Thứ Tư, 23 tháng 1, 2013

Thơ Thanh Thảo – Chuyên gia nước ốc trường ca, cỡ vạn người làm

Thứ ba - 22/01/2013 14:03

Thanh Thảo nói cho cùng là thuộc dòng thơ hót học, ca học, cười học, một loại thơ tuyên truyền cấp thấp do học vấn, do thể chế đào luyện. Nguyễn Hoàng Đức nhà triết hoạc tuyệt với khi thấy Dấu chân qua trảng cỏ là một bài Vè - Đỗ Hoàng

Thơ Thanh Thảo – Chuyên gia nước ốc trường ca, cỡ vạn người làm

Nguyễn Hoàng Đức 
 .
Thanh Thảo là nhà thơ lớp chống Mỹ rất lừng danh! Nhưng lừng danh bởi cái gì thì tôi chưa được đọc nhiều. Một lần thấy chương trình nói về thơ Thanh Thảo với bài “tủ” rất nổi tiếng của ông, tôi đã rất chăm chú lắng nghe. Tôi thấy Thanh Thảo bước ra bãi cỏ và đọc bài “Dấu chân qua trảng cỏ”. Bài thơ chẳng có cảm xúc hay cái nhìn gì đặc biệt. Ngay cái tên của nó cũng gợi lên cho ta một chủ đề hết sức bình thường. Nếu văn học là đi qua thông tin cấp một, thì đầu đề bài thơ chỉ là 1,1 thông tin, với một khung cảnh, một cảm trạng. hay một suy tư kéo theo rất nhỏ nhắn. Đi thẳng vào bài thơ nó mới là niềm thất vọng lớn. Nó nhạt không thể nào tả được. Nếu mục đích của nó không “són ra” một tí tuyên truyền thì nó chẳng có gì để nói. Một tí đó nằm ở cuối của bài thơ
Cuộc đời trải mút mắt ta 
Lối mòn nhỏ cũng dẫn ra chiến trường 
Và:
Vùi trong trảng cỏ thời gian
Vẫn âm thầm trải mút tầm mắt ta
Vẫn đằm hơi ấm thiết tha
Cho người sau biết đường ra chiến trường…
Một tác giả viết dù nhạt như vậy, nhưng hôm nay chắc là do cơ số ưu tiên giành cho các cán bộ đại ca của văn học mậu dịch, ông lại vừa ẵm giải của Hội Nhà văn với trường ca chân đất. Cái gọi là trường ca này dài hơn bốn nghìn chữ, với tứ thơ và ý thơ nói cho nhanh đều cán đích nhạt hơn nước ốc. Chúng ta hãy thử suy luận hai từ “chân đất”, nó hoàn toàn là thông tin cụt lủn cấp một chẳng hề chứa một thông điệp nào của tư tưởng. Hơn thế, chữ chân đất gợi lên thứ nông phu nào đó. Một nông dân có thể rất đẹp trên cánh đồng, nhưng chưa thể trở thành nhân vật của mỹ học cao cả được. Thôi nói nhiều võ đoán, chúng ta thử bước vào mấy câu thơ tiêu biểu nhất:
- này bạn tre ngâm ơi
sao mắt rạng ngời
mùi hơi gắt
- thì Việt vương cũng nằm gai nếm cứt
như thân ta ủ kín trong bùn
Thanh Thảo lấy vua Việt Vương để làm duyên cho tre. Trời ơi vẻ đẹp của tre thuần phác lắm, nó ngâm trong bùn cao quí khác gì vàng thử lửa, hay con người bị thử thách trong ô nhục. Vậy việc gì phải an ủi nó bằng cách so với Việt Vương nếm cứt. Đúng là khi trong đầu chẳng có tư tưởng gì trọng đại người ta đành phải loay hoay với những điều vớ vẩn. Đây hoàn toàn là cách tự ti tiểu nông muốn lên gân. Về tu từ pháp, khi Nguyễn Huy Thiệp đưa “cứt” vào văn xuôi, nhiều người đã coi là “thẩm xú”, vậy mà thanh Thảo còn đưa cứt cả vào thơ, có lẽ xưa nay chưa từng có thẩm xú đỉnh cao kiểu cán bộ như vậy. Tiếp theo:
bác Năm Trì tàng tàng tàng
bác Năm Trì dân Quảng Ngãi
đêm láng lênh bác ngồi gãi háng
trăng hạ tuần
Đây hoàn toàn là thứ thơ thấy gì nói nấy, rơi vào dễ dãi, tự nhiên chủ nghĩa, đem cả việc gãi háng vào thơ khác nào bày ra thứ nhà tắm công cộng. Và còn đây một nền tảng văn hóa vô sản thật đặc trưng:
chúng tôi không xây Vạn Lý Trường Thành
chúng tôi đếch là hảo hán
chúng tôi tươi vui
bình thản
Hãy thử hình dung nếu Thanh Thảo nói với Căm-pu-chia “chúng tôi không xây Ăng-co-vát”, nói với Ai Cập “chúng tôi không xây tượng Nhân sư”, nói với Pháp “chúng tôi không xây tháp eiffel”, hay nói với nước Nga “chúng tôi không xây điện Krem-lin”… Đây hoàn toàn là sự vỗ ngực của ếch ngồi đáy giếng, chẳng biết thiên hạ là ai, bố mày vẫn nhất đây, nó hoàn toàn là chủ nghĩa Chí Phèo hay AQ. Đặc biệt với từ “đếch”, Thanh Thảo tỏ ra mình là thứ đại ca xuất sắc của đường phố, không coi ai ra gì, không coi thơ là gì, không coi nghệ thuật với thẩm mỹ là gì, bố mày đây thẩm xú vẫn hay… Ở đời, một động cơ thì xoay nóng rực, trục bánh xe thì chịu lực, chỉ có rẻ rách phơi trên rào mới nhàn tản mà thôi. Nhàn tản đó như Lỗ Tấn nói, có khác gì vô tích sự. Mấy ông lười biếng vẫn gãi rốn tự hào “ta sướng hơn vua, vì ta đói nhưng nhàn, chẳng phải làm gì”.
Đó là những câu hay bậc nhất của trường ca, khổ cuối cùng tôi còn trích dựa theo đoạn trích của nhà thơ – nhà báo Nguyễn Việt Chiến. Nói chung là nhạt và rất nhạt. Nền thơ Việt hôm nay nhếch nhác bé nhỏ vì nó là cái chợ cóc hỗn tạp, tôi nghĩ Thanh Thảo cũng chỉ là một thứ quán cóc chúng ta nên dẹp bỏ, từ đó mới hy vọng nền thơ được khai sáng như quảng trường, ở đó các nhà thơ sẽ được nói về mỹ học cao cả, cảm xúc dồi dào tinh tế, và cái Chân – là tình yêu công lý của giấy mực. Tôi rất muốn là một trong những người đầu tiên dọn dẹp chợ cóc này, nếu bạn nào muốn tôi giải phẫu thơ ai, đặc biệt của các đại ca quốc doanh thì hãy gửi lời mời, thơ, và một khoản nhuận bút. Nếu chúng ta tập trung vào việc dọn dẹp nền thơ thì cũng nhanh thôi. Một ngày tôi có thể dọn dẹp hai đại ca ăn lỳ ở bám hệ tem phiếu đòi quyền ưu tiên, như vậy một tháng sẽ thanh toán dăm bảy chục mớ giấy lộn vần vèo mốc meo.
Việc cấp bách tôi xin đề xuất là: bất cứ thứ thơ nào dài mà không có nhân vật, thì không được gọi là trường ca. Trung Quốc đã bỏ vài chục năm qua đi tìm sử thi và trường ca mà không thấy. Trường ca thì phải có chất bi tráng hay bi hùng kịch. Nhà thơ, nhà LLPB Insara mới đây có nói: các nhà thơ của chúng ta yếu ớt đến mức không thể có trải nghiệm sâu sắc để có cốt chuyện. Như vậy là đã quá rõ ràng, từ lý thuyết cao siêu, đến hiện thực và người trong cuộc, đều xác định với tầm vóc quá nhỏ bé của các nhà thơ Việt, đặc biệt là mấy ông sống nhờ bao cấp, khó mà trở thành kiến trúc sư của một cốt truyện.
Chúng ta hãy thẳng thắn, đừng à uôm ăn gian nữa, nếu trong thơ của mình không có cốt truyện và nhân vật, thì đừng có ăn bột nở mà gọi là trường ca. Xin dứt khoát việc đó cho! Và khi ngắm nghía nó để trao giải càng không bao giờ nên coi đó là trường ca. Xin cám ơn!
.
NHĐ 17/01/2013
Tác giả gửi cho NTT blog - Đỗ Hoàng post lại

