾ, nên Văn Chinh nói thêm kiểu vuốt đuôi. Rằng, Hội Nhà Văn và ông Hữu Thỉnh tuy có nhiều lúc không tử tế, nhiều lúc nhếch nhác, suy thoái về đạo đức, suy thoái về chính trị…nhưng NÓ VẪN TỐT, như sau :

“HNV có nhiều cái nhếch nhác trong cái suy thoái chung của đạo đức, chính trị, xã hội. Nhưng nó không nhiều cái xấu hơn bất cứ ngành nào khác, thậm chí so ngay cả với báo chí.
Sự nhếch nhác của Hội nếu có, có một phần trách nhiệm của Hữu Thỉnh. Nhưng đó là nhà thơ số 1 hiện nay và là người tốt.”

Một người, một Hội đã suy thoái về đạo đức, đã từng không tử tế, sao vẫn còn được gọi là tốt, thưa ông Văn Chinh ?

Đúng là sau khi nhận giải, Văn Chinh nằm ngửa đấm với, đúng như đầu đề cuộc phỏng vấn của Dương Phương Vinh trên “ Tiền Phong” online.,.

Sài Gòn ngày 25-01-2013

Trần Mạnh Hảo

Thứ Tư, 23 tháng 1, 2013

Cõi lặng của Nguyễn Khoa Điềm yếu kém - phi thơ ca

Cõi lặng - yếu kém dưới mức trung bình

Thứ tư - 08/02/2012 17:51
  CÕI LẶNG (*) CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM  - YẾU DƯỚI MỨC TRUNG BÌNH
  
   Tập Cõi Lặng của Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm do Nhà xuất bản Văn Học ấn hành năm 2007.
  Tập có 56 bài, 9 bài thơ viết theo hình thức truyền thống (có bài lỗi vận – Tắm bến Hà Khê, Đọc thơ tứ tuyệt của Đỗ Mục, Người nằm bên Hồ Tây...), 44 bài viết theo “tân hình thức”, không vần không điệu, tức là Vô lối, 3 bài theo thể hiện đại – thơ tự do.
 Nhiều người tìm đọc vì sự tò mò là chính.
Họ xem ông nhà thơ làm quan to tột đỉnh khi hồi hưu có như những ông quan xưa hồi hưu, có khác gì thường dân đang quằn quại khổ đau dưới một sự toàn trị không. Hoá ra ông “quan to” hồi hưu lại hậm hực, ấm ức, tiếc rẻ, khẩu khí có khi còn quá đáng hơn cả dân thường, bài Vô lối sau:
“Bây giờ là lúc có thể chia tay với điện thoại để bàn, cạc vi- dít, nắm đấm mi – crô.
Tự do lên mạng với đời sống, ăn ngủ với bụi đường...
...Anh là một với cánh đồng, cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ...”
(Bây giờ là lúc).
  Ông quan to, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm không dấu sự nuối tiếc, bực bội, cả căm tức khi mình bị buộc về hưu giữa chừng, đang lúc kiếm ra nhiều bỗng lộc. Tiếc không thay đổi được thời gian, thời gian đã đóng đinh lên thân thể; hối không làm được như gã quan Tàu trước đây đổi 83 tuổi ra 38 tuổi để tại vị nhiều thập kỷ nữa, để hốt vàng, hốt bạc. Bao nhiêu cái tiếc, bao nhiêu cái tức, cái căm.
 (Nghĩ về mất chức mà đau
Từ nay thôi hết xe tàu vi vo
 (Vè cụ Thượng mất chức – Dân gian)
  Làm quan đời nay nó hái ra toàn ngọc tạ vàng tấn, chứ không phải chỉ ba đấu gạo như tri huyện, nhà thơ Đào Tiềm xưa, và 40 đô la/tháng như Phó tổng thống, nhà thơ Bungari , Đimi trô va... nên các quan khát chức, khát quyền điên dại, oán trách đồng liêu hảm hại, oán trách tạo hoá phôi pha tuổi tác. Sự hồi hưu ở quê là một sự đi đày, chứ không phải là từ quan về vui thú điền viên như quan xưa:
“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người đến chốn lao xao”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
Mà:
“Tóc trắng như thời gian thích chữ lên trán
Đày anh về quê
Không thể chạy trốn số phận”
(Nhặt ghi)
   Và như vậy hoá ra những bài thơ viết về quê hương, cố quận như: Làng Phao Võng, Cánh đồng buổi chiều, Thành phố sớm xuân, Viết cuối năm, Về quê đón tết... đều giả hết!
   Nguyễn Khoa Điềm không dấu mình nỗi đam mê quyền lực, đam mê làm quan đến nỗi Huế và Hà Nội thời giao thông hiện đại, xe con đời mới to chỉ đỉ 7 tiếng đồng hồ là đến nhà mà để lỡ cả mùa thu, lỡ cả mùa đông. Lỡ cả mùa thu, lỡ cả mùa đông không phải lo dân chống bão lụt, chống hạn hán, lo cầm quân đánh giặc ngoài biên thuỳ, mà lỡ cả mùa thu, lỡ cả mùa đông là cấm mạng, chặn tường lửa, cấm tư tưởng dân chủ, cấm những người” nhìn ra bốn phương rực rỡ văn minh, tức tối nước nhà cam đường hủ bại” lỡ vì:
“Đã lâu anh chưa về Huế
Hẹn vào thu rồi lỡ cả mùa đông
Anh mải mê trên đường hoạn lộ
Ngảnh về quê hư ảo một vầng trăng”
(Viết cuối năm)
 Vì đam mê làm quan, đam mê quyền lực nên ông quan Nguyễn Khoa Điềm không dấu một thủ đoạn chính trị nào để đạt quyền chức:
“Nhiều khi đá đá dạy ta mềm mỏng”
(Hy vọng)
  Đến đây chúng ta nhớ tích cũ tay quan Lưu Sử Đức cũng bên Tàu. (Làm quan thì phải học Tàu).
  Ông bố muốn con làm quan to nên ra tình huống như nền giáo dục tiên tiến các nước hay ra tình huống cho sinh viên thực hành.
   Ông bố nói:
 - Nếu quan trên mắng mỏ nhổ nước bọt vào mặt con thì con phải làm sao?
Lưu Sử Đức thành thực trả lời:
 - Con im lặng và sẽ lấy khăn lau đi!
 Ông bố giật nảy mình như đỉa phải vôi:
- Không được! Không được! Hỏng hết bánh kẹo! Hỏng hết bánh kẹo! Cứ để vậy, cứ để vậy, cho nó tự khô!
   Nếu Lưu Sử Đức sồng lại thì phải đến học ông quan “mềm mỏng” Việt Nam Nguyễn Khoa Điềm thêm mấy chiêu nữa!
   Vì đam mê quyền lực, vì súng đẻ ra chính quyền (Mao Trạch Đông) nên tình thương con người trong thơ Nguyễn Khoa Điềm nhạt nhẽo, sống sượng, sáo rỗng, vô tình, không thật một chút nào. Những câu đại ngôn sau vừa kém thi pháp, vừa kém nhân đạo:
“Người ơi, tôi yêu người tha thiết
Tôi sống với người, chết vì người”
(Cõi lặng)
  Nhiều nhà thơ ở Huế bình và chê Cõi Lặng là tình cảm vờ vịt. Thật không sai chút nào!
  Nhiều bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm viết theo kiểu Vô lối dưới vè như: Anh đợi, Ngồi với cây long não nhà bạn, Hoa quỳ vàng...
 “Vứt hết sách vở
Hai tay bụi trần
Núi cao anh trèo
Sông sâu anh lội...
(Anh đợi)
   Cõi lặng có nhiều bài thua cả những bài ở các tập thơ trước như bài Tháng tư:
“ Tháng tư lá xà cừ xào xạc mặt đường
Dãy tường cổ nảy những chùm lá mới
Hà Nội thì thầm nghìn tuổi
Mừng Đảng qua một mùa đại hội”
(Tháng tư)
“Tháng tư dông chuyển bồn chồn
Hạt mưa vây ấm, nỗi buồn cách xa
Phía em, phía của quê nhà
Trắng là tóc mẹ, xanh là áo em!”
(Đất ngoại ô)
 Trong Cõi Lặng Nguyễn Khoa Điềm lạm dụng từ Hán Việt chưa Việt hoá như: Vô ngôn, Hoạn lộ, Hư tự...
“Bao giờ, nơi nào anh đọc được mình
Qua nỗi đau nhân loại
Vô ngôn
Hư tự”
(Những quyển sách)

