Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

Làng ơi! Ruộng ơi!



                           Làng ơi! Ruộng ơi!
                            
                                       Bút ký của Đỗ Hoàng.
   
            Làng Thuận của tôi thời kháng chiến chống Pháp có cả Tân, Dương, Mỹ, Thái, gọi chung là xã Cao Vân thuộc huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. Mẹ tôi từng là Bí thư phụ nữ xã kháng chiến Cao Vân. Sau hoà bình năm 1954 lập lại thì xã Cao Vân chia thành bốn xã có riêng giữ đến bây giờ: Tân Thuỷ, Dương Thuỷ, Thái Thuỷ và Mỹ Thuỷ. Làng Thuận tôi giờ chỉ gói gọn trong xã Mỹ Thuỷ.
        Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, thì làng Thuận trước đây là tổng Thuận Trạch thuộc huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình ở vào đất Ô Châu biên trấn. Một miền đất chó ăn đá, gà ăn sỏi. “Quảng Bình là đất Ô Châu/ Ai đi đến đó quẩy bầu về không”. Câu ca dao ấy đã làm kinh sợ cho bao nhiều người ở các trấn khác và làm ngậm ngùi xót thương cho chúng tôi là những người con cùng chịu thương chịu khó lam lũ của xứ này!
    Quảng Bình nằm trong bộ Việt Thường. Việt Thường là một trong những bộ tối cổ của Việt Nam. Như vậy làng tôi đã có từ bảy tám trăm năm nay. Chính xác hơn, trước khi nhà Trần mở cõi vào khoảng năm 1200  thì cư dân người Việt đã đến vùng Châu Ô, Châu Rí lập nghiệp.
          Từ thuở ấu thơ, tôi đã thấy làng tôi trù phú, sầm uất. Trong làng có nhiều đền chùa, miếu mạo. Nổi nhất là chùa Quan hay gọi là chùa Trạm. Tận trời chuông Trạm kêu xa. Chùa Trạm có tên chính là chùa Hoàng Phúc do chúa Nguyễn xây dựng cách đây đã 400 năm. Trong chùa có xoài, có mít, có cổ thụ, có sen hồ. Chùa là nơi diễn ra các nghi lễ và hội làng. Nói như bây giờ là địa chỉ văn hoá của xã. Làng Thuận nằm bên bờ tả ngạn sông Bình Giang,  nay gọi là sông Kiến Giang. Một nhánh  của sông Nhật Lệ nổi tiếng. Sông Kiến Giang bắt nguồn từ dãy Trường Sơn hùng vỹ chạy ra biển đến thôn Trần Xá huyện Quảng Ninh thì gặp sông chính Nhật Lệ.
        Làng Thuận có sông Kiến Giang đẹp không thua sông Hương xứ Huế. Nhà Nguyễn đã mấy lần định đóng đô ở đây. Ngày trước giao thông chưa phát triển thì vận chuyển đường thuỷ là hết sức tiện lợi. Nên các cuộc thiên di thiên lý của vua chúa đều đi qua đây. Ngay trong chiến tranh chống Mỹ, đây cũng là nơi tập kết hàng hoá và chuyển quân ra chiến trường. Vì thế mà thời chiến tranh phá hoại máy bay Mỹ đã đánh làng Thuận không còn sót một ngôi chùa, mái nhà dân nào. Mỗi mảnh vườn trong làng đều có một hố bom sâu hoắm. Vườn nhà tôi có hố bom tấn đến nay đã hơn 40 năm mà nó vẫn chưa cạn, thím Huồn vợ chú Lực em ruột tôi dùng làm ao rau muống và thả cá.
       Thật ra gọi làng Thuận chỉ là cách gọi cách hoài cổ, chứ bây giờ không ai gọi nữa. Trong hồ sơ giấy tờ của nam phụ, lão ấu chỉ ghi tên xã, hợp tác xã, đội sản xuất. Nhưng tôi thì thích gọi tên làng Thuận. Vì tên ấy gắn liền với tuổi thơ lầm lũi của tôi và bạn bè tôi trong thời chăn trâu, cắt cỏ, đi học dưới mưa bom bão đạn thời chống Mỹ.
        Làng Thuận có đồng Đồi Nhất, Đồi Nhì, Tả Biếng, Cồn Cụt,  Cồn Tràm, Cồn Tu Huýt. Những tên đồng ấy đối với người lạ không có gợi cảm, gợi nhớ gì nhưng đối với tôi là cả một ký ức tràn đầy kỷ niệm vui buồn, thương cảm mênh mang mà cho đến lúc nhắm mắt xuôi tay, tôi vẫn không thể nào quên được. Đồng Đồi Nhất, Đồi  Nhì, Tả Biếng, Cồn Tu Huýt, Cồn Cụt, Cồn Tràm có ruộng của mẹ tôi, của các bác, các cô, các cậu tôi do ông bà để lại. Tôi thường theo mẹ đi thăm lúa. Những năm được mùa lúa trãi thảm đầy những hạt vàng lấp lánh tận tít chân trời. Mẹ tôi vui lắm. Ánh mắt của người sáng lên ngời ngời. Tôi vui lây niềm vui của mẹ. Năm ấy nhà tôi và làng tôi không có ai bị đói.
       Đến tuổi đi mót được lúa, tôi được bà con họ tộc cho đứng đầu bờ bứt thả sức những chẽn lúa vàng bỏ vào giỏ của mình cho đến lúc nào mệt thì thôi. Lớn lên một chút nữa, tôi đi chăn bò, cắt cỏ, đi chơm, đi tát làm những công việc nhà nông. Những buổi đi tát người lấm lem bùn đất nhưng đứa trẻ nào cũng vui như tết khi bắt được những con cá quả to bằng bắp tay của mình. Cá bắt về nhiều đến mức có đôi lần mẹ tôi cứ nuôi mãi trong vại không muốn kho ăn.
       Sau này khi vào hợp tác xã thì ruộng đất không chỉ của mẹ tôi mà của mọi người đều trở thành ruộng của hợp tác xã. Thay đi cày, đi cuốc, đi cấy trên thửa ruộng của mình, mẹ tôi và chúng tôi đi cày, đi bừa, đi cấy cho hợp tác xã. Làm công lấy điểm chia thóc. Xã viên từ chủ nhiệm đến dân thường ai ai cũng vậy.
      Mẹ tôi thường kể, vì ông ngoại tôi nới mất nên mẹ lấy chồng phải cưới cheo. Cưới cheo tức là con gái ôm áo về nhà chồng, không phải làm đám cưới. Bà nội tôi nghèo không đủ tiền nộp cheo, bác Đội Diệm gái có tiền nộp thế nên khi về nhà chồng, mẹ tôi phải làm “dâu” cho bác gái tôi. Làm “dâu” cho chị dâu lại khổ cực trăm đường. Thế mới là oái ăm.
      Ông nội tôi lấy hai vợ, có năm người con trai và hai người con gái. Bố tôi là con trai út nên tôi chỉ có bác mà không có chú. Cả ba tôi và các bác thời Pháp thuộc đều đi lính Pháp. Năm anh em đều bị đưa sang Pháp đánh nhau với Phát xít Đức thời thế chiến thứ hai.
     Cây đa làng ở cổng chùa trước nhà ông nội tôi mỗi lần đâm nhánh mới thì các bác đều được thăng trật lên đội, lên quản nên nội tôi kính nể cây đa lắm. Nhánh thứ năm đâm ra thì ba tôi được thăng chức Đội. Mẹ tôi được gọi bà Đội như bác Đội Diệm gái. Vì ba tôi được thăng chức sau cùng, trước đó chỉ làm Cai nên con cháu và làng nước gọi mẹ tôi là thím Cai Triển.