Vô lối, tắc tỵ Hoàng Vũ Thuật

Thứ sáu - 18/01/2013 20:14
                       VÔ LỐI, TẮC TỴ HOÀNG VŨ THUẬT
 
                                         Đỗ Hoàng

       Trong cuộc sống, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật sống chân tình chung thủy vợ con, cưu mang bạn bè, người thân; nhưng trong sáng tác thì Hoàng Vũ Thuật rất làm hàng giả. Giả trong cách lập tứ, chọn từ, đặt câu, thi tứ, mô phỏng. Cái giả nó đeo theo nhà thơ từ khi chập chững vào nghề cho đến hôm nay đã thất thập cổ lai hy, đầu suy tứ chi!
   Nghĩ cho cùng không phải lỗi của Hoàng Vũ Thuật mà nói như từ thông dụng bây giờ là lỗi cả một hệ thống. Cả thế hệ cứng như một thỏi sắt (Lưu Quang Vũ). Nhiều lớp lớp làm nhà ca học, hót học, hát học, cười học… Trùng trùng điệp điệp cổ động viên tự giác và không tự giác.
  Đến nỗi như nhà thơ Phạm Tiến Duật nổi tiếng nhất trong thơ chống Mỹ cũng làm “nhà cười học” khi viết bài thơ tình Cái chao đèn duyên tình thế mà phải thêm hai câu kết rất dở hơi mới được in và mới được phổ biến:

CÁI CHAO ĐÈN

Con trai đội nón bao giờ
Vì mưa nên phải đi nhờ nón em
Bấy lâu mũ sắt đội quen
Buồn cười cái nón tòn ten trên đầu.
Khoảng râm là ánh sáng màu
Của tình yêu đội trên đầu đó em.
Hông hồng khuôn mặt xinh quen,
Nón bài thơ cái chao đèn của anh!

Khi đưa in, nhà biên tập không đồng ý vì cả nước đang đánh giặc mà nhà thơ lại làm thơ tình thuần túy. Bất đắc dĩ, Phạm Tiến Duật phải viết thêm hai câu kết không ăn nhập gì để được in:
Mũ va vào mũ lanh canh
Đường xa nhớ nón che anh buổi nào!
    Rồi tiếp đến nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ suốt thời chống Mỹ nằm hầm ở thôn Phú Vinh (Trụ sở Hội Văn nghệ Quảng Bình đóng) cũng phịa, tưởng tượng ra mình là bộ đội hoặc thanh niên xung phiong hành quân:
Đơn vị tôi hành quân qua con đường mòn
Gặp hổ bom nhắc chuyện người con gái
(Khoảng trời và hố bom)
Và dùng nhiều câu đại ngôn, hô khẩu hiệu sáo mòn để cổ động:
Em đã lấy tình yêu Tổ quốc của mình thắp lên ngọn lửa.
(Bài đã dẫn)
  Nhà văn Dương Thu Hương cũng vậy. Tưởng tượng mình là chiến sỹ lái xe đi trên đường gặp nhiều hoa Trâm Lê (hoa phịa) hứa sẽ làm tròn nhiệm vụ ngoài tiền tuyến cho hậu phương yên tâm sản xuất…

  Thế hệ Hoàng Vũ Thuật là thế hệ chống Mỹ. Cả nước gồng lên đánh một đế quốc giàu mạnh nhất thế gới nên văn chương cũng gồng lên nhiều lần để phục vụ cho mục đích đánh giặc của nhà cầm quyền:
Ta lại viết bài thơ báng súng                                                     
Con đứng lên viết tiếp thay
Người đứng dậy viết tiếp người ngã xuống
Người hôm nay viết tiếp người hôm qua.
(Hoàng Trung Thông)
  Tố Hữu nhà thơ của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng viết:
Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ
Hơn nghìn trang giấy luận văn chương!
 Cho nên cả nước từ văn chương, thơ ca, nhạc, họa đều phải vót chông trước khi vót văn.
  Hồi ấy in ấn rất khó khăn từ trung ương đến địa phương. Văn thơ không nói về bom đạn, hỏa tuyến, đánh giặc, bắn máy bay, bộ đội, thanh niên xung phong, ta thắng địch thua… thì rất khó in.
  Hội văn nghệ Quảng Bình có tờ Văn nghệ Quảng Bình, anh em phải xếp hàng nhiều năm mới có bài đăng.
  Một lần Hoàng Vũ Thuật đưa bài “ Quả ổi trong vườn chín sớm” đến Ban biên tập để duyệt.
  Nội dung là tả trái ổi trong vườn bị bị viên bom bi găm vào nên nó chín sớm. Ban biên tập mới phê rằng: “Sự việc có thật nhưng người viết đã chọn không điển hình nên nó thành giả. Bom đạn Mỹ ném bom, bắn súng hàng ngày để bao nhiêu người chết, súc vật chết không viết, mà viết quả ổi bị bom bi chín sớm vừa sến, vừa nhẹ tênh, gượng gạo thế nào! Có sự việc không có thật nhưng nhà thơ điển hình hóa nó lên thì đọc như là thật.”
  Từ đó Hoàng Vũ Thuật đi tìm cái điển hình hóa không thật để làm cho nó thật. Nhưng tai hại thay, sau khi văn chương cổ động tuyên truyền qua đi thì những cái giả nó lại lai hoàn giả, không thể chấp nhận được:
Qua ải Bắc, đèo Nam
Qua Trường Sơn nắng mưa dằng dặc
Anh thành người con trai suốt đời đi đánh giặc
(Cây Nhạc ngựa)
  Hoàng Vũ Thuật thì không một ngày mặc áo lính, không biết khẩu AK lắp đạn như thế nào, một băng đạn có mấy viên và bắn liên thanh hay bắn ba phát một thì địch mới sợ nhưng Hoàng Vũ Thuật hay thay lời người ra trận làm thơ cổ động chiến đấu, hay đánh giặc trên giường(!). Điều này cũng không vấn đề gì, xưa nay mọi người vẫn làm, miễn là hay xúc động là được. Đằng này bài Cây nhạc ngựa vừa giả vừa dở, vừa không có một chút gì gọi là thi pháp nên nó rất phản cảm. Mặc dầu bài này được giải thưởng thơ báo Văn nghệ đâu năm 1986. Rồi tập Tháp nghiêng cũng được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Giải thưởng dù giải địa phương, dù giải trung ương đều đáng trân trọng. Nhưng lấy giải thưởng mà đo chất lượng một đời thi ca là một việc hoàn toàn sai lầm. Vì giải thưởng chỉ phục vụ cho một giai đoạn, một hoàn cảnh nhất định, một chính thể cụ thể. Bài Cây nhạc ngựa vừa giả dối, vừa kém thi pháp, vừa gần như mô phỏng nhiều câu của Phạm Ngọc Cảnh trong bài thơ Lý ngựa ô ở hai vùng đất:
Mai xa rồi, em nhớ anh không?
Trăng lại tròn vầng trăng biên cương
Ngựa tung bờm trắng thảo nguyên gió.
….
Cỏ vô tận cho lòng anh rong ruổi
(Cây nhạc ngựa – Hoàng Vũ Thuật)