 Khách quan mà nói thì những bài thơ mà Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết theo thể thơ truyền thống khá hơn một chút, có thơ hơn một chút không phải như các bài ôp lối hủ nút, lởm khởm như: Mưa thu, Bạn thơ, Người nằm bên Hồ Tây, Lên núi thăm chùa...”
“Ta ngồi như cội trúc
Gội mưa thu bốn bề
Nghĩ mình không lỗi hẹn
Với người đang xa quê

Chỉ mong em trở lại
Kịp hái chùm tóc tiên
Cắm lên bình lam ngọc
Mừng một ngày lãng quên”
(Mưa thu)
   Cõi lặng là một tập sách yếu kém dưới mức trung bình.

Hà Nội ngày 1-2 – 2012
 Đỗ Hoàng
(*) Nhà xuất bản Văn học năm 2007


            DỊCH  VÔ LỐI CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM

Nguyên bản:

CÕI LẶNG (*)

Cõi lặng. Anh soi thấy mặt mình
Với nỗi buồn trong sạch

Cõi lặng. Không tiếng động nào khác

Người ơi, tôi yêu người tha thiết
Tôi sống vì người, chết vì người

Cõi lặng. Tôi vượt qua ghềnh thác
Đến những miền trong xanh...
 Ngày 17.1.2003
--
(*) In trong tập Cõi Lặng – NXB Văn học năm 2007

Viết liền văn xuôi:

CÕI LẶNG

Cõi lặng. Anh soi thấy mặt mình với nỗi buồn trong sạch. Cõi lặng, không một tiếng động nào khác - Tiếng đập trái tim anh. Người ơi, tôi yêu người tha thiết. Tôi sống với người, chết vì người. Cõi lặng, tôi vượt qua ghềnh thác đến những miền trong xanh.

Nhận xét:
  Đây là điển hình cho loại Vô lối đang thịnh hành. Nó tù mù, tờ mờ, chuột không ra chuột dơi không ra dơi. Nếu gọi là thơ thì là một sự xúc phạm rất lớn với thi ca!
 Khi chuyển những bài Vô lối qua cách viết kiểu văn xuôi mới biết các bài Vô lối ấy thì thấy nó kệch cỡm, bệnh hoạn biết nhường nào. Đúng là một quái thai của văn chương.
  Đấy là mới nhìn hình thức biểu hiện, chứ soi vào ý tứ, câu chữ và tu từ ( hay là thi pháp) thì không biết gọi chúng là gì!
 Riêng hai câu đại ngôn “Người ơi, tôi yêu người tha thiết/ Tôi sống vì người, chết vì người” thì giống như con sói hú lên: “Cừu ơi, ta yêu Cừu tha thiết/ Ta sống vì Cừu, ta chết vì Cừu!”