     Lớn lên tôi cũng chỉ nghe làng gọi mẹ tôi là bà Cai Triển, không được gọi bà Quản  Giáo, bà Quản Nhuỵ, bà Quàn Tiềm, bà Đội Diệm, bà Đội Nậy như các bác gái của tôi. Ông Đội ngày trước là bậc tiên chỉ trong làng, ông Quản còn cao hơn. Các ông Quản, Đội có vị thế như các cụ chánh tổng, lý trưởng, được ăn được nói, được bàn chuyện làng nước trước bàndân thiên hạ. Tôi còn nhớ bài thơ “Ông Đội” của Nguyễn Bính: “Ông Đội người cao lớn lạ lùng/ Đã từng sang Pháp đánh nhau xong/ Trở về làng cũ hôm nào cũng/ Đi với con trâu ở giữa đồng/ Ông thích chờ qua lũ học trò/ Để nghe chúng nó cãi nhau to. Bần thần giở vở xem từng đứa/ Rồi học ê hề mấy tiếng mô!....Hưu trí hôm nào trẩy lĩnh lương/ Trở về túi dết khoác lên đường/ Ông làm như thể còn đi lính/ Đầu đội bê rê chóm mũ vàng”. Bác Quản Nhuỵ, Quản Giáo, Quản Tiềm, Đội Diệm, Đội Nậy và ba tôi đều có mẫu hình hao hao như vậy.
     Các bác của tôi và cả ba tôi sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 từ bên Pháp theo Cụ Hồ về nước, ai cũng vào bộ đội Việt Minh. Ba tôi và các bác tôi dạy chơ những người nông dân quê tôi “tập bừa, tập cày tay vốn làm quen, tập khiên, tập giáo, tập cầm cờ mắt chưa từng ngó” biết cách đánh giặc Tây, biết hô a lô xô, hô lê manh, biết tập họp đi ong, đơ. Trong số du kích, dân quân của làng được tập quân sự ngày ấy có ông Lê Hoãn làm đến chính trị viên tiểu đoàn trong kháng chiến chống Pháp, ông Trần Đức Phúc con ông Phó mộc làm đến Trung tá Quân đội nhân dân Việt Nam thời năm 1958, 1959 thế kỷ trước. Trong năm anh em của ba tôi về theo bộ đội Cụ Hồ, chỉ có bác Đội Diệm làm đến huyện đội trưởng mới nghỉ hưu.
          Hồi trước mỗi suất đinh được chia ba sào ruộng, con gái không có tiêu chuẩn này. Năm anh em của ba tôi có đến một mẫu rưỡi ruộng ( mẫu Trung Bộ) tức là 7 500m2. Mấy anh em đi lính sang Pháp nhưng ruộng đất vẫn được giữ trọn ở làng. Bà nội tôi cho người làm thuê đến mùa thu lợi hoa màu theo quy ước của làng.
          Năm 1968 tốt nghiệp lớp 10 (trung học phổ thông lớp 12 bây giờ), tôi bị đưa về bổn quán lao động sản xuất, tôi càng biết và hiểu thêm cặn kẻ đất ruộng làng tôi. Tôi biết thửa nào là ruộng thuộc loại nhất đẵng điền, thửa nào thuộc chỗ chim tha, cò ỉa, lúa chồn chạy bày cả lông. Lệ Thuỷ “nhất Đồng Nai, nhì hai huyện”, hai huyện là huyện Lệ Thuỷ và huyện Quảng Ninh của tỉnh Quảng Bình. Lúa của làng tôi rất tốt nhưng không bằng lúa của vùng sâu giữa huyện. Ruộng làng tôi là vùng ruộng cạn. Năng suất buổi đó độ ba tạ một sào là cùng. Ấy vậy mà đời này qua đời khác những thửa ruộng nhỏ nhoi ấy nuôi làng tôi sống. Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước những hạt thóc của đồng làng đã được huy động đóng góp chi viện cho tiền tuyến để bộ đội ăn no đánh thắng. Năm 1968, năm 1971, Quảng Bình đã có hai lần cho Trung ương vay hơn 500 000 tấn thóc của dân để cứu giúp 2 vạn bộ đội Trường Sơn mở đường thắng lợi. Hạt thóc làng tôi đã lên đường góp công cùng tiền tuyến như thế.
       Hiện nay toàn xã Mỹ Thuỷ có khoảng 247 héc ta đất ruộng. Thời trước có chừng 250 héc ta. Đất ruộng làng tôi không bị cơn biến động đất đai như nhiều nơi của những thập kỷ vừa qua. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã mấy lần lên truyền thông đại chúng cho biết những năm vừa qua chúng ta đã chuyển đổi 175 000 héc ta bờ xôi ruộng mật để làm các dự án, sân gôn. Nhưng ruộng làng gần như được giữ nguyên vẹn. Đó cũng là công lớn của cấn bộ làng xã.
        Sau một thời gian lao động sản xuất ở bổn quán, tôi được đưa lên làm cán bộ thống kê hợp tác xã của làng. Nhìn vào thực tế và bằng trực cảm của mình tôi biết cách làm hợp tác của làng tôi không đưa lại hiệu quả gì cả. Thật ra hợp tác làm ăn là thế mạnh của con người trong mọi lĩnh vực và hợp tác sản xuất nông nghiệp cũng vậy. Nhưng chúng ta tổ chức và làm sai cái hợp tác xã. Hợp tác xã nông nghiệp biến thành cái trại lính A rếch trắc (biến nông thôn thành trại lính) ở bên Nga dưới thời Sa Hoàng. Những cuộc lãn công của nông dân kéo dài mấy thập kỷ. Ngay từ thuở ấy tôi đã viết cảm nhận của tôi trong bài thơ “Ngưng bắn về thăm quê”: “Kiểu làm ăn hợp tác/ Đói nghèo đến tuỷ xương”.
      Thật vậy, hợp tác xã quản lý gần 10 000 khẩu dân, 250 héc ta đất ruộng, chưa kể 500 héc ta hoa màu và hàng chục ngành nghề khác, thế mà các ông chủ nhiệm, phó chủ nhiệm hợp tác có người chưa học hết lớp ba tức là chưa làm được cộng trừ nhân chia số có hai chữ số. Tôi có một lần hợp tác xã tính năng suất vụ lúa chiêm để báo cáo lên huyện. Cái phép tính năng suất ngay cả lớp hai thời đó cũng làm được. Thế mà tất cả các thư ký đội, kế toán hợp xã lên ngồi hai ngày mà vẫn tính không ra.
       Lúa của chung hợp tác xã biến thành của riêng do chủ nhiệm hợp tác xã điều tiết phân chia. Nên các ông tha hồ dĩ công vi tư. “Một người làm việc bằng hai/ Để cho chủ nhiệm mua đài, mua xe/ Một người làm việc bằng ba/ Để cho chủ nhiệm xây nhà xây sân./ Bây chừ hợp tác, hợp te/ Không có mảnh vải mà che cái lồn” Chẳng ai sờ tóc gáy các ông chủ nhiệm. Sẵn lúa gạo các ông tha  hồ ban phát. Mấy chị xã viên thiếu ăn đến xin. Ông cho ngay, nhưng ông không phải cho không, và ai ông cũng cho. Xã viên gái đẹp sòn sòn ông mới cho, ông cho thóc thì phải cho lại ông cái gì. Cái cho lại ông mà ông thích nhất là đẻ ra thằng người. Vậy nên ông chủ nhiệm cũng có hơn chục đứa con riêng trong làng là chuyện bình thường.
        Thời làm tổ đổi công thì ai cũng đủ ăn, đến thời hợp tác thì “sống không lô không lạng, chết trám bạng mưng ri”. Xã viên đói dai đói dài. Buổi ấy tôi chưa nghe có ông Bí thư Tỉnh uỷ Kim Ngọc mở ra khoán sản, khoán ruộng cho xã viên làm thì cứu được dân khỏi đói. Thật ra khoán sản chẳng có gì mới hơn thưở cha ông mỗi người có ba sào ruộng để canh tác. Nhưng dẫu sao nó cũng hơn làm ăn hợp tác lúc đó.
       Bây giờ hợp tác xã vẫn giữ tên gọi như cũ, nhưng cách làm thì đã khác. Từ năm 1994, nông dân được chia lại ruộng đất, mỗi người được một sào ruộng Trung Bộ. Sinh không thêm, tử không bớt. Người nào người nấy tự cày cấy, gặt hái trên thửa ruộng của mình. Người không làm thì cho người khác thuê làm hoặc khoán cho người khác đến làm rồi chia hoa màu như bà nội tôi từng làm trước đây. Họ chỉ có đóng góp nghĩa vụ công ích và nộp các khoản lệ phí như thuỷ lợi phí, phân bón, thuốc trừ sâu…