Ngựa tung bờm bay qua biển lúa
Ngựa ghìm cương nơi sông xòe chín cửa

Gặp câu hát bền lòng rong ruổi mãi
(Lý ngựa ô ở hai vùng đất - Phạm Ngọc Cảnh)

      Cha ông ta đã từng viết về người lính suốt đời đánh giặc một cách nghệ thuật tài tình:

   Ban Siêu quy thời mấn dĩ hoa
 Chàng Siêu mái tóc điểm sương mới về
(Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm)
Là biết chàng Siêu suốt đời đánh giặc rồi, cần gì mà nói:
Anh thành người con trai suốt đời đánh giặc!
 Viết thế, vừa không thơ, vừa không thật, vừa ảnh hưởng thơ người khác:
Cái giả của Hoàng Vũ Thuật đi vào cả đề tài tình yêu:
…Rồi em làm quan tòa
Đưa anh ra xử án
Và có thể cao hơn
Đem pháp trường xử bắn.

Mặc tất anh chẳng cần
Sợ gì giấy xích sắt
Nếu đạn bắn vào anh
Sẽ làm em chết mất!...
(Không đề)
 Lúc đầu Hoàng Vũ Thuật viết câu kết Nếu đạn bắn vào anh/ Sẽ làm em chết ngất
Anh em góp ý là chết ngất là chết giả. Hoàng Vũ Thuật sửa lại chết mất cũng là chết giả nốt. Mình như thế nào, là vua chăng, là thượng đế chăng mà người tình có thế chết(!). Vua và thượng đế đầy quyền lực đấy nhưng người tình chưa chắc đã thèm chết. Ngay thần Juipite bá chủ Olempơ mà đã có người tình nào chết đâu!
Hoàng Vũ Thuật rất chủ quan, rất không thực chút nào. Thật ra nhà thơ chẳng hiểu gì quy luật tâm lý. Chín con chưa thật mặt chồng, huống gì mới tình tang đôi lứa ngoài đường, người con trai trộm yêu người con gái. Việc này vô cùng giả dối.
Giang Nam thật tình hơn:
Hôm nay nhận được tin em
Dù không tin đó là sự thật
Giặc giết em rồi quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích em ơi.
Đau xé lòng anh chết nửa con ngươi!
(Quê hương – Giang Nam)
Chết nửa con người của Giang Nam là chủ thể, nó thực nên thuyết phục người đọc, đọc xúc động đến hôm nay.
  Hoàng Vũ Thuật viết đã giả lại quá cũ như hai nghìn năm trước:
Giữa bãi cát vàng em là cây
Bóng em đổ xuống hai vai gầy
Anh ngồi trưa nắng như thiêu đốt
Mỗi chiếc lá xanh một bàn tay…
(Em là)
Minh nguyệt cao cao khắc lậu trường
Trân châu liêm bạc yểm lan đường
Hoành thùy bảo ác đồng tâm kết
Bán phất quỳnh diên tô hợp hương…
(Đảo thiên y – Lý Bạch)

Trăng sáng cao vời giờ điểm đây.
Nhà lan châu ngọc ánh vơi đầy.
Tấm lòng cùng kết bên màn liễu,
Phảng phất chiếu quỳnh hương ngất ngây!...
(Đỗ Hoàng dịch)
  Gần bảy mươi tuổi, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật tự lột xác mình, cố gắng đổi mới, phá bỏ cách viết cũ và giả của mình gần 60 năm qua. Nếu thế thì đáng quý biết bao, dù còn sống một giây cũng phải đổi mới, nhưng tiếc thay Hoàng Vũ Thuật chẳng có đổi mới gì mà chỉ sa đà vào tắc tỵ, bí hiểm, cầu kỳ rắc rối, tù mù, hủ nút, không còn một chút rung động thi ca. Chỉ có rặt những kiểu nói tắc tỵ, bí hiểm, đánh đố mình, đánh đố người đọc vì một kiến văn thiển cận, kiến thức hạn hẹp, rất nhiều chỗ hỏng trong học vấn, ít từng trải, sai cả quy luật tâm lý, quy luật tự nhiên, xã hội…
   Được các bác sỹ đỡ đẻ hải ngoại quanh năm ngồi trong phòng sản phụ đỡ con Mỹ đen, các học giả, học thật, tiến sỹ bò tung hô … nên Hoàng Vũ Thuật càng dấn sâu vào quái thai, kỳ quặc, lởm khà lởm khởm, tắc tỵ…
 Đặt tựa đề một cách tù mù, đánh đố:
Mãi viên trà, K, Ly, Hoàng An, Lá, Đo, Cõi, Ngược, Màu, Kiến
Cầu kỳ, rắc rối:
Mưa trên mười ngón tay dài, Trưa lệch phai…
Những câu vô lối như bị tâm thần, nhạt nhẽo vô vị, không ai hiểu mô tê răng rứa, viết cho bạn mà như viết cho kẻ không ăn ngũ cốc, cho kẻ ở ngoài hành tinh hoặc quỷ dạ xoa dưới Long cung:
ngày mẹ đưa chúng mình xuống sông quẫy đạp
tình yêu dội lên hai bờ vai
đẫm vào da thịt
tia chớp sáng của ngọn sao khuya
chúng mình đứng như trời trồng khi tình yêu tới
những câu thơ vọt máu phát cuồng quất vào bức tranh
đớn đau khát cháy
(Viết cho bạn)
tù mù, vô nghĩa:

giờ thì anh trồng thêm gốc cây
thuộc loài bạch dương chờ đông sang phủ tuyết
nào có gì ổn định

rồi con sóng tiếp xô đổ anh
lúc anh là cát
những con sóng siêu hình lau sạch gương mặt cũ
như chén rượu đêm ấy
chặng cuối
(Hoàng An)

Viết sai cả quy luật tâm lý, quy luật xã hội, tình cảm:

ngu­ời di gan không buồn
chỉ biết hát
nhiệt cuồng và mê loạn

ngu­ời di gan không đau
chỉ biết múa
vũ điệu ngã nghiêng phố xá
rạch ríu làm xiếc diễn tuồng

ngu­ời di gan không khóc
chỉ biết c­ười
chào mời đổi chác
giơ tay xin giơ tay vẫy mặt trời
(người Di gan)

Đáng khóc mà ta vẫn hát tràn
(Hồ Chí Minh)
Người Di gan phải như thế chứ mà thật như thế. Sao người Di gan lại không khóc, chỉ biết cười. Hoàn toàn khiên cưỡng!