Dịch sang thơ Việt:
Đỗ Hoàng dịch:
             
    CÕI LẶNG

Cõi lặng, anh soi thật mình
Nỗi buồn trong sạch, trắng trinh giữa trời.

Cõi lặng, không tiếng nào rơi,
Tiếng tim anh đập muôn đời nào yên!

Yêu người tha thiết, thiêng liêng,
Nguyện cùng sống chết, đảo điên vì người!

Cõi lặng, ghềnh thác vượt rồi,
Đến miền trong sạch, tuyệt vời xanh trong!

Hà Nội ngày  29 - 1 – 2012


Nguyễn Khoa Điềm

Nguyên bản

ANH ĐỢI (*)

Đến sớm một ngày
Vượt trước thôi đường
Cao hơn thói thường
Anh đợi

Đánh đổ một đời
Cuối đất cùng trời
Anh đợi

Anh tìm em
Từ cõi hư vô
Đến phiên chợ trời
Âm dương xanh thẳm
Thương nhớ bồi hồi
Anh đợi

Vứt hết sách vở
Hai tay bụi trần
Núi cao anh trèo
Sông sâu anh lội
Anh đi tìm em
Mây chiều bạc tóc
Thương nhớ lao lung
Một thời trận mạc
Một thời cấy trồng
Anh là hạt thóc
Em là cánh đồng
Gieo bao thương nhớ
Vẫn còn mênh mông

Còn chăng điều tốt
Trong cuộc đời này?
Còn bao nông mặn
Em dành hai ta?
Ngàn năm, trăm năm
Anh mong, anh đợi
Một ngày xuôi tay
Đường xa để lại
Anh còn ngoái lại
Những lời hôm qua:
          Anh đợi!
Ngày 27 – 9 -2006

Nhà thơ Vũ Quần Phương có bài Đợi
“Anh đứng một giờ
Đất lạ thành quen”
Một sự phát giác từ hiện thực, rất hay, ai cũng biết  nhưng không ai nói được. Bài Anh đợi của Nguyễn Khoa Điềm vô duyên hết chỗ nói. Nó vừa quê, vừa cổ lỗ sỉ, không có phát hiện gì mới, lại dưới cả vè thì độc giả làm sao chấp nhập được!

Đỗ Hoàng Tạm dịch qua vè truyền thống người Việt:

VÈ ANH ĐỢI

Vè vẻ, vè ve
Nghe vè anh đợi.
Đến sớm một ngày
Không thì trời tối.
Vượt trước thôi đường
Cao hơn thói thường
Anh chờ, anh đợi

Anh tìm, tìm em
Từ cõi hư vô
Đến phiên chợ trời
Âm dương sáng tối
Thương nhớ bồi hồi
Anh chờ, anh đợi.

Vở sách trôi nổi
Hai tay bụi trần
Núi cao anh lần
Sông sâu anh lội
Anh đi tìm em
Mây chiều tóc rối
Thương nhớ lao lung
Chiến trường lạc lối
Một thời cấy trồng
Anh hạt thóc thối
Em là cánh đồng
Gieo bao thương nhớ
Vẫn còn mênh mông!

Còn chăng điều tốt,
Trong cuốc đời này?
Còn bao nồng mặn
Dành ta, ai hay?
Ngàn năm, ngàn năm
Anh mong, anh đợi
Một ngày xuôi tay.
Đường xa để lại
Anh ngoái lần này,
Những lời hôm qua!
Vẫn còn chói lọi!
Vè vẻ, vè ve
Nghe vè anh đợi!

Hà Nội ngày 29 – 1 - 2012

Ngyễn Khoa Điềm

Nguyên bản:

NGỒI VỚI CÂY LONG NÃO NHÀ BẠN

Ngồi với tôi mỏi mê
Anh quay vào bếp
Xong nồi lục đục
Mỗi âm thanh dễ nhận ra
Củi – diêm - nước mắm
Và những gì gian khó
Không âm thanh

Tôi một mình
Một nình với cây long não
Cây long não già mà lá trẻ
Như ta giữa cuộc đời này
Cây long não lặng im
Cây long não trịu trần
Năm tháng bên nhau
Nhận lấy phấn bụi bặm
Trả ta hương lành
Và một chút gì sâu xa
Không rõ nữa nữa

Bây giờ cây tiếp chuyện tôi
Gác một chân lên hè phố
Chúng tôi nói về anh
Những trang chứa biết đến của một người cầm bút...

Bên cầu Phủ Cam, tháng 5 năm 1982

Đỗ Hoàng dịch:

VỚI BẠN

Ngồi với tôi mỏi mê
Anh lại quay vào bếp
Tiếng song nồi, nhôm thép
Âm thanh dễ nhận ra

Nước mắm, muối, diêm, cà...
Vì những gì gian khó
Chắng có một âm thanh!

Còn tôi chỉ một manh
Một mình với long não
Long não già lá trẻ
Như ta cuộc đời này.
Cây long não lặng im
Một thân hình trần trụi
Năm tháng ta bên nhau
Nhận lấy phần bậm bụi
Trả cho ta hương lành
Chút sâu xa vời vợi
Mà không còn rõ nữa.

Bây giờ cây tiếp tôi
Gác chân lên hè phố
Chúng tôi nói về anh
Trang sách còn viết dở!...