       Cuối tháng bảy năm 2009 vừa qua, nhân 100 ngày giỗ mẹ tôi, tôi có dịp về lại làng và thâm tâm muốn tìm hiểu thêm về cách làm ăn của bà con bổn quán hiện nay.
       Tôi gặp lại anh em họ tộc và bạn bè thưở còn đi học trường làng cùng trao đổ thẳng thắn về những bức xúc trăn trở đang diễn ra hàng ngày trên quê hương mình.
        Con cháu năm anh em ba tôi và hai cô ruột có đến 100 khẩu đều đã phiêu bạt lãm ăn ở xứ người. Ở làng duy nhất chỉ có anh Đỗ Đức Trai con bác Đội Diệm, chú Đỗ Đức Lực em ruột tôi nhưng đã mất cách đây năm năm. Vợ chú Lực là thím Huồn cùng đứa con trai trông nom từ đường thờ cúng ông bà. Nhưng đứa cháu trai này học được nghề lái xe ô tô đang chuẩn bị vào Đà Nẵng lái xe cho chị ruột của nó.
      Khi nghe tôi hỏi về làm lúa, làm hoa màu thì anh em trong họ tộc và bạn bè bàn tán sôi nổi hẳn lên.
  Anh Trai cho rằng, chia ruộng không công bình. Anh nói: “Ông bà chúng ta có hàng chục mẫu ruộng, ba tôi cũng có ba bốn mẫu ruộng. Đời đời lấy nông vi bản. Trong hồ sơ lí lịch của gia đình tôi đều ghi là làm ruộng, thế mà họ thấy tôi làm thêm ngành nghề họ chỉ cho gia đình tôi mỗi khẩu có nửa sào ruộng. Gia đình tôi có 5 khẩu được chia hai sào rưỡi ruộng là không công bằng! Làng mình có ai là không làm thềm nghề phụ để sống. Có người đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài hai ba chục năm nay vẫn được chia ruộng nhiều hơn tôi. Trong khi gia đình tôi bám ở làng mà sống thì được chia có một nửa, thật không biết kêu ai?
  Tôi hỏi anh Hồ Ngọc Thanh, bạn học trường làng, từng làm nhiều nhiệm kỳ làm Bí thư Đảng uỷ xã Mỹ Thuỷ: - Việc ấy có đúng không?
Anh Thanh bảo: - Nhiều nơi hợp tác xã chia ruộng cũng chưa thật sát cho xã viên. Anh Trai được chia một khẩu nửa sào cũng không đúng. Bà con đã sinh sống lâu đời ở làng quê thì ai cũng phải được chia như nhau.
 - Làm một sào ruộng bây giờ lãi được bao nhiêu? – Tôi hỏi bà con.
  Sau một lúc tính toán mọi người cho hay:
   - Công cày bừa một sào: 135 000 đồng, thuỷ lợi phí một vụ: 95 000 đồng, bón lót: 95 000 đồng, bón bón thúc: 395 000 đồng; công làm có, công trượt, gặt, chở về nhà: 415 000 đồng.
   Tổng cộng làm một sào tự đầu tư hoặc thuê mướn hết: 987 000 đồng. Một sào thu đươc 3 tạ lúa nhân một cân thóc 3 500 đồng. Vị chi bán được: 1 050 000 đồng. Thực lãi: 163 000 đồng tương đương 50 ki lô thóc. Đấy là nói năm được mùa, còn mất mùa thì nông dân mất trắng.
   - Làm lúa lãi không bao nhiêu, sao bà con không đi trồng thứ cây khác, những cây rau màu có lãi hơn, như trồng rau muống chẳng hạn? – Tôi chất vấn.
  Thím Huồn nói ngay: - Trồng rau muống biết bán cho ai? Đến bò nó cũng không thèm ăn nữa là người. Nông thôn chẳng nhà nào thiếu rau muống mà mình phải trồng đem bán.
  Cấy lúa lỗ cũng phải làm. Lấy công làm lãi. Như thím Huồn em chú Lực đây. Việc cày, việc gặt, công chăm sóc, vận chuyển đêu mẹ con làm tất, chỉ bỏ tiền mua phân hoá học và đóng thuỷ lợi phí. Mỗi sào cũng thu được nửa triệu đồng. Nhưng quê tôi thì “ló vào, ló ra” (Lúa vào nhà thì lúa đi ra ngay). Tất cả chỉ trông vào hạt lúa. Tiền con đi học cũng hạt lúa, tiền áo quần cũng hạt lúa, tiền hiếu hỷ và trăm thứ tiền không tên khác cũng chỉ hạt lúa. Người nông dân đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương mà muôn đời vẫn khổ là vì vậy.
  Hạt gạo nuôi triệu triệu người sống, mà người làm ra hạt gạo thì muôn đời cơ cực!
 Và cái tổ chức hợp tác xã bây giờ tôi cũng đầy băn khoăn nên tôi hỏi lại anh em họ tộc và bà con làng xã.
  Anh Hoàng Ngọc Trâm, anh con cậu ruột của tôi là cán bộ thuỷ lợi nghỉ hưu nói: -  Hợp tác xã bây giờ vẫn hình thức vẫn nhận phần lúa đóng góp của xã viên thôi chú ạ! Tôi xin đơn cử: Bí thư, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm,  đội trưởng, thôn đội trưởng… đều được chia ruộng và cũng canh tác như mọi người. Ruộng đất của ai người ấy tự lo làm không phải hợp tác xã làm như trước đây. Thế mà Bí thư thôn, chánh phó chủ nhiệm, kế toán trưởng mỗi vụ được phụ cấp 4,5 tạ lúa, thôn trưởng 2 tạ lúa. Lúa ấy ở đâu ra? Lúa lấy ở các xã viên làm ruộng. Mỗi sào phải trích ra 2 kilô gam đóng góp. Theo tôi phải có một cách tổ chức hợp tác xã khác đi, còn tổ chức hợp tác xã như ở  làng ta, tôi thấy nên bỏ đi. Họ chỉ ăn bám. Nên chăng thì chỉ phụ cấp cho thôn trưởng.
  Tôi rất tán đồng ý kiến của anh Trâm. Không chỉ ở làng tôi có nhiều tổ chức ăn bám mà rộng ra cả nước cũng có nhiều tổ chức thừa ra để hưởng lợi từ ngân sách.
     Tôi nhớ cách đấy gần 30 năm khi tôi đang công tác ở báo Dân (Bình Trị Thiê) ra viết bài cho huyện nhà. Bài báo tôi viết in trên báo Dân năm 1982 là bài “Lệ Thuỷ phá thế độc canh lúa vươn lên làm giàu”. Ông Đào Hữu Bi, Chủ tịch huyện lúc ấy rất thích bài viết ấy và cùng tôi đàm đạo sẻ chia nỗi trăn trở của quê hương.
  Ông nói: “Quê mình ruộng lúa phì nhiêu mà dân và ngay cả huyện lỵ cũng chưa có một cái nhà lầu (thập kỷ 80). Trong khi nhiều nơi chẳng có đất ruộng gì cả mà quê hương họ đã thành phố xá từ lâu rồi. Đúng là phải phá thế độc canh cây lúa, đẩy mạnh các ngành nghề dân mới giàu, huyện mới sang được nhà báo ạ!”.
   Huyện Lệ Thuỷ đã làm được việc ấy. Bây giờ thị trấn Kiến Giang huyện lỵ khang trang không thua một góc phố nào của các thành phố. Không chỉ quan chức mà dân chúng thị trấn cũng có nhiều nhà lầu và sắm xe ô tô riêng.
- Làng mình cũng nên làm như vậy để thoát nghèo chứ? – Tôi hỏi anh Thanh.
 -  Làm, làm, làm từ thời tôi còn đương chức Bí thư Đảng uỷ xã -  Anh Thanh trả lời ngay.
 - Thế thì đời sống bà con nông dân bây giờ như thế nào? - Tôi hỏi tiếp.