Bí hiểm không ra bí hiểm, mù mịt, tâm thần không ra tâm thần, ngớ ngẩn, rất thiểu năng trí tuệ:

Một nghìn ba trăm năm mươi mét cao ly hồng nở
đôi mắt bồ câu

vô biên im lặng
cơn mưa đồng phạm
con chó thảo hiền không biết sủa dẫn tôi đi cùng

bài thơ tình ăn theo mưa
ly thơm vào trưa
xấu hổ tôi cúi mặt
(Ly)
     Viết về một quán Mãi viên trà chỉ có bà mẹ và cô con gái mà Hoàng Vũ Thuật chế biến ra ba người là một thiếu nữ, một cô gái, một bà mẹ. Ai cũng biết đã dùng thiếu nữ thì thôi dùng cô gái, mà dùng cô gái thì thôi dùng thiếu nữ. Không hiểu ra làm sao:

nấp dưới cánh lá bồ đề màu phật
một cô bé một thiếu nữ một người mẹ
cô bé vắt tuổi thơ qua đồi sim
thiếu nữ mười sáu lần trăng đỏ
người mẹ đội nước lên chùa
(Mãi viên trà)


Viết rất điên rồ:

xóa đi rồi vẽ lại
ngẹt thở

thêm một nét gầy thêm một nét
chết lặng dưới chân cầu thang


nàng khóc
(Họa sỹ)

Mượn cái gọi là hậu hiện đại, cách tân, siêu thực, xuống dòng một cách vô lối, bệnh hoạn tùy tiện:
thỏi hình hài bẹp dí
long lóc
thở

ẩn dụ giữa rừng khô
héo

bày bán cùng
hoa
(trong tập Màu)

tìm nơi di trú
bằng chìa khóa mẹ
trao
(tiếng chim)

nhôm nhoam nhiều câu viết lớm khởm, tối nghĩa, kiểu cách lên gân giả vờ, điệu đàng, sống sượng, triết lý vặt:

chẳng thể bắt níu những sợi tóc vào mùa
không người tuốt chải gặt hái
anh cắt dán cánh đồng lên thân thể em
điều phối cơn mưa
vá víu vết thương cuối hạ.
(hoàng an)

rừng mọc dưới bờ mi
(viết dưới tượng Exenhin)

đếm tiếng trái tim khuya
(điều ấy có ý nghĩa gì)

huyền ảo uốn cong hiện thực

nhịp cầu tượng trưng gãy vụn

ẩn dụ giữa rừng khô
héo…
(ý nghĩ vụt hiện)
 Kể mãi không bào giờ hết.
 Rồi Hoàng Vũ Thuật sa đà mượn hệ đếm, con số, thuật ngữ toán học nhét vào các bài vô lối phá hỏng thơ ca:

nằm dưới kia
một ông vua một hoàng hậu một người hầu
một thanh gươm một tuấn mã một mê nón
một lệnh truyền một trống giục một lời van

nằm dưới kia
một hộp sọ một ống xương một đốt lóng tay
một trung thực một đớn hèn một điên loạn

một ngọn lửa một đêm tối một chiều tà
một vận hạn một thức thời một nguyền rủa…
(lăng tẩm)
  Hoàng Vũ Thuật đã dùng đến 21 chữ một để diễn tả một sự việc chỉ cần một con số một là đủ:
Dưới kia có một đế vương
Tàn tro bụi bặm lóng xương chẳng còn.
(Đỗ Hoàng phóng dịch)

  Trong thơ cổ kim có dùng con số, nhưng dùng khéo thì làm cho bài thơ hay lên rất nhiều:

MƯỜI THƯƠNG

Một thương bỏ tóc đuôi gà
Hai thương ăn nói mặn mà có duyên
Ba thương má lúm đồng tiền
Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua
Năm thương cổ yếm đeo bùa
Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng
Bảy thương tính nết đoan trang
Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh
Chín thương em ở một mình
Mười thương con mắt có tình với anh!
(Ca dao)

Một canh, hai canh lại ba canh
Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành
Canh bốn, canh năm và chợp mắt
Sao vang năm cánh mộng hồn  quanh.
(Hồ Chí Minh)

  Không chỉ nước ta mà nhiều nước, nhất là Trung Quốc nhiều nhà thơ dùng con số để diễn ý, diễn tình. Từ con số khô khan biến hóa muôn vẻ làm nên thi phẩm lung linh, bất hủ:

  LÃO SƯ KHỐN

Nhất thân bình giả bố
Lưỡng tụ phấn bút khôi
Tam xan ngật bất bảo
Tứ quý thường sô mi
Ngũ canh tựu khởi sàng
Lục đườngyếm nhĩ ngật
Thất thiên nhất tinh kỳ
Bát phương cuồng kỷ hồi
Cửu thiên bất phát hưởng
Thập gia giai đoạn xuy.
(Khuyết danh)

ĐỜI GIÁO VIÊN XƯA

Một thân áo quần bố
Hai tay áo phấn đầy
Ba bữa ăn không đủ
Bốn mùa ủ mặt mày
Năm canh đã trở dậy
Sáu giờ mới ăn chay
Bảy ngày tròn tuần lễ
Tám phương biết gì đây
Chín ngày lương không có
Mười nhà đói lắt lay!
(Đỗ Hoàng dịch)

TUYỆT CÚ

Lưỡng cá hoàng ly minh thúy liều
Nhất hàng bạch lộ thướng thanh thiên
Song hàm Tây Lĩnh thiên thu tuyết
Môn bạc Đông Ngô vạn lý thuyền
(Đỗ Phủ)

Hai cái oanh vàng kêu liễu biếc
Một hàng cò trắng vút trời xanh
Nghìn năm tuyết núi sông in sắc
Muôn dặm thuyền Ngô cửa rập rình.
(Dịch – Khuyết danh)
Bài trên có các con số: Hai, một, vạn, nghìn.
 Trong những người làm Vô lối, Hoàng Vũ Thuật cũng là người dùng một cách lạm phát từ ngữ nước ngoài nhất là âm Hán Việt ít Việt hóa như: điều phối, thảo hiền, hiển lộ, mê lộ, tẩy trần, trùng phùng, mãi viên trà, di trú, vô chủ, tấu khúc, miền hiển thủy, miền thiên hư,vô cư, vũ điệu, di hài, thuần khiết, tạ từ, nguyên thủy,cuồng thảo, mãn nguyện, nguyện cầu, hoan lạc, hoang phế, biến thể… hằng hà vô số. Đọc vô cùng khó chịu!


  Tôi đã từng viết tặng nhà thơ Hoàng Vũ Thuật để nói lên cái “việc làm tốt nghĩa vụ của người công dân thì người thi sỹ rất đau khổ” của anh (ý của nhà thơ Nhê ka rê xốp – Nga)::
Anh là nhà thơ Nhà nước
Có việc làm ăn hẳn hoi
Thế mà đời thật cơ cực
Thơ anh nén khóc để cười…
(Lang thang chiều Huế)

Và nhà thơ Hoàng Vũ Thuật cũng khắc họa chân dung của mình một cách đúng nhất:

như người điên đi trong dầm dã
hai mươi năm sau
không biết nơi nào để dừng
(mưa trên mười ngón tay dài)

     Cần gì đến hai mươi năm, ngay bây giờ kiểu viết vô lối, tắc tỵ, bệnh hoạn của Hoàng Vũ Thuật đã không chốn nương thân, bị loại bỏ ra khỏi tâm hồn Việt như bao loại Vô lối khác!!.