Hà Nội ngày 29- 1 – 2012
Nhà thơ  Đỗ Hoàng

Nguyễn Khoa Điềm
Nguyên bản:

HOA QUỲ VÀNG

Thông đã mọc nghìn năm
Thành phố trăm năm
Anh đến một ngày
Đà Lạt trẻ
Mà anh thì quá tuổi
Hoa quỳ vàng
Lặng im bên cửa

Hoa quỳ vàng
Ái ngại
Nở chờ anh

Đã sang thu?
Là hạ?
Vẫn là đông?
Không cao thấp
Sao chập chùng

Ẩn hiện
Hoa quỳ vàng
Nghiêng nghiêng
Cánh mỏng
Hồn cao nguyên
Nương náu đến bao dung

Em thanh xuân
Anh quá đỗi
Ngại ngùng với sương gió
Đượm buồm từng tấc cỏ
Đà Lạt
Anh có gì
Để nhớ
Sao âm thầm lưu luyến
Tôi muôn xưa

Hoa quỳ vàng
Em chợt đến
Sau mưa
Để chợt héo
Trước ngày đông
Tháng giá
Anh chợt đến
Và chợt về
Xa lạ
Chợt trăm năm
Một khoảnh khắc
Giao mùa
Hoa quỳ vàng
Hoa quỳ nở
Như mưa.
Ngày  22 .1. 1993

Nhận xét:
Một ông trên 70 tuổi mang danh nhà thơ, giữ trọng trách quốc gia mà viết như thế này thì hoạ là điên loạn.

Dịch dễ hiểu:

HOA QUỲ VÀNG

Thông đã nghìn năm
Phố thị trăm năm
Anh đến một ngày
Ơi! Đà Lạt trẻ.
Anh thì quá thể
Mà hoa quỳ vàng
Lặng im bên cửa
Là hoa quỳ vàng
Chút gì ái ngại
Nở chờ anh sang!

Là đã tới thu?
Hay là đang hạ?
Hay vẫn là đông
Mịt mùng sương giá.
Không cao, không thấp
Mà sao vẫn chập chùng!

Mờ mờ ẩn hiện
Ơi, hoa quỳ vàng
Nghiêng nghiêng cánh mỏng
Hớp hồn cao nguyên
Chút gì nương náu
Bao dung nhân duyên!

Em mãi thanh xuân
Anh thì quá đỗi
Ngại ngùng sương núi
Tấc có đượm buồm
Đà Lạt tơ vương.

Anh có gì nhớ
Mà sao âm thầm
Mà sao lưu luyến
Tới buồn muôn xưa!

Ơi hoa quỳ vàng
Và em chợt đến
Sau mưa mặn nồng
Và để chợt héo
Tháng giá ngày đông
Và anh chợt đến
V à lại chợt về
Xa lạ buồn không!
Bất chợt trăm năm
Trong một khoảnh khắc
Trời đất giao mùa

Hoa quỳ vàng nở
Rỡ ràng như mưa...

Hà Nội ngày 29 – 1- 2012
Đỗ Hoàng

Nhận xét:

Bài này kém đến mức không muốn bàn nữa! Chí nguy! Chí nguy!
Hà Nội ngày 29- 1 – 2012
 Đỗ Hoàng


Bốc thơm đạo chích Bọ Hoàng Quang Thuận

Hiện tượng tâng bốc thơ của giới chức Việt Nam

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2012-08-25
Trong nhiều năm qua nền văn học Việt Nam không xuất hiện một tập thơ xuất sắc nào, có lẽ đó là lý do để người ta chú ý đến một tác giả khi tác phẩm của ông hay bà ta gây sự chú ý của dư luận qua một số bài viết ồn ào, vượt quá sự chừng mực của một bài phê bình văn học.
 
 
Tác phẩm đang gây tiếng động và được soi dưới nhiều khía cạnh mà phần tiêu cực áp đảo mọi cố gắng nhằm đưa nó lên ngang hàng với những danh tác thế giới. Đó là tập thơ viết về núi non Yên Tử của ông Hoàng Quang Thuận.

Hay đến lạnh người

 
Tác phẩm “Thi Vân Yên Tử” là một tập thơ được nhiều văn nghệ sĩ, phê bình gia cho là mang đậm chất Thiền gồm những bài thơ đường luật được sáng tác bởi Giáo sư TS Hoàng Quang Thuận. Ông Thuận là viện trưởng của một viện khoa học thông tin cấp nhà nước chứ không phải là một người kiếm sống bằng nghề làm thơ hay ít ra sáng tác thơ như một thúc bách của tâm hồn.
 
“Thi Vân Yên Tử” bắt đầu gặp sóng gió khi Tạp chí Nhà Văn tổ chức buổi hội thảo mang tên “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” với những bài tham luận khen ngợi hết mức từ cửa miệng của những người như Dương Kỳ Anh, Hữu Thỉnh, Hữu Ước, Nguyễn Hữu Sơn, Nguyễn Trọng Tân, Đỗ Ngọc Yên, Nguyễn Văn Dân, Hữu Việt, Ngô Văn Phú, Hoàng Hữu Đản….
 
Những chức sắc trong giới ngoại giao và tuyên huấn cũng có mặt trong buổi hội thảo như các ông Nguyễn Di Niên – nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; ông Nguyễn Thanh Sơn – Thứ trưởng Bộ ngoại giao; PGSTS Nguyễn Hồng Vinh – Chủ tịch Hội đồng LLPB VHNT Trung ương; TS Lê Thị Bích Hồng – Vụ phó Vụ Văn hóa Văn nghệ, Ban Tuyên giáo trung ương; Trung tướng, nhà văn Hữu Ước.
 
Nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà Văn khen nức nở một trong những bài thơ của Hoàng Quang Thuận rằng “Đây là bài thơ tiêu biểu cho hai bút pháp thiêng liêng hóa và đời thường hóa, nhân vật trong bài thơ này phải là người tu đắc đạo mới lấy trăng thay cho giường chiếu mà không sợ phàm tục, nhìn thấy trong trăng còn nhiều trăng nữa, tức là qua một vật mà nhìn thấy cái vô biên của vạn giới.”
 
Còn nhà thơ Dương Kỳ Anh, cựu Tổng Biên tập báo Tiền Phong thì nhận xét:
 
“Khi tôi đọc lại những tập thơ của Hoàng Quang Thuận để tìm những câu thơ hay cho tập sách mà tôi đang tuyển chọn, tập “Những câu thơ hay đến lạnh người” (tuyển chọn thơ hay Đông, Tây, kim, cổ), trong tôi bỗng ngân lên:
 
... Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc
Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm
Tiếng sáo thiền ca vui bất tận
Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng...
Quả là những câu thơ hay đến lạnh người, những câu thơ nằm trong tiềm thức của tôi, tôi đã thuộc lòng, những câu thơ mà tôi đồ rằng nó đã nhập vào Hoàng Quang Thuận như người ta nhập đồng.
Nhà thơ Dương Kỳ Anh
Quả là những câu thơ hay đến lạnh người, những câu thơ nằm trong tiềm thức của tôi, tôi đã thuộc lòng, những câu thơ mà tôi đồ rằng nó đã nhập vào Hoàng Quang Thuận như người ta nhập đồng. Bởi khi đọc lại các bài cổ thi của các nhà thơ Việt Nam, các bài thơ của các nhà thơ đời Đường... Tôi khó mà phân biệt đâu là xưa, đâu là nay, đâu là cổ, đâu là tân, nó như là một sự ám ảnh của tâm linh.”
 
Hình như sợ không đủ “công năng” minh họa cái huyền bí cho thơ của Hoàng Quang Thuận, Dương Kỳ Anh đem gia phả của nhà thơ ra để thuyết phục người đọc khi viết:
 
“Đến nhà Hoàng Quang Thuận ở Sài Gòn tôi mới biết, vợ anh chị Phạm Thị Kim Thanh là hậu duệ hoàng tộc nhà Nguyễn, còn Hoàng Quang Thuận (sinh năm 1953 ở Quảng Bình) là cháu mấy đời một thái y nổi tiếng thời Nguyễn.”
 
Chưa hết Dương Kỳ Anh làm cho người đọc bài viết của ông xấu hổ lây khi ông nhảy cóc sang khen cô con dâu của tác giả, một thiếu nữ Thái Lan lấy con của nhà thơ mà sắc đẹp của cô lại... trôi tuột vào thơ của cha chồng! Dương Kỳ Anh viết:
 
“Hôm cưới con trai đầu của anh từ Mỹ về, cả hội trường vỗ tay rào rào khi cô dâu và chú rể xuất hiện. Cô con dâu người Thái Lan đẹp như hoa hậu làm vợ chồng tôi cứ ngây ra nhìn...
Và, tôi liền nhớ tới bài thơ Núi ngọc mỹ nhân của anh:
 
Mây ôm người ngọc đang say ngủ
Mình trần mây trắng Ngọc mỹ nhân
Có phải ngàn năm say thiền mộng
Thần tiên đâu biết có cõi trần.”
 
“Thi Vân Yên Tử” tuy nhiên không vì sự có mặt của những nhân vật vừa nói hay những lời khen hợm hĩnh mà được nâng lên một tầm cao khác, cao hơn giá trị thật của chính nó. Lý do khiến nó bị phê phán, thậm chí lên án có nhiều nhưng thấy rõ nhất là bản thân nó quá dở, dở đến nỗi rất nhiều văn nghệ sĩ cho là nó không phải là thơ, nhất là thơ mang tâm thức Thiền như tác giả tự nhận.
 
Nhận xét về mức độ dở của tập thơ “Thi Vân Yên Tữ” nhà phê bình văn học Trần Mạnh Hảo thẳng thắn:
 
“Tôi thấy rằng thơ của ông Hoàng Quang Thuận mà tôi đã đọc hết hai tuyển tập là Thi Vân Yên Tử và Hoa Lư Thi Tập tôi thấy thơ ông hình như không có bài nào đáng gọi là thơ cả.Ông này chưa biết một bài thơ luật Đường như thế nào. Niêm luật không biết và viết ngang phè phè. Ông viết theo kiểu thấy con kiến thì tả ngay con kiến và nói gọn lại nó là thứ thơ con cóc.”

Cả một hệ thống truyền thông đua nhau xưng tụng

Hiện tượng cả một hệ thống báo chí ngợi khen một tập thơ tầm thường làm cho người ta thấy lạ lẫm và ngạc nhiên. Từ ngạc nhiên đi đến tìm hiểu và chống đối khi phát hiện ra lắm chi tiết lố bịch. Không ai có thể tưởng tượng được rằng hàng trăm cơ quan truyền thông lớn và khô khan trong vấn đề văn nghệ như báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công An Nhân Dân, Văn Nghệ, Văn Nghệ Trẻ, Văn Nghệ Quân Đội, An Ninh Thủ Đô, Hà Nội Mới, Đài Truyền Hình Việt Nam, Đài Tiếng Nói Việt Nam, Đài Truyền Hình Hà Nội, và nhất là Tạp Chí Nhà Văn…đua nhau viết những bài xưng tụng nhà thơ một cách dị thường. 
 