 Anh Thanh đáp: - Tôi và anh ngày trước đi học không có sắn khoai để ăn. hiện thời thì sắn khoai không ai ăn nữa. Hoa màu dùng cho chăn nuôi. Bầy giờ làm nông ở làng Thuận nhàn hơn nhiều. Bà con không còn gieo mạ để cấy. Họ gieo thẳng. Gieo thẳng giảm biết bao công sức. Đây là một cách học kiểu canh tác của đồng bào Nam Bộ. Làng Thuận 100% gieo thẳng.  Các giống lúa: chùm, thứ thai năng suất thấp ngày trước không dùng nữa. Xã viên dùng các giống lúa mới như: CN2, XE3, X21, X30, HT1…
 Năng suất lúa đạt 4 tấn trên một héc ta. Làng mình không có hộ đói, hộ nghèo độ dưới 10%, hộ khá trên 40%.. Đặc biệt có hộ biết làm ăn thì rất giàu. Họ mở doanh nghiệp sắm nhiều ô tải chở hàng. Đường làng, ngõ xóm đã bê tông hoá 100%.
 - Hộ giàu nào từ cây, con đi lên? – Tôi hỏi thêm.
 - Hộ nào cũng từ cây con đi lên cả!- Anh Thanh nói tiếp – Mô hình cây, cá, lúa là mô hình của làng Thuận. Hộ giàu như Trần Ngọc Tài thôn Mỹ Trung, Đỗ Đức Đạt, Nam Thống thôn Thuận Nam, Thành Đạt thôn Mỹ Hà. Còn nhưng hộ ly nông bất ly hương làm nghề, chạy chợ, đi buôn, đi xuất khẩu lao động ngay ở chợ Trạm đã kể không hết.
  Tôi đi thăm một vài anh em trong làng. Vợ chồng anh Hoàng Văn Sang và chị Nguyễn Thị Nấp là một trong hàng trăm hộ ở làng Thuận chỉ thuần nông mà vẫn đủ sống không thuộc diện hộ nghèo.
   Anh Sang con cô cậu của tôi. Gia đình trước đây làm nhề nhuộm răng đen nên con cái (tức là cha và chú) của anh Sang sống nhàn nhã phong lưu. Họ là những người chỉ “theo đuôi chồn bóng thỏ” nghĩa là ăn chơi săn bắn. Đến thế hệ anh Sang thì xác xơ phải bán lưng cho trời, bán mặt cho đất.
  Anh nói: - Tôi một vợ bốn con làm ruộng cũng đủ sống. Mùa nào thức ấy, tôi trồng thêm hoa, làm thêm cây cảnh nên cũng tạm qua ngày như bao người khác.
 - Anh có làm thêm nghề phụ nào không? - Tôi hỏi.
 - Có nuôi mấy con lợn. Nhưng do vợ tôi làm. Tôi chăm mẫu ruộng là đã kiệt sức rồi. – Anh Sang đáp.
  Nghe anh Thanh nói những người thuần nông đơn chiếc vẫn không thuộc diện hộ nghèo, tôi đến thăm dì Duyến.
     Dì Duyến, dì Đẩu là con ông Từ Quỳnh. Hai người nổi tiếng là cây văn nghệ của làng ngày trước. Mẹ tôi thường dắt tôi đi xem văn nghệ làng biểu diễn. Hai dì nổi tiếng trên sân khấu làng xã hồi ấy giống như Ma đô na nổi tiếng trên hoàn cầu bây giờ. Chỉ có ông Phát đân miền Nam tập kết có nhiều vàng, nhiều bạc mới lấy được dì. Dì đẻ ra sáu đứa con thì ông Phát bị bom Mỹ sát hại, dì phải chim chuột kiếm thóc, kiếm khoai lại đẻ thêm bốn đứa nữa. Mười đứa con do một tay dì nuôi nấng. Bây giờ chúng nó đi làm ở phương xa. Nhằm mưu sống, mảnh vườn ông bà để lại hơn năm sào, dì vỡ ra ba sào làm ruộng. Tôi đến thăm nhà dì mà cứ tưởng lạc vào vùng kinh tế mới Đồng Nai hay Bình Phước, Bình Dương.
  Dì nói: - Dĩ nông vi bản con mà. Dì có ba sào ruộng cộng một sào ruộng hợp tác xã chia cho thì gạo lúa làm sao ăn hết. Cứ có gạo có lúa là sống được, không chết đói đâu! Con dì mười đứa đi làm nhà nước mười phương nhưng đứa nào về cũng xin gạo dì mang đi.
    Đó là điều sự thật khi tôi ngắm nhìn ruộng trong vườn nhà dì tốt tươi là vậy.
    Gần nửa thế kỷ trôi qua làng Thuận của tôi thay đổi nhiều lắm. Cái làng huyền thoại trong ký ức của tôi đã tan nát dưới thời bom Mỹ dội. Cái làng hôm nay đã trở lại nguyên hình của nó. Thâm tâm tôi thật buồn khi thấy sông Kiến Giang đã đổi dòng. Người ta đào cát sạn làm cho bờ bên làng Thuận là bờ đất bồi trở thành bờ lở, còn bờ lỡ bên phía Xuân Bồ lại trở thành bờ bồi. Khi mẹ tôi đang sống người hay hò: “Bợc Xuân Bồ càng cao càng lở, đò Dinh Trạm càng chở càng đông”. Nay thì con người làm cho thiên nhiên thay đổi trở lại. Sông Kiến Giang biến dạng, biền Thượng, biền Hạ, chùa Trạm không còn nữa. Biền Thượng, biền Hạ là bãi đất phù sa trồng ngô, trông đỗ xanh ngắt đủ nuôi sống nửa làng mà giờ đây người ta đã bán đất chia lô cho nhiều hộ đến xây nhà, dựng lán. Chùa Trạm cũng vậy, cái sân hội làng cũng đã có ba bốn hộ đến xây nhà lầu và cũng đã được cấp sổ đỏ. Nghe nói Hội Phật học tỉnh và các tăng ni phật tử đang đề nghị xây dựng lại chùa Trạm. Chùa Trạm là một di tích có hạng nên việc xây dựng lại chùa Trạm không sớm thì muộn cũng trở thành hiện thực. Làng Thuận sẽ có lại hình hài của nó như từ thưở ông cha đến đất Ô Châu mở cõi lập nghiệp.
   Xong giỗ 100 ngày của mẹ, tôi trở lại nhiệm sở. Chỉ còn ngày nhập năm, ngày trọn một năm mất của mẹ, tôi mới trở lại làng Thuận một lần nữa. Còn sau đó tôi thảng hoặc tôi mới có điều kiện về làng. Tôi không lấy được vợ là người làng. Vợ tôi ở một miền xa ngái. Con cái tôi chỉ một đôi lần trong đời về thăm nội làm sao biết được địa danh trong làng. Mà những địa danh ấy tôi đã một đời gắn bó, một đời đổ mồ hôi, sôi nước mắt, thậm chí cả máu của mình để cho nó thành kỷ niệm trong tim không bao giờ phai nhạt.
   Trong tâm trí tôi đã có nhiều lần tôi ước ao được như quan trạng ngày xưa hoặc như người công thành danh toại vinh quy bái tổ đãi làng ba bữa tắt lửa.  Tưởng là đơn giản như vậy nhưng cả đời tôi, tôi chắc là không thể làm được. Hơn 10 nghìn dân làng Thuận tắt lửa ba bữa đâu phải chuyện ai cũng lo dễ dàng? Huống chi vua lo cho dân nước mình no ấm thì công lao biết nhường nào!
  Tôi thường nghĩ: - Giá như ngày xưa ba sào ruộng của ba tôi để lại, con cái được thừa hưởng, chắc tôi sẽ không rời làng ra đi. Tôi có ba sào ruộng của tổ tiên dù lười đến mấy, dù cho cày thuê cấy rẽ, tôi vẫn có một vụ gần 2 tấn thóc. Ăn làm sao hết! Nhưng tôi cũng như gần 100 con cháu chút chít của nội tôi đã phiêu bồng tận đâu đâu. Gia sản ông cha đã bay thành bụi khói. Ngay về bổn quán một mình cũng chẳng biết ở đâu, huống hồ đem về cả một bầu đoàn thê tử.
 Nhiều nhà hiền triết đã nói rằng: “ Nông dân là biểu hiện nhân ái của nhân loại.” Triết học Mác Lê nin cũng khẳng định: “Giải phóng nông dân là giải phóng nhân loại”.
  Chừng nào còn làm cho người nông dân khốn khổ, bần cùng thì chừng ấy xã hội còn bất an. Đó là một đều đáng cảnh tỉnh!
           Tôi nghĩ như vậy.