                                        Hà Nội ngày 16 – 2 -  2013
                                                Đỗ Hoàng

 

Dư âm giải thưởng Hội Nhà văn năm 2012

Thứ ba - 22/01/2013 14:43

DƯ ÂM SAI GIẢI THƯỞNG HỘI  NV 2012

Bạn đọc kinh mến. Việc xét giải thưởng văn học hàng năm là chuyện  tốt. Nhưng cách xét, quan điểm xét và tấm lòng người xet thì không tốt, nên năm nào cũng có chuyện chuyện lình xình, thậm chí trớ trêu,  cười ra nước mắt. QTXM xin tải về đây 3 tư liệu để  bạn đọc biết cách xét  giải thưởng năm nay ẩu đến mức nào ! Thực là thời loạn !

NGÔ MINH- BLOG QUÀ TẶNG XỨ MƯA 

1. Thư ngỏ gửi Hội nhà văn về giải thơ 2012

(Giờ thứ 25 của nhà thơ Phạm Đương)
Nguyễn Hoàng Đức
   Theo tin tức, tôi được biết:
 KẾT QUẢ GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN VN NĂM 2012
 4h chiều, 16/1/2013, danh sách kiểm phiếu cuối cùng đã được ban kiểm phiếu công bố. Trong ba giải thưởng về thơ có : Giờ thứ 25 của nhà thơ Phạm Đương.
Tôi chính thức muốn nói cùng các vị: Giờ thứ hai mươi lăm” của nhà văn Roumanie Constantin Virgil Gheghiu, có trước cách đây nhiều thập kỷ.
Tên sách là một thương hiệu tổng quát không thể bị đánh cắp một cách “trọn gói” như vậy. Thời buổi này, người ta cấp bằng sở hữu tên gọi, ngay cả hai cửa hàng cũng không có quyền mang tên giống nhau, nói gì hai tác phẩm?!
Việc Hội Nhà văn trao giải cho tên gọi tập thơ này đủ thấy trình độ của các vị rất ấu trĩ, không chịu đọc sách gì cả, giống như sự ấu trĩ mới đây các vị đã giành cho Hoàng Quang Thuận với tập thơ thiền bịp thần bịp thánh. Tôi đề nghị phế truất giải thưởng của tập thơ này. Lý do, chúng ta không thể đạo văn vô văn hóa trắng trợn như vậy được. Nhà văn, nhà thơ phải là người có văn hóa và liêm sỉ.
Đề nghị Hội Nhà văn dù phế truất hay không xin trả lời thẳng thắn về việc này. Việc không trả lời chỉ có thể giải thích bằng hai cách:
1- Người ta cố tình dấu dốt.
2- Định chơi kiểu à uôm “để lâu cứt trâu hóa bùn” muốn ăn gian một sự “đã rồi” trong lòng bạn đọc.
Xin mời các bạn tác giả và bạn đọc yêu thơ làm chứng cho vụ việc này. Hội Nhà văn không thể mãi mãi là nơi khuất tất muốn trao giải cho ai thì cho nữa, họ buộc phải sống trong tinh thần minh bạch của công lý! Xin cám ơn!
.
Nguyễn Hoàng Đức
17/01/2013
 

 2.Thư ngỏ của nhà văn Y Ban

Y Ban

Thứ sáu ngày 18 tháng 1 năm 2013 6:48 PM

 TNc: Chủ trang đang tịnh tâm tại chùa Phật Quang, Núi Dinh, Bà Rịa thì nhận được thư ngỏ của nhà văn Y Ban nhờ cho lên mạng. Thế là lòng thiền lại chẳng được yên, tôi nghĩ việc nhà văn lên tiếng đã tạo cho không khí văn chương được cởi mở. Do vậy tôi cho Thư ngỏ này lên trang chủ để dân chủ có cơ hội thực thi…..