Giải thích việc này nhà phê bình Trần Mạnh Hảo cho biết:
 
“Phải nói rằng rất là lạ khi ông này làm thứ thơ giả, thơ ăn cắp như vậy nhưng lại được Đài Truyền Hình Việt Nam làm hàng chục bộ phim ca tụng thơ ông ấy là thơ thiền hiện đại. Nói tóm lại cả ba thi hào dân tộc là Nguyễn Du, Nguyễn Trãi và Hồ Xuân Hương cũng chưa bao giờ được một phần mười cái vinh dự lên Đài Truyền Hình Việt Nam nhiều như ông Hoàng Quang Thuận.
 
Ông ta là Viện Trưởng Viện Khoa Học Viễn Thông nhưng lại được Hội Nhà Văn tổ chức hội thảo tác phẩm Thi Vân Yên Tử của ông ta lại có rất nhiều người tên tuổi xúm vào khen ông ta là thơ hay đến lạnh cả người. Tôi thấy đây là một hiện tượng tiêu biểu của nền văn hóa Việt Nam đã xuống dốc đến tận đáy, tức là những kẻ rơm rác, những kẻ ma giáo nhất, lưu manh nhất được tung hô là thiên tài.”
 
Không những tài năng làm thơ của ông không được người đọc chấp nhận Hoàng Quang Thuận còn bị cáo buộc là ăn cắp ý tưởng trong cuốn sách mang tên: “Chùa Yên Tử, Lịch sử - truyền thuyết di tích và danh thắng” của tác giả Trần Trương, Trưởng Ban quản lý Yên Tử. Sự phát hiện này do một người bạn của Hoàng Quang Thuận là luật sư Nguyễn Minh Tâm phân tích qua bài viết công phu mang tựa “Thi Vân Yên Tử được sao chép từ đâu?”
 
Luật sư Tâm đã mang ra 15 bài viết trong cuốn sách của tác giả Trần Trương tả những cảnh sắc và nét đẹp của chùa Yên Tử và so sánh tất cả các ý đó được ông Hoàng Quang Thuận xào nấu lại thành 15 bài thơ trong tuyển tập của mình.
 
Như vậy trong giới văn chương người ta gọi là đạo văn. Trong giới giang hồ, xã hội đen gọi là ăn cắp.
 
Ông Thuận không ngừng lại ở Hà Nội và Sài Gòn, ông muốn mang tác phẩm của ông đi xa hơn, xa tới tận Thụy Điển, vào ngay văn phòng của giải Nobel bằng tác phẩm mà ông vay mượn ý tứ từ người khác ấy. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo kể những câu chuyện có liên quan đến dự tính cao cả này:
Chính đài truyền hình Việt Nam đã tiếp thị đến tận cùng cho ông Thuận đưa cuốn thơ không phải là thơ ra để lừa người dân Việt Nam để bán lấy số tiền khủng khiếp như vậy. Ông ta đã thu hàng trăm tỷ đồng bằng cú lừa do đài truyền hình Việt Nam tiếp thị.
Nhà phê bình Trần Mạnh Hảo
“Ông Thuận muốn trở thành người Việt Nam đầu tiên lãnh giải Nobel văn chương. Ông ấy đưa tập thơ ăn cắp của ông ta được in rất đẹp và trong lời ông nói trong một băng video mà tôi nghe khi nó được phát trên đài truyền hình Việt Nam thì ông ấy nói như thế này: Tôi và trung tướng Hữu Ước làm 10 đêm thơ về Thi Vân Yên Tử ở Hà Nội và đã thu được 32 tỷ đồng.
 
Con số khủng khiếp vô cùng vì ông này kết hợp với ông Hữu Ước là một tướng công an thì nó thành một siêu quyền lực. Tất cả các đại gia ở Hà Nội và Sài gòn đều sợ hãi hai ông này. Ông Thuận từng tuyên bố Bộ chính trị và Thủ tướng chính phủ hầu như đều nằm trong tay ông ta. Vậy ông ta là người khuynh đảo cả chính trường Việt Nam. Cả ban Lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam, ông ta tuyên bố như vậy.
 
Trong nhà ông ta chụp hình với tất cả các đời Tổng Bí Thư và vì vậy ông ta và ông Hữu Ước đi dọa các đại gia thì họ bắt buộc phải đi dự đêm thơ của ông. Hơn thế họ phải nịnh ông ta bằng cách mua các cuốn thơ ấy thay vì giá 2 trăm ngàn thì họ trả hai trăm triệu!”
 
Đài truyền hình Việt Nam là nơi có công mang thơ ông Hoàng Quang Thuận đi rất xa. Rất nhiều bài viết núp dưới dạng phim tài liệu và phóng sự để ca tụng tập thơ “Thi Vân Yên Tử” của ông Thuận . Một trong những lời ca ngợi ấy được thấy trên Youtube:
 
"“Thi vân yên tử” là những giòng cảm xúc bằng thơ được khơi nguồn từ những bước chân thành của Hoàng Quang Thuận đến vùng đất Phật Việt Nam, tông phái Trúc Lâm và từ thiền cảnh này công năng ẩn tánh đã cảm ứng tâm hồn khoa học ngoại đạo bỗng chốc trở thành thi sĩ: Sơn lâm kỳ thú cảnh thần tiên/Vượt chín tầng mây tới cõi thiền… đó chính là một trong những căn duyên mà thơ Hoàng Quang Thuận cảm xúc với danh sơn Yên Tử."
 