                                Hà Nội ngày 31 tháng 7 năm 2009
                                                        Đ - H

Lô gô Hà Nội hình con Ếch



 LÔ GÔ HÀ NỘI GIỐNG HÌNH CON ẾCH
 Anh lô gô HN 1 Anh lô gô HN 2         
       Nhiều lần nhìn lô gô Hà Nội tôi thấy nó giống hình con ếch chắp hai chân trước lên như trong truyện cổ tích “Sự tích con ếch”. Truyện vắn tắt thế này: “Một nhà sự tu 9 đời rồi và đang bước qua đời thứ mười để trở thành chính quả. Nhằm thử thách lần cuổi cùng, Phật Bà biến thành một cô gái rất xinh đẹp cùng ngồi với sư thầy trong chiếc thuyền cô tịnh trên một khúc sông hoang vắng. Mặc cho cô gái quyến rủ đủ mọi kiểu, kể cả thoát y, sư thầy vẫn chấp tay niệm Phật. Nhưng đến gần sáng khi cô gái khoả thân múa bụng tới điểm đỉnh thì sư thầy không cầm lòng được, ôm chầm lấy cô gái thì bất ngờ bị một tiếng sét đinh tai, đêm lại càng đen sầm. Phật Bà ném sư thấy xuống sông và cho biến thành con ếch.
    Đến hôm nay khi làm thịt ếch, lúc chặt đầu, con ếch nào cũng đưa tay lên vái để nhớ lại 10 kiếp tu hành mà không thành chính quả của mình”.
     Trưa nay ngồi uống bia trước Cung Văn hoá Hữu nghị Việt – Xô bất chợt nhìn qua  cửa Cung có hai cái lô gô Hà Nội to đùng (Người ta treo nhân kỷ niệm ngày 10 tháng 10 giải phóng Thủ đô) thì thấy nó thật giống con ếch bà lúc bị người xử trảm.
   Tôi không phải hoạ sỹ nên cái nhìn của tôi có phải bị méo mó đi không? Vì cách Cung mấy bước là trường Đại học Mỹ thuật danh tiếng, lên vài trăm mét nữa là Đại học mỹ thuật Công nghiệp. Bao nhiều hoạ sỹ, giáo sư tài  giỏi không nhìn ra hình con ếch mà tôi nhìn lại thấy hình con ếch. Có lẽ tôi bị loạn thị chăng?
  Tôi hỏi hoạ sỹ Nguyễn Hùng, giảng viên trường Cao đẳng nghệ thuật Hà Nội:
   - Anh thấy lô gô có giống con ếch không?
Anh Hùng đáp:
   - Đúng, nó giống con ếch.
 Tôi tiếp: 
  - Sao người ta laị chọn nó làm biểu trưng cho Thủ đô
Hoạ sỹ Hùng buồn rầu:
  - Họ mua hết cả bác ạ!
  Nếu Lô gô Hà Nội giống con rồng thì hay hơn nhiều lô gô giống hình con ếch!
                                                                 
                            Ngày 10 – 10 – 2011
                                   Đỗ Hoàng

Chủ Nhật, 25 tháng 11, 2012

Người làm qua một Giáp bộ

                          