 Kính gửi ông chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam và 14 vị ủy viên BCH
Kính thưa các quí vị. Tên tôi là Y Ban, hội viên Hội nhà văn VN. Tôi viết thư này để bày tỏ với các quí vị một việc như sau: Ơn giời và nhờ sự mưa móc của các vị mà tôi được ngồi ở cái ghế ủy viên hội đồng văn xuôi. Đã trải qua hai mùa xét giải và kết nạp hội viên tôi đã nhận ra rằng, việc tôi ngồi ở hội đồng không thể đem lại lợi ích nào cho các nhà văn, cho người viết. Tôi chỉ đang bị biến thành một con rối trong tay những kẻ vụ lợi, bè phái và dối trá. Khi bức thư này đến tay các quí vị cũng có nghĩa rằng tôi chính thức chối bỏ cái ghế ủy viên hội đồng văn xuôi.
Tôi là một nhà văn. Tôi viết ra những tác phẩm. Tôi phải trung thực với chính bản thân mình, với từng còn chữ của mình. Tôi biết khithư này đến tay các vị thì sẽ dấy lên một cơn sóng dư luận. Các vị sẽ tha hồ phán xét tôi. Xin vui lòng, các vị cứ làm theo lương tâm. Tôi đã trải qua những cơn sóng như vậy. Tôi có bản lĩnh để chịu đựng. Tôi chỉ cần nói lên một sự thật. Nhiều người đã chọn cách im lặng. Đó là cách khôn ngoan. Tôi chọn con đường dại. Thực ra tôi đã chọn con đường dại này khi tôi bước vào văn chương. Nhưng có một cách nghĩ khác. Nếu chúng ta đều chọn sự im lặng, chúng ta có như bầy cừu kia, lặng lẽ ăn cỏ, lặng lẽ để người ta cắt lông và lặng lẽ để người ta lùa vào lò mổ? Tôi là một con cừu hay đi chệch hướng. Tôi đã trải qua hai mùa giải thưởng. Mùa giải năm 2011 những tác phẩm tôi thích, tôi bỏ phiếu thì không đoạt giải. Mùa giải năm 2012 tôi có tác phẩm dự thi. Ngày bỏ phiếu tôi cũng được triệu tập đến. Có 5 thành viên hội đồng có mặt. Nhà văn  Bão Vũ có bản nhận xét và bỏ phiếu qua email. Nhà văn Thái Bá Lợi xin bỏ sau. Nhà Văn Trần Văn Tuấn bỏ phiếu qua điện thoại. Chị Tuyên nghe điện thoại nói lại, anh Tuấn bảo anh ấy bỏ tất cho mọi người vì..chưa kịp đọc. Nhà văn Nguyễn Khắc Trường cầm điện thoại nói với nhà văn Trần Văn Tuấn: Không bỏ thế được đâu. Ông đọc ai rồi thì bỏ. Nhà văn Trần Văn Tuấn bỏ một phiếu duy nhất cho Thành phố đi vắng. 5 nhà văn còn lại được mời vào phòng kín hợp với phó chủ tịch Nguyễn Quang Thiều. Tôi lại được chỉ định là thư ký. Bỗng nhiên chị Tuyên đưa một tờ giấy ra đọc, qui chế..tôi có tác phẩm dự thi thì không được bỏ phiếu. Tôi đứng dậy ra về. Có nhà văn ái ngại hộ tôi bảo, thôi cứ ngồi nghe cũng được. Thú thật là tôi cũng muốn ngồi nghe xem mọi người nhận xét về mình thế nào nhưng lại nghĩ thế là làm khó mọi người. Mấy năm trước khi chưa ngồi ở hội đồng tôi có cuốn Hành trình tờ tiền giả cũng được hội đồng đưa vào bỏ phiếu. Có một ủy viên rất khen cuốn đó, thế nhưng khi bỏ phiểu thì nó chỉ được một số không tròn trịa. Kết quả cuối cùng có 4 cuốn lọt vào chung khảo: Thành phố đi vắng 6/7 phiếu. Một thế kỉ bị mất 6/7 phiếu. Trò chơi hủy diệt cảm xúc 5/7 phiếu và  Sông núi nước Nam được đề nghi bằng khen.
   Mùa giải 2011ban chung khảo là tất cả các ủy viên BCH. Các ủy viên BCH nào có sách dự giải sẽ không tham gia bỏ phiếu. Bỏ phiếu lần 1 các cuốn sách của các ủy viên BCH không quá bán. Ông chủ tich Hội chỉ đạo bỏ phiếu lần 2. Vỗ tay hoan hô, 3 ủy viên đoạt giải. Cái cách này thì ông chủ tịch quá thạo, vô cùng thạo, nó y trang việc ông chỉ đạo bỏ phiếu thử trong cuộc bỏ phếu Giải thưởng Hồ Chí Minh và Nhà nước. kết quả không như thật thì lại thử tiếp, đến khi thật thì thôi. Năm nay thành viên BGK rút xuống còn có 9 người. Và ông chủ tịch lại tung chiêu mới. Thay vì bỏ phiếu cùng với bỏ phiếu hội viên mới nhưng ông đã lùi lại, vì búa rìu dư luận đang mạnh. Để khi dư luận tạm lắng mới bỏ phiếu. Hoan hô, vỗ tay, Đúng, Trúng, Đủ rồi nhé. Tiền của Hội không nhiều, chỉ đủ đáp ứng những cáchch của ông chủ tịch. Xin bái phục ông. Dư luận đối với ông chỉ như muỗi đốt gỗ.
    Trò chơi hủy diệt cảm xúc được 4 phiếu giải thưởng, 3 phiếu bằng khen và 2 phiếu trắng. Đây chính là mấu chốt của vấn để. Nếu tôi sáng suốt, nếu tôi không đi trên con đường dại thì ngay từ đầu tôi phải từ chối BGK này. Họ không đủ Tâm, đủ Tầm để bỏ phiếu cho tác phẩm. Họ chỉ đủ Tâm, đủ Tầm để bỏ phiếu cho tên tác giả. Hai phiếu trắng ở đây nói lên điều gì?  Làm giám khảo mà không dám đối mặt với chỉ một cái tên trên một tờ giấy? Vậy tại sao họ vẫn thích ngồi ở ghế BGK? Tiền ư? Không nhiều đâu. Mùa giải 2011 hội đồng văn xuôi đọc hơn 200 cuốn, tiền thù lao là 12 triệu đồng, trừ 1.2 triệu tiền thuế. Năm nay chưa nhận. Mùa kết nạp năm 2011 danh sách hội đồng văn xuôi đưa lên BCH, kiểm lại thấy thiếu một người, hội đồng phải bỏ thêm. Mùa kết nạp năm nay hội đồng thơ cũng phải làm điều tương tự. Vậy họ vì cái gì? Vì oai. Họ có quyền mưa móc và phán xét. Có thể tôi nhầm. Có thể được nhiều thứ nữa, không chỉ là oai. Vì họ đã phải đùng đến mọi thủ đoạn mánh lới, thậm chí tận diệt.
   Tôi từ chối không nhận bằng khen. Điều đó đồng nghĩa với việc tôi không thừa nhận BGK này. Tại sao tôi lại phải chấp nhận một BGK không đủ Tâm đủ Tầm đủ Tài? Với một lý lẽ thông thường: Dám làm dám chịu các vị cũng không dám? Mà lại thích mưa móc ban ơn.
   Lợi ích nhóm. Cụm từ tưởng rất xa lạ trong văn chương. Nhưng không ngờ nó lại gần gũi đến vậy. Và tôi đã nhìn thấy nó đang trói buộc các vị. Một câu cửa miệng của các vị, nghe rất buồn cười, tôi có muốn làm đâu, anh ấy cứ bắt tôi làm. Giời ạ, thế hệ chúng tôi đang còn sung sức đây để chúng tôi làm cho. Anh ấy ơi để chúng tôi làm cho. Chờ đấy, cái thế hệ gạch nối chúng mày. Cứ viết đi, cứ phấn đấu đi, cứ tâm huyết đi, cứ đổi mới đi…Trong các báo cáo thành tích chúng anh khen chúng mày lên tận mây xanh nhưng thực tế bọn chúng anh đè cho không ngóc đầu lên được đâu. Đừng có ti toe..Không, tôi không ti toe. Tôi chối từ.
   Khi tôi chọn con đường dại này tôi cũng đã chọn một hội nghề nghiệp để tựa lưng. Tôi đã vun xới cho những hi vọng của mình. Tôi cũng vun xới cho hội nghề nghiệp tôi đã chọn. Bằng những tác phẩm của mình tôi cũng đã làm rạng danh cho hội nghề nghiệp. Bằng chứng ư? Trong những bản báo cáo thành tích của hội cái tên Y Ban thường được xướng lên. Nhưng cuộc vui thì ngắn, nỗi buồn thì dài. Hai tác phẩm của tôi là I Am Đàn bà( 2007) và Này hỏi thật thấy gì chưa đấy( 2011) bị thu hồi, truyện ngắn I Am Đàn bà bị rút giải, hội nghề nghiệp phủi tay đứng ngoài cuộc. Lúc tôi cũng thương thân mà khóc. Sau nghĩ lại sự phủi tay đứng ngoài cuộc đó lại là một sự may mắn cho tôi. Trong quá khứ đã chẳng có những đòn của đồng nghiệp mà chết hắn một đời người, một đời văn đó sao?
   Khi tôi viết thư ngỏ này, tôi bỗng nhớ đến câu chuyện trong lúc trà dư tửu hậu, một vị trong BCH kể rằng, ông chủ tịch có lần đã nói đại ý, để xem thế hệ trẻ họ đối xử với nhau thế nào? Tôi giật mình đến thột. Trẻ đấy, mà thực ra có trẻ nữa đâu, đều trên dưới 50 cả rồi, thọi nhau đi, để chúng anh vỗ tay. Lại một lần nữa tôi xin bái phục ông chủ tịch. Ông thánh thật. May tôi đứng gần, nhìn rõ. Tôi vẫy cờ trăng. Tôi xin đầu hàng. Tôi xin bày tỏ sự nể phục ông một lần nữa. Thế hệ ông, ông đã lo cho tròn. Mỗi người được một góc bánh. Để lo được sự tròn trịa đó ông cũng đã nếm chịu sự khốn nạn. Mà sao ông tài chịu đựng
 Tôi vẫn có niềm tin và hi vọng, rằng một ngày kia hội nghề nghiệp sẽ thực sự nơi tựa lưng cho những người cầm bút. Chắc phải chờ cho đến khi miếng bánh đã được chia hết. Nhưng để có sự tin tưởng đó thì hiện tại tôi phải nên tránh xa cái sự Dối Trá lộng lẫy huy hoàng trơn lì bóng nhẫy trường kỳ lưu cữu này.
Cuối cùng tôi xin chúc các Vị sức khỏe an khang, bách niên giai lão, sống lâu trăm tuổi để tiếp tục dẫn dắt nền văn học Việt Nam.
Hà Nội ngày 18.1.2013.
Y Ban