Nhận xét về những bài viết vượt qua sự thật, vượt qua điều mà tập thơ thực sự ẩn chứa của đài truyền hình VTV, nhà phê bình Trần Mạnh Hảo phê phán:
 
“Chính đài truyền hình Việt Nam đã tiếp thị đến tận cùng cho ông Thuận đưa cuốn thơ không phải là thơ ra để lừa người dân Việt Nam để bán lấy số tiền khủng khiếp như vậy. Ông ta đã thu hàng trăm tỷ đồng bằng cú lừa do đài truyền hình Việt Nam tiếp thị. Tôi hỏi Đài truyền hình Việt Nam có còn là một đài truyền hình tử tế hay không? Hay chỉ nằm trong tay những con buôn chính trị, kinh tế và văn hóa?"
 
Thơ hay thường không được chấp nhận nhanh như tác phẩm đầy tranh cãi này. Thơ hay lại càng khó bán với cái giá như ông Thuận thú nhận. Phía sau những bài thơ ấy là ân oán giang hồ, là những thỏa thuận đen tối của các thế lực ngầm đang quản thúc và khống chế các ngòi viết lương thiện.
 
Có một lý do để bênh vực cho những bài viết đang bị cáo buộc là rẻ tiền và táng tận lương tâm nhằm quảng cáo cho tập thơ đó vì nhận thức về cái hay trong thơ của những người viết bài quá khác biệt với những quy tắc phổ quát trong cảm nhận thẩm mỹ thi ca. Nếu sự khác biệt này có thể xem là sáng tạo, thì sự sáng tạo nhằm kiếm tiền ấy tinh vi lắm vì chúng không bị mang tiếng hối lộ, một tội danh có thể mang đến án tù hình sự.
 
Nhưng nếu kiếm tiền bằng cách này thì chính thơ ca sẽ bị mang vào tù không có ngày ra, và phải chăng đây chính là hình phạt nặng nề nhất cho những ai đang sống về nghề viết lách?

Nguồn: RFA Việt ngữ.

Vô lối Nguyễn Bình Phương

Vô lối Nguyễn Bình Phương (tiếp)

Chủ nhật - 04/11/2012 16:47
Đón đọc : Vô lối Hoàng Vũ Thuật. “Buổi câu hờ hững” của Nguyễn Bình Phương tập sách yếu kém.

VÔ LỐI NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
  Đỗ Hoàng

 Bước vào ngôi đền văn chương, như bao người làm thơ khác,  trong sáng tác thơ Nguyễn Bình Phương buổi đầu cũng bắt đàu từ các thể thơ truyền thống. Những tác phẩm đầu tay của Nguyễn Bình Phương tuy chưa phải nổi trội nhưng còn đọc được:

“Bóng chiều đổ xuống đường ray,
Biết là thương nhớ từ nay sẽ nhiều”
( Lãng mạn)

…U uất những khoảng vắng trên đồng
Mưa phùn bay giấc mơ màu ngọc
Mình nghĩ mãi về đốm sáng lạ lùng
Cuộc chia tay dài không dám nhắc

Ồ những đêm này gối chăn thật rộng
Đời mênh mông hay ta mênh mông hơn
Ai biết được cuối thu có người còn thèm ngủ
Gót sen hồng sang nở giữa trời đông…
(Tháng 11)
Nhưng rồi Nguyễn Bình Phương không bằng lòng với hình thức thơ cũ, tác giả quyết tâm vứt bỏ, đoạn tuyệt hẳn các hình thức có sẵn và cũng đoạn tuyệt hẳn cách cảm, cách nghĩ truyền thống của dân tộc. Rất nhiều bài triệt tiêu trăm phần trăm vần điệu, ý nghĩ tăm tối trở thành loại Vô lối đang thịnh hành. (Vô lối – Xem Nhận dạng Vô lối – vannghecuocsong.com):

Ngó vệt nắng trong veo chốn cũ
Gặp rất nhiều dáng ngẩn ngơ rơi

Vết nứt trên thân rơm rớm nói
Thay lời uẩn khúc kẻ xa nhà

Người và nỗi sợ rơi với lá
Ngộ ra gai góc cũng xuôi rồi
(Những rơi và rơi…)

  Sau khi triệt tiêu vần điệu, tác giả lập ngôn những cách nói đố ai mà hiểu tác giả nói gì:

Này mình
Thế nào là thinh lặng?

- Ở nơi mất nắng
Mất tất cả oán hờn
Những ngọn cỏ đen tuyền
Tỏa ánh sáng vào ta
(Mình ta trước gương)

  Khi một vài nhóm tự xưng là hậu hiện đại, là ngọn cờ cách tân thơ Việt, Nguyễn Bình Phương càng sa đà vào viết tắc tỵ, dài dòng văn tự, nhạt nhẽo, đánh đố không cần người hiểu. Những người viết như thế này có quan niệm thật là lạ lùng: Là thơ họ văn họ không cần ai hiểu, không cần người đọc, chỉ mình họ hiểu là được rồi. Và họ không hiểu nữa mới là đắc địa (!)