              NGƯỜI LÀM QUA MỘT GIÁP BỘ

Hoà Vang

               Đỗ Hoàng có khoảng mươi bài thơ rất hay. Gã đó từng cùng nhiều bạn bè ‘Đứng chật cả đường quan” nhưng chưa kịp  “chết oan” (ý thơ Đỗ Hoàng), mặc dầu cả hai nơi đều đó đánh hết đòn, hết chiêu, ngã vật ra cả rồi đang cố nằm mà thở… thế lại ra châu thổ sông Hồng, hình như có cả một cái gọi là văn minh sông Hồng ( sự giao thoa giữa Kinh Bắc và Thăng Long) đi lang thang mưu sinh kiếm sống ở một giáp bộ (một giáp là 12 theo số tử vi) .
  Gã đã đi và làm việc tận tuỵ ở những bộ đó, và còn làm thừa ra ở những cơ quan chính thống khác nữa như  Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn…
  Ấy vậy mà tôi cứ muốn về một Đỗ Hoàng như chỉ cốt về một quê thơ thôi, một thôn làng thơ thôi, có tên Đỗ Hoàng.
  Hoàng viết câu thơ đầu tiên:
    Tôi không muốn làm con người bé nhỏ
    Suốt một đời say với phấn hương
   Đó là khẩu khí của gó khi khoảng 13 – 14 tuổi.
  Gã có một người cha mà gó khụng thể chọn mà cực yêu, cực kính. Ông là lính viễn chinh bản địa được mẫu quốc Phú Lãng Sa huy động sang trời Âu đánh nhau với phát xít Nhật Nhĩ Nam những năm 1938 – 1946, năm hạn 1946 là năm tôi sinh ra (nhà văn Hoà Vang).
  Sau năm 1946 , ông hồi hương và gặp lại vợ mình ở quê cũ sống và làm việc tận tuỵ ở đâu đó kịp sinh ra Đỗ Hoàng.
   Gã học toán lý sư phạm, những thứ nghệ thuật khắc nghiệt không dễ dung thứ. Đương nhiên học thế thì phải dạy. Gã dạy nhiều nơi lắm. Dạy qua từ  lũ ấu trò, giám đốc cốt cán đến sỹ quan quân đội. Gã khẳng khỏi đi lính (bộ đội) và đó viết ra những vần thơ chiến trận mà nói như nhiều đồng nghiệp: “ Mọi thể chế tàn đi nhưng Chinh phụ ngâm Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm) và Tâm sự người lính  (tập thơ của Đỗ Hoàng) vẫn còn!”
  
                         VỄ ĐỀ
          Lính ở bờn kia mấy tiểu đoàn
          Vô nhiều đứng chật cả đường quan
         Ngày mai không biết nơi nào đánh?
         Nhất định có người phải chết oan!

       Đỗ Hoàng bắn súng CKC, AK, RPD, 12 ly 7 cao xạ…bắn súng, chỉ huy phân đội cực giỏi.
  Người đó đi qua một giáp bộ chính thống như thế, sao không có quyền đọc thơ. Vì vậy Đỗ Hoàng đọc cho mình nghe những câu thơ tâm huyết, tâm linh của Đỗ Hoàng.
  
     BÊN THÀNH LUY LÂU

Nghìn năm trận mạc về đâu
Chỉ còn lại một Luy Lâu phế thành.
Chỉ còn ngọn cỏ mong manh
Hàng tre cổ tự, cội cành leo nheo.
Chỏng chơ đá gạch, cánh bèo
Kiếm cung dấu ngựa tan theo bụi đường.
Trong chiều phảng phất mơ sương
Người không tên
               đất chẳng hương khói gỡ.
Bá vương mộng mị tàn đi
Thành xưa một chỗ để ghi nhớ rằng…
  
                Thế thì tôi đã tin một Đỗ Hoàng là một miến quê thơ mà tôi muốn tỡm về để chia sẻ và cảm phục!
                                           Hà Nội năm 2003
                                              H - V


Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2012

Tác phẩm hay do trời ban tặng

HƯƠNG MAI
TÁC PHẨM HAY LÀ  DO TRỜI BAN TẶNG
(Trò chuyện cùng nhà thơ Đỗ Hoàng)


                  Tôi gặp nhà thơ Đỗ Hoàng, trưởng ban biên tập thơ của Tạp chí Nhà Văn vào một ngày đầu đông, nắng vẫn vàng như rót mật. Nhìn con người nhỏ bé ấy tôi vẫn thấy toát lên sức sống  căng tràn của tuổi trẻ, mặc dù ông chẳng còn trẻ chút nào. Quán cà phê 84, Nguyễn Du sáng hôm ấy ít khách, nhân viên trong quán chắc đã  quen bởi lối nói chuyện dân dã và đầy nhiệt huyết của ông, nhưng với tôi, dù đã phần nào hiểu biết về con người này vẫn không khỏi lấy làm thú vị.
Nhà thơ Đỗ Hoàng sinh ra ở miền đất Quảng Bình đầy nắng và gió với muôn vàn nỗi khó khăn, vất vả mà mảnh đất  Miền Trung nào cũng phải gánh chịu. Một thời gian ông sống ở Huế, rồi tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc... Qua nhiều duyên nghiệp cuối cùng ông trở thành nhà thơ, sống và làm việc như một nhà báo tại Hà Nội. Cuộc đời con người thật  chẳng thể nói trước ...
Gọi Đỗ Hoàng là nhà thơ thì chưa hẳn đúng vì ông viết cả tiểu thuyết và phóng sự, kí sự. Từ bài thơ đầu tiên - “Ngày mùa” được in ở báo Văn nghệ Quảng Bình cho đến nay ông đã in được sáu tập thơ, bốn tiểu thuyết và một tập phóng sự...Không nhiều một cách đặc biệt chú ý nhưng cũng đáng nể. Ông không có ý định trở thành  một nhà thơ và hoạt động văn chương vì buổi đầu ông học Sư phạm Toán và đã từng là thầy giáo dạy toán. Nhưng như là mối lương duyên tiền định từ kiếp trước, niềm yêu văn chương của ông cứ le lói  sáng rồi bùng lên lúc nào không biết. Những câu thơ, câu văn của ông là hiện thực về cuộc sống nơi mảnh đất ông sinh ra, là những vùng đất ông đã đi qua trong chiến tranh, là những ngày khốn cùng của đất nước... Hãy cùng đọc một  vài vần thơ của ông như :
Anh đi trên trái đất cô đơn,
Gió bấc lạnh thổi tung làn ngực nở.
Xác em nằm
        - Một hành tinh vứt bỏ.
  Vó ngựa trường chinh lãnh đạm dẫm qua.
                      (“ Cái chết người đẹp” – Quảng Trị 1974)
Hình ảnh xác người phụ nữ im lìm nơi chiến trường đổ nát cứ ám ảnh vào tâm trí tôi. Sao không phải là một anh lính, là một người đàn ông với cảm giác quen thuộc mỗi khi nói đến chiến tranh mà lại là một “người  đẹp”. Không phải là không có những người phụ nữ nơi chiến trường nhưng hình ảnh này quả là đặc biệt, ít thấy, thậm chí chưa thấy trong văn chương. Đỗ Hoàng vừa tạo một ấn tượng về hình ảnh, lại tạo được cả ấn tượng về cảm xúc. Một thứ cảm xúc đau đớn, uất hận trong tâm hồn. Lẽ ra những hình  ảnh  đó  sẽ không  bao  giờ
được nói đến ...
Có lẽ tâm hồn nhạy cảm cộng với những trải nghiệm thực tế khiến thơ của ông nhiều niềm đau hơn là sự vui vẻ. Nó cứ nhẹ nhàng thấm sâu vào hồn của đất, của núi, của sông rồi tâm hồn của người đọc. Đối với Đỗ Hoàng văn chương chỉ là những tâm sự cần giãi bày từ tâm hồn nhạy cảm và nhiều băn khoăn, trăn trở của ông. Và nỗi buồn được ông định nghĩa là:
Tôi chết đi vì buồn
Tôi sống thêm nhờ buồn
Cũng vì buồn mà tôi yêu
Cũng vì yêu mà tôi buồn.
Tôi có thể mất đi
Nhưng buồn tồn tại
Trái tim còn mãi!
“Buồn” – Huế 1985
Ông chẳng cầu kì, diêm dúa trong văn chương, cũng chẳng dùng những mĩ từ như quan điểm nghệ thuật hay tuyên ngôn nghệ thuật... Thơ của Đỗ Hoàng dung dị và thật thà. Phải chăng vì vậy mà ông có ít nhiều sự phản ứng với văn chương đương đại. Theo ông văn chương hiện nay (một bộ phận lớn) đang rơi vào tình trạng “đa ngôn và tắc tỵ” tức là họ cố làm cho ra những sự “lạ” cả về cách thể hiện cũng như cái thể hiện nhằm tạo “thương hiệu” cho mình. Nhưng khổ nỗi đâu phải cứ “lạ” là “mới”. Đỗ Hoàng phản ứng quyết liệt với những loại văn chương dung tục thái quá. “Xưa nay không có thứ bệnh hoạn nào được đồng loại chấp nhận” - nói xong lại thấy ông trầm ngâm, ưu tư. Đối với ông “viết thánh thiện mà tạo được thương hiệu mới đáng quý”. Nhưng khi tôi hỏi “Vậy ông phủ nhận hết công lao của những sáng tác trẻ ư?” Thì ông không ngần ngại trả lời: “Không. Tôi ủng hộ. Không chỉ những người trẻ, lớp già chúng tôi cũng Đổi Mới. Văn chương phải đổi mới mới tồn tại được. Nhưng tôi thích sự đổi mới tự thân... chứ không phải cố gắng tạo ra sự “lạ” như một vài nhà thơ trẻ bây giờ. Tất nhiên không thể phủ nhận tên tuổi và sự  đóng góp của những nhà thơ như: Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Thị Vàng Anh, Phan Huyền Thư, Vi Thuỳ Linh...  và rất nhiều nhà thơ khác nữa...”
Miền Trung cũng là một trong những cái nôi của văn chương. Ngày xưa là Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận... rồi đến Thanh Thảo, Nguyễn Trọng Tạo, Lâm Thị Mỹ Dạ... gần hơn nữa là Đỗ Hoàng, Văn Cầm Hải, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Thanh Mừng, Trần Huyền Trang... và các nhà thơ trẻ hơn thuộc thế hệ 7X, 8X... Tất cả những cái tên đó đều ít nhiều để lại trong lòng người đọc niềm yêu thích. Phải chăng ngoài sự nỗ lực của bản thân mỗi con người chúng ta còn được thừa hưởng thêm phần “di truyền” từ vùng đất nơi sinh ra và lớn lên của mình. Chẳng thế mà Nhà thơ Đỗ Hoàng luôn tự hào về mảnh  đất Quảng Bình, mảnh đất anh hùng khói lửa, mảnh đất chôn rau cắt rốn, mảnh đất đã nuôi dưỡng tâm hồn ông.
Không hiểu sao Đỗ Hoàng hay gặp “tai nạn nghề nghiệp”, có lẽ vì thế nên nhiều người không biết thơ ông. Nhưng chẳng bao giờ ông chối bỏ những gì mình đã viết ra, bởi theo ông “tác phẩm hay là do trời ban tặng”, mà cái thiên phú đâu phải ai cũng có được. Có thể  bây giờ Đỗ Hoàng chưa được đông đảo người đọc biết đến nhưng ông tin và tôi tin một ngày không xa các tác phẩm của ông sẽ tự thân toả sáng. Như những vần thơ dung dị của ông ...
Và cũng bất ngờ,
Nhặt từ bùn câu thơ
- Thời gian không hoá thạch!
                                               “Nhặt từ bùn” – Huế 1982
                                                                                 H . M