Hai Nam Bộ

Vôi lối Phạm Đương

Sẽ nói sau loại Vô lối, vô cảm này, tạm dịch ra thơ Việt để mọi người đọc. - Đỗ Hoàng


Phạm Đương
Ở PHỐ KHÂM THIÊN

Nguyên bản:
từng khối người lao về phía trước
như thể có sóng thần đang đuổi sau lưng
bịt mũi bịt mặt không bịt tai bịt mắt
chửi rủa văng tục quạu quọ đủ các kiểu
khói bụi khói xe khói búa xua loại khói
táp vào mặt những ngôi nhà giả cổ
nhuộm đen hai cây đại ở số nhà 95
những khối người vẫn lao về phía trước
mỗi ngày đen đặc mưu toan
đếch cần biết có trận bom rải thảm
từ ba mươi ba năm trước
đếch cần biết có hai cây đại
sần sùi trong nỗi ấm ức
những khối người vẫn lao về phía trước
phía mù mờ phía không có đích
chẳng một ai ngoái lại
nhìn hai cây đại ở số nhà 95…
Đỗ Hoàng dịch ra thơ Việt
Ở PHỐ KHÂM THIÊN
Từng khối người lao về phía trước
Như sóng thần đuổi ngược sau lưng
Tai trơ, mặt mũi bịt bùng
Văng tục quau quọ vẫy vùng đủ chiêu
Búa xua tung xe nhiều bụi khói
Ngôi nhà xưa lở lói thương tâm
Nhà 95, đại tím bầm
Khối người chết lặng ầm ầm lao lên
Mưu toan những ngày đen đậm đặc
Đếch thiết gì bom giặc rải giăng
Đã từ ba mươi ba năm
Đếch cần cây đại tứ thân bên hè.
Sần sùi trong nỗi nghe ấm ức
Khối người kia hừng hực lao lên
Mù mờ không đích, không tên
Chẳng ai ngoái lại nhìn thêm nhà mình
Đại nhà 95 lặng im ./.

Khâm Thiên ơi! Quá tội tình
Chiến tranh
(Đỗ Hoàng thêm 1 câu)
Phạm Đương
Nguyên bản:

CHỊ THÙY TRÂM

chắc chị không nghĩ
sau những hiệp chính
dài đến ba mươi lăm năm
mình vẫn còn kịp cứu một bàn thua
cho những cầu thủ từng mặc áo đội tuyển
nhiều người trong số họ
giờ không muốn đá bóng
chỉ thích bán độ
và nhận huy chương
khó mà tin được
đám cháy ngày ấy
ba mươi lăm năm sau
vẫn còn ngút khói
trước nấm đất bị chìm khuất dưới ngàn cây
từng rơi vào quên lãng
tất cả những cao dày
đều thấy mình nhỏ lại

Đỗ Hoàng dịch ra thơ Việt

VÈ CHỊ THÙY TRÂM

Vè vẻ vè ve
Nghe vè chống Mỹ
Chắc chị không nghĩ
Sau hiệp chính dài
Ba mươi năm ngoai
Bàn thua kịp cứu
Đội tuyển thủ cựu
Không muốn đá ban
Thích cược nhận vàng
Khó mà tìm được
Đám cháy xưa trước
Ba mươi năm sau
Khói nghi ngút đầu
Nắm đất chìm khuất
Quên lãng làm mất
Tất cả cao dày
Đều là bụi bay

Vè vẻ vè ve
Nghe vè chống Mỹ...
Hà Nội, ngày 24 – 1 – 2013
Đ – H
Phạm Đương
Nguyên bản:
Ý NGHỸ RÁCH
Anh cứ ước ao
giá như có thể và được ý nghĩ
bị rách
như vá chiếc áo lính
thời mỗi năm một bộ rưỡi quân phục
nhưng mà thôi!
em đã nghĩ rách về anh
toạc một vết trong đầu
chiếc áo giấc mơ anh lành lặn thế
rạch một đường dao mà không thấy lưỡi
kim chỉ nào vá được ơi em?

Sài Gòn chằng chịt mạng nhện người
Sài Gòn luôn lao về trước
Anh như chiếc đồng hồ ngược
Mượn thời gian vá vết thương khuya

Ai đã rạch một đường hư ảo
Để anh khâu những nhát đầm đìa?

Đỗ Hoàng dịch ra thơ Việt:

Ý NGHĨ BƯƠM

Luôn luôn anh những ước ao
Vá lành ý nghĩ tào lao của mình
Vá như áo lính che hình
Bộ quân phục đã đóng đinh trên người!

Nhưng mà thôi! Nhưng mà thôi.
Ý em nghĩ rách về người của anh
Toạc đầu một vết lạnh tanh
Giấc mơ chiếc áo đang lành tôi mang
Lờ mờ một vệt dao lam
Chỉ nào khâu với kim vàng ơi em!
Sài Gòn mạng nhện chằng xiên
Lao về phía trước khó quên Sài Gòn.
Anh đồng hồ nước mỏi mòn,
Mượn thời gian vá cho tròn vết thương

Ai kia rạch một đường gươm?
Khâu anh những nhát rách bươm đầm đìa!
Hà Nội, ngày 24 – 1 -2012
Đ - H

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2013

Thu nha tho Trieu Lam Chau gui Do Hoang

Triệu Lam Châu | 21/01/2012, 21:20
Tuy Hoà, đêm 21 tháng 1 năm 2012
Thân mến gửi: Nhà thơ Đỗ Hoàng
Hơn một năm trước tôi có đọc bài dịch thơ Việt ra thơ Việt của anh đăng trên Tạp chí Nhà văn, thời anh Nguyễn Trác làm tổng biên tập. Tôi rất tâm đắc với việc làm của anh. Anh là một người anh hùng trên mặt trận giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt mình như Bác Hồ đã dạy năm nào.
Hiện nay chắc n...hiều người bất bình với kiểu thơ Vô lối (như anh đã đặt tên thật đúng), nhưng chắc người ta ngại mình bị chụp mũ là cổ hủ lạc hậu, không chịu hội nhập thế giới, không chịu cách tân… nên họ im lặng. Riêng anh thì không ngại điều ấy và đã dịch lại những bài thơ vô lối, thành thơ lục bát trong sáng, chinh phục lòng người. Đó là điều rất đáng hoan nghênh.
Anh là một người có trình độ thi ca, có tâm với sự phát triển trong sáng của nền thơ ca nước nhà.
Anh dịch lại thơ Đỗ Doãn Phương và Mai Văn Phấn vừa qua, đồng thời có thêm lời nhận xét rất xác đáng. Xin chúc mừng anh. Cầu chúc cho anh tiếp tục tấn công có hiệu quả vào loại thơ Vô lối đang làm hỏng, làm bẩn thỉu ngôn ngữ thơ trong sáng và thần diệu của cha ông chúng ta từ ngàn xưa.
Nền tảng đạo đức xã hội đang xuống cấp. Nền thơ đang xuống cấp cũng bởi tại loại thơ vô lối này. Chính vì thế quần chúng yêu thơ đang quay lưng lại với thơ (chủ yếu là đối với thơ vô lối). Còn loại thơ giản dị, trong sáng và cảm động, như bài Bước đường cùng đó sao của nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm, đăng trên lethieunhon.com mới đây, nói về anh nông dân Đoàn Văn Vươn bị cướp đất ở Tiên Lãng, Hải Phòng – thì quần chúng yêu thơ rất trân trọng và tán thưởng. Bởi nhà thơ đã phản ánh đúng những vấn đề bức xúc và nóng bỏng của tâm hồn người dân hiện nay, bằng một hình thức thơ trong sáng, giản dị và cảm động.
Tôi nghĩ: Lời dạy của cụ Hồ Chí Minh đối với văn nghệ sĩ, không bao giờ cũ: Viết cho ai? Viết cái gì? Viết như thế nào?
Loại thơ vô lối, chỉ viết cho cá nhân tác giả (đâu có viết cho nhân dân). Họ làm thơ không phải để hiểu. Do đó người đọc không hiểu họ nói gì. Người đọc quay lưng lại với thơ vô lối. Còn họ viết như thế nào, thì chúng ta rõ rồi…viết tắc tị như đánh đố người đọc vậy.
Dẫu một số người cổ vũ cho loại thơ vô lối ấy, nhưng rồi quần chúng yêu thơ chân chính đã thải loại nó vào đống rác lâu rồi. Rất may là thơ vô lối chưa bén mảng vào sách giáo khoa… may lắm thay!
Xin chúc nhà thơ sức khoẻ, bình an và bền chí đấu tranh thắng lợi với thơ vô lối.
Bạn thơ Triệu lam Châu
Thư điện tử: trieulamchau@gmail.com
Điện thoại: 0983 825502
 