…Chênh vênh đậu trên mào gà đỏ
Mình hồ nghi bao nhiêu tháng Bảy
Sét không đánh vào trán tuổi thơ
Cây cổ thụ ngạo nghễ cháy

- Vĩnh biệt vĩnh biệt niềm đam mê chân mây
Anh chỉ là chiếc áo ngủ điêu tàn

- Tôi ngắt vật gì rất trắng
Giếng nước một ánh nhìn đen...
(Vọng từ giá sách)
Hay:
 .và con đò trôi lang thang vất vưởng trên bầu trời khói trắng toả bay ngơ ngất
đò ơ đò ơ đò
Tôi là người chèo đò con đò của tôi kết bằng những giấc mơ dát bạc lấy từ một ngày duy nhất trong năm khi đó em còn ở đâu mơ hồ lắm  Tôi là người chèo đò người chèo đò hình hài mỏng mảnh chạm vào là tan biến nhưng không bao giờ lạc lõng trong mùa hạ   Ai muốn sang phố an toàn hãy lên đò tôi tiền công chỉ trả bằng một nụ cười bảng lảng  Đường Nguyễn Du mơ màng khói sương tôi sẽ cố gắng làm sao không để lạc   Hãy lên đò tôi hãy lên cho kịp chuyến
này người đàn ông chán nản anh đang nghĩ gì mà không gian xung quanh luôn tàn héo
tôi nghĩ về con đò của anh hình như nó nặng hơn sự thật hàng ngày mỗi chúng ta mang vác
còn chị tại sao chị lại để những cơn mưa chết dịu dàng đến thế
có một người bỏ đi làm tôi buồn

(Nguyễn Bình Phương)
Và:
Chết làm ngôi sao đen
Nằm trên giường bình nhiên bí ẩn

Chết không thở cùng hoa
Thở cùng người đàn bà xa lạ

ở trong khu rừng ma
Có những con hươu ma

Chết nở một nụ cười sáng nhẹ
Chẳng vĩnh biệt em chẳng tiễn biệt ai


Từ tốn mơ màng
Bông cải cúc ra đi

(Nhẹ)
   Khi quan niệm “Thơ khó” nảy sinh, bao nhiêu người làm thơ cho thật khó hiểu và không hiểu mới gọi là thơ cao siêu. Người đọc không hiểu thơ họ là những người tri thức thấp kém, trí tuệ non yếu, theo đánh giá những người viết ra loại trên. Thật ra tất cả những thiên tài đều viết những điều chân lý cao cả bằng nhưng điều giản dị. Chỉ có những kẻ trí tuệ thấp kém, học vấn tầm thường, lịch duyệt sơ sài thì mới tung hỏa mù để cố cho mọi người không hiểu mình. Mọi người càng không hiểu, không nhận ra, họ càng thiên tài . Một nghịch lý là đòi hỏi người đọc có tri thức lớn, vốn sống phong phú thì mới hiểu thơ họ. Trong khi đó, người viết ra những tác phẩm hủ nút ấy văn hóa không có gì là cao, thậm chí rất thấp kém nữa. Thật chi là phi lý! (Xem thêm “Vì sao tôi dịch thơ Việt ra thơ Việt “– Tạp chí Nhà văn 2007)
   Chính Nguyễn Bình Phương không hiểu cách tân (làm mới) nên đã chối bỏ không phát huy được tinh hoa thơ ca của dân tộc và của nhân loại nên mới đưa ra những ấn phẩm phi thơ ca như vậy. Với quan điểm cá nhân tôi, đó là một thật bại hoàn toàn!
 Hà Nội, ngày 4 – 11 – 2012
   Đ - H

Mừng Việt Phương vào Hội Thơ

Thứ sáu - 16/11/2012 09:53
               
                  
Nhà thơ Mai Hồng Niên
MỪNG VIỆT PHƯƠNG VÀO HỘI NHÀ VĂN LÚC 82 TUỔI

Việt Nam có Hội Nhà văn
Nguyễn Du e cũng khó khăn mới vào (!)
               Đỗ Hoàng
Đang sôi nổi rộn ràng mùa chuẩn bị kết nạp Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, vannghecuocsong.com xin giới thiệu bài thơ mừng nhà thơ Việt Phương 82 tuổi mới được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam của Nhà thơ hài hước Mai Hồng Niên in trong tập thơ mứi xuất bản "Nhân thế tình tang" - NXB Hội Nhà văn.

  MỪNG NHÀ THƠ VIỆT PHƯƠNG VÀO HỘI NHÀ VĂN 2009

Thôi đành vào hội cho vui
Như là Hội vật một thời ông cha.
Tám hai tuổi đâu già
Cụ Tiên Điền chưa bước qua chấp hành
Nguyễn Công Trứ tình ngông nghênh
Cưỡi con bò cái khó thành hội viên!
Tú Xương, Nguyễn Khuyến ghi tên
Hồ Xuân Hương biết phận em đàn bà.
Thích bê non, chán bò già,
Bác gia nhập Hội chỉ là cuộc chơi!
Và Cửa Mở của một thời
Còn vang vọng với biển khơi, gió ngàn.
Nguyễn Công Trứ nhiều trái oan
Lên voi xuống chó đa mang kiếp người
Ngày ông theo nắng về trời
Làm cây thông đứng ngỏ lời nhân gian
Thời nay lắm Hội, bỏ làng
Có người lại kiếm bạc vàng để mua
Được mang danh một nhà thơ
Văn chương bèo bọt đong đưa chút tình
Đường xa lắm ngả gập ghềnh
Hội văn, Hội vật có thành Hội thơ?
Tám hai tuổi chẳng bất ngờ.
Đợt sau chẳng Cụ Nguyễn Du được vào?
Hàng Buồm 27 - 01 - 2017
M - H - N


Nguyễn Du lép kẹp hầu bao
Suốt đời chỉ đứng ngoài rào ngó vô!
Đỗ Hoàng nối lời!