Ném câu thơ thơ vào gió - Tâm cảm gửi cho đời

                      NÉM CÂU THƠ VÀO GIÓ – TÂM CẢM GỬI CHO ĐỜI
                                                 
                               Đỗ Hoàng

        Nhà thơ Bằng Việt vừa cho ra đời tập thơ mới với tên gọi Ném câu thơ vào gió do Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây ấn hành tháng 7 năm 2001. Đa phần những bài trong tập thơ mới viết ở thập kỷ 90, thời kỳ đất nước đổi mới, có một số bài viết từ những năm 70  chưa có điều kiện in, nay tác giả mới đưa vào tập.
  Vẫn là chất thơ Bằng Việt, sâu lắng, sang trọng, trữ tình:
Em nhỏ và trong như nước mắt
Chia tay làm mặn mãi môi cười
Vị mặn hễ quên rồi lại nhớ
Nghìn trùng quay lại vẫn em thôi.
( Nghìn trùng quay lại)
  Nhưng thực tế cuộc sống hôm nay đầy biến động, cái cũ mất đi, cái mới phát sinh, phẩm chất tốt, nết xâu, sự sang hèn đều được thể hiện. Bi kịch đan xen lẩn hài kịch:
Bi kịch cao hơn
Hài kịch cũng cao hơn
Người đóng  kịch không còn khoe giọng cổ
Người ca hát đâu còn rung giọng mãi
Cười khóc hôm nay đều thực đến đời thường.
(Thời đã khác rồi)
   Nhà thơ trăn trở, suy nghĩ đặt vấn đề lương tâm trách nhiệm văn nghệ sỹ trước thời cuộc, cuộc đời ngày một đẹp lên, người nghệ sỹ không thể dửng dưng cao ngạo trong tháp ngà văm chương, ngoại trú với cuộc đời:
Cao ngạo đẻ làm chi?
U uẩn đẻ làm chi?
Mỗi khám phá phá nhỏ nhoi ngỡ đâu tầmvũ trụ.
Bao gay cấn xé lòng mà thơ như là ngoại trú
Thơ có còn tri kỷ nữa hay chăng?
(Lại nghĩ về thơ)
Vì vậy, một sự việc nhỏ, có người sẽ bỏ qua hoặc không lưu ý, nhưng với Bằng Việt nó đã lưu lại trong tâm khảm của anh làm anh xa xót, day dứt thấy mình như là người có lỗi:
Tất cả mọi người háo hức nhìn lên
Đôi mắt em óng ánh như màu nhũ giả
Đôi mắt cười thăm thẳm quá
Giọng hát tuổi 20 mà giằng giật xé lòng

Tất cả quây quanh chúc mừng em
Em chỉ cắn môi, mệt mỏi. dịu dàng
Đã chắc gì em được vào biên chế?
(Giọng hát hay - 87)
Nhà thơ làm quản lý, giữ nhiều trọng trách, giải quyết nhiều sự vụ, thế mà trược một sự thật xảy ra trong đời sống thường nhật thời kinh tế thị trường, anh như bất lực, chỉ chia sẻ cảm thông, ngậm ngùi.
 Bài thơ là một tiếng nói đồng cảm, chân tình gửi đến cho mọi người cùng suy ngẫm.