 
 

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

Nguyễn Trí Huân - Ông là ai?

Nguyễn Trí Huân là ai ?
(Thế là sau khi phá tan nát tờ báo Văn Nghệ , nay ông ta lại chuẩn bị kiêm thêm luôn Tổng biên tập tờ tạp chí Nhà Văn . Ôi ! Ban chấp hành quả là sáng suốt , đưa một kẻ phá hoại về chấn chỉnh và đổi mới cơ quan báo chí của hội . Hết cách bàn rồi . Vậy nên để bạn đọc hiểu con người này như thế nào ? Xin được công bố bài HỊCH này đã được lưu truyền trong báo Văn Nghệ những năm 2009 – 2010 )
Trương Vĩnh Tuấn ( sưu tầm , hiệu đính và giới thiệu )
Như ông ! Một thời binh nghiệp
.Một thưở đao binh .
Những tưởng sau cú cảnh cáo toàn quân .
Vì in bài phản thuần phong mỹ tục
Cho chó ngủ với người .
Và chính ông .
Tằng tịu cả với vợ đồng nghiệp .
Thì ông phải rút ra bài học .
Chốn văn chương đâu phải chỗ chơi bời .
Hỡi ôi !
Cứ tưởng sẵn đến ăn khi cỗ đã được bày .
Cứ tưởng có cỗ là đầy xôi đầy thịt .
Hí hửng sà vào không cần biết .
Liệu dạ dày tiêu hóa được bao nhiêu .
Biết phận mình khi đã về hưu
Cố vơ vét hưởng thêm chút sái
Nơi đây .
Hơn nửa thế kỷ ánh hào quang chói lọi
.Được lưu giữ đức tài từ các bậc tiền nhân .
Và bao đời các thế hệ cháu con .
Gìn giữ ngôi đền thiêng chữ nghĩa .
Cho đến khi ông về ngự trị .
Giở thói quân quyền phe nọ phái kia .
Phê phán tiền nhiệm bằng mọi ngón nghề .
Sử dụng tay sai mấy thằng chợ búa .
Vốn là tên cơ hội .
Đá ghế ăn không nghĩ ngợi bao giờ
.Cầm cán cờ mà mỗi trận phong ba .
Cứ lúng túng như gà mắc tóc .
Làm quả liều may ra thì được .
Thảo đề cương xóa tôn chỉ mục tiêu
.Ăn cơm ai ?
Mặc áo ai ?
sao gió lại đổi chiều .
Không biết đang là kẻ nói leo làm hộ .
Uổng xương máu bao người đã dổ .
Dựng xây nên cơ nghiệp cơ đồ .
Nếu ông không đến nỗi mơ hồ .
Thì quả thật hết khôn dồn dại T
ưởng một lần thì ông nhớ mãi.
Máu hung hăng tiếp tục hoành hành.
Cho in những truyện ngắn kiểu đàn chị đàn anh.
Hạ bệ người được nhân dân tôn kính G
iương trang nhất tưởng thế là trúng mánh
Là anh hùng một cõi huyênh hoang .
Có hay đâu bán chúa lộn sòng
Cùng một duộc ăn xong đá bát .
Cả số báo mừng ngày sum họp.
Bao đau thương bao kì tích anh hùng.
Ông bỏ qua ông ngoảnh mặt xoay lưng M
à cổ vũ cho văn đàn bán nước .
Là người lính từng xông pha trận mạc .
Bao đồng đội của ông đang nằm lại chiến trường .
Hay ông kiếm chiếc vé dự phòng .
Khi bất trắc có nơi tẩu thoát …
Loại như ông biết gì về bauxit .
Chuyện qua lâu đâu cũng đấy rồi .
Vẫn biết rằng ông khác chúng tôi .
Tiền . làm ông lóa mắt .
Nhân danh nhà văn ông lên án các nhà khoa học.
Cầm diễn đàn ông đi ngược lòng dân.
Nơi văn đàn không phải chỗ kiếm ăn .Ngẩng mặt kêu trời .
Nhục không sao kể xiết .
Lại lên giọng buông lời thưa thớt .
Rằng tại vì mong muốn nọ kia .
Cũng họp hành hội thảo sớm khuya .
Cũng lên ngựa xuống xe sao uổng công phí sức .
Hỡi ôi ! Trên đầu đã hai thứ tóc .
Lon đeo nặng hai vai .
Vẫn không sao làm nổi con người .
Bố cáo này gửi tới mọi nơi .
Ai chưa hiểu chắc rồi sẽ hiểu .

Trương Thảo - Nhóm bạn quý nhau

Nhóm bạn quý nhau 
Họa sỹ Trương Thảo mời tôi tham dự cuộc vui của nhóm nhóm bạn quý nhau, gồm các nhà dịch giả, ngoại giao, giáo sư đại học, cán bộ các bộ ngành như: họa sỹ Trương Thảo, nguyên giảng viên chính Đại học Mỏ địa chất, đại học Bách khoa, giáo sư Sơn giảng viên đại học Bách khoa, Nguyễn trung nhà ngoại giáo, Trần Đình thái, ở bộ Khoa học công nghệ, anh Liêm, Nhà văn  Trần Đình Hiến (dịch Mạc Ngôn

         
Nhà văn Trần Đình Hiến                                                                   Họa sỹ Trương Thảo                                                                 Nhà ngoại giao Nguyễn Trung

      
Gs Sơn                                                                                           Nghệ sỹ Nhiếp ảnh Tài tử Đức Lợi                                                      Gs Liêm

     

Đức Lợi, N s Thông  Nhà thơ V Q Côn  (Đứng)                   N S Huy Thông, Nhà thơ V Q Côn, Nhà thơ Đỗ Hoàng             Nhgeef sỹ Đức Lợi, H s Tương Thảo
Tài tử Ngân ( ngồi), Họa sỹ Trương Thảo                                      Tài tử Ngân, Họa sỹ Trương