  Đất nước ta vừa ra khỏi cuộc chiến chưa lâu, còn bao nghèo khó, còn bao va vấp, thậm chí sai lầm hoang phí. Chúng ta không chỉ mãi tự khứ dù là quá khứ hào hùng mà phải bằng sự nỗ lực trí tuệ và con tim xây dựng cuộc sống mới đem lại hạnh phúc cho mọi người, nếu không tất cả chỉ là chứng tích của một thời đã qua:
Cả thành phố vẹo xiêu cần đầu tư bạc tỷ
Quá khứ đẹp vô cùng
Treo giá cũng vô song
Nhưng có giá cho ai nếu thiếu đời sống thực
Nếu chỉ còn những chứng tích rỗng không.
( Chứng tích đã qua)
  Trước những sự thật phủ phàng ấy có người không bình tĩnh nói những điều đao to, búa lớn, ác khẩu, nhưng Bằng Việt xót xa se lòng mà thật thương cảm sâu sắc:
Lòng yêu đời
Như nguồn nước trong khu tập thể
Tháng năm phạm phí chảy hoài

Lẽ ra cuộc đời này phải có lý hơn
Ai cũng đã từng nghĩ thế
(Lẽ ra)
 Hay:
Áo cơm se thắt mái đầu
Thương nháu mà giận, ngó nhau mà buồn
Rạc rài chút phận văn chương
Cao sang nhòe lẫn tầm thường ngẩn ngơ.
(Đọc lại Nguyễn Du)
 Hướng đến cài đẹp, hướng đến cải thiện là phẩm chất của người nghệ sỹ chân chính:”Từ xưa đến nay không có tác phẩm tài tình xây dựng trên sự khinh miệt và hận thù. Vì vậy rốt cuộc người nghệ sỹ chân chính sau khi đi trọn con đường tìm kiếm sẽ tha thứ thương yêu   thay vì lên án ( Sứ mệnh văn nghệ - Ca mus)
 Trong Ném câu thơ vào gió, Bằng Việt không chỉ viết về nỗi đau, sự mất mát, sức vươn daayjcaur dân tộc mình mà anh còn viết về nhân loại trên hành tinh; đồng cảm nỗi đau, nỗi buồn, niềm vui của họ và thức dậy những ngọn đuốc lương tri:
Trái đất nghĩ cho cùng
Cũng đáng thương và tội nghiệp thế thôi
Để tạo dựng được niềm tin thật khó
Mối ánh chớp lương tri lóe lên, dù rất nhỏ
Phải biết nuôi thành ngọn đuốc soi đường.
(Hai phía của tuổi trẻ thập kỷ 70)
Phần thơ hay nữa trong Ném câu thơ vào gió là phần viết về kỷ niệm,tình yêu với những bài: Phố cũ hàng cây,Trung du, Sen Tây Hồ, Nghìn trùng quay lại, Lặng lẽ, Casablanca, Rồi sẽ tới, Em và tôi…
  Đặc biệt là bài Lục bát cầu may đạt được sự toàn bích từ tứ, câu, chữ, ý tình:
Biết đâu sau lớp tro vùi
Ngón tay em có phép cời lửa lên
Vô tình thoat tục thành tiên
Một đời Từ Thức, một duyên Dáng Kiều
Viễn du thay kiếp bọt bèo
Chân mây, đầu sóng cũng liều
Biết đâu…
Và:
Nếu em khoát mở sda mù
Thì tôi vĩnh viễn hóa bờ bến xa
Câu may tới cõi giao hòa
Cầu nay có được ngôi nhà biết yêu.

  Bên cạnh sự  lạm phát thơ hỗn loạn hiện nay thì Ném câu thơ vào gió một lần nữa cho thấy sự thành công của khuynh hướng của cha ông nghìn đời đã khẳng định là thơ phải lấy cái tam làm gốc, phải xuất phất từ chính lòng mình, là công phu thâm xứ thi bình dị (Thơ hay nhất vẫn là thơ chân thật – Lục Du). Và như tuyên ngôn của Bằng Việt:
Chuyện trái cẩm từ thời Addam – Eva
Nghĩ cho cùng…
Dẫu bàn luận tha hồ, đâu làm ai chóng mặt
Điều đáng quan tâm duy nhất
Là nói được gì cao hơn
Về thân phận con người
(Đọc thơ Vi Thùy Linh)
Hà Nội, ngày 16 – 8 – 2001
Đ – H
(*) Rút trong tập Tiểu luận & Phê bình Tâm cảm gửi cho đời –  Đỗ Hoàng - NXB Thanh niên năm 2011






  

Chia sẻ với nhà thơ Đỗ Hoàng về bài "Nhổ lúa trồng đay"

Chia xẻ với nhà thơ Đỗ Hoàng về bài “ Nhổ lúa trồng đay ”



             
                    Nhà thơ Trương Vĩnh Tuấn

Chia xẻ với nhà thơ Đỗ Hoàng về bài “ Nhổ lúa trồng đay ”

         Đỗ Hoàng thân mến !

    Đọc bài “ Hội Nhà văn nhổ lúa trồng đay ” của Đỗ Hoàng vừa tải trên các mạng, mình thực sự xúc động . Là bạn học cùng khóa 3 viết văn, lại đồng nghiệp đã từng cưu mang và san sẻ với  nhau lúc gian truân nhất , mình viết mấy dòng cùng chia sẻ với Đỗ Hoàng .
     Mấy lần gặp nhau cứ thấy Hoàng cười cười , nói với nhau toàn chuyện văn chương, đọc cho  nghe những bài thơ Hoàng mới dịch , chả bao giờ thấy Hoàng kêu khổ, cứ ngỡ mọi việc thế là ổn. Mà mình cũng tệ chả bao giờ hỏi thăm về cuộc sống của Hoàng .
      Thế mà không ngờ sự việc lại thế này ư !
      Việc giải tán tờ Tạp chí Nhà văn hay là gì gì đi nữa mình không quan tâm lắm, vì từ lâu rồi, mình cứ nghĩ mọi việc làm của họ đâu phải vì hội viên chúng mình họ chỉ vì quyền lợi của họ thôi ( nhất là trong công tác tổ chức ),  đang có căn bệnh quyền lợi nhóm mà .
       Nhưng :    Hội Nhà văn nhổ lúa trồng đay .
                       Anh em cán bộ trắng tay đứng đường .

        Thì làm sao có thể im lặng được .
      Làm sao mà chỉ còn ít ngày nữa Hoàng đủ chế độ nghỉ hưu , một nhà thơ xứ Huế đã cống hiến hết mình cho văn học , có rất nhiều đóng góp với tờ tạp chí mà đến nay lươngvẫn ở dưới mức khởi điểm của một sinh viên mới ra trường . Hội viên của một hội danh giá kể ra cũng “ ranh rá ” thật .
       Mmình cũng cho rằng giải tán Tạp chí nhà văn là việc làm không thỏa đáng. Hội nào cũng cần có một tờ tạp chí, vì đó là một nơi mang tính đúc kết , định hướng , và khẳng định những chuẩn mực quí báu của một tổ chức nhất là  tổ chức nghề nghiệp như Hội ta . Nhưng tờ báo của Hội cũng rất cần vì nó mang hơi thở của cuộc sống, nó phản ánh thực tại. Không thể coi tạp chí hơn hay báo hơn! Nhưng nếu trước mắt cần phải ưu tiên thì tờ tạp chí phải trên hết . Không thể bắt tạp chí sống theo cơ chế thị trường được, nó phải được thanh thản và chuyên tâm làm nội dung . Bắt nó bơi với cơ chế thị trường thì coi như bỏ rơi rồi . Đọc bài của Hoàng mình không ngờ Ban chấp hành lại đối xử với Tờ tạp chí như vây, mình cũng vừa gọi điện cho Chủ tịch Hội biểu thị sự đồng tình của mình về bài viết của Hoàng .
    Hoàng có nhắc tới tờ Văn Nghệ, nguyên là Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ mình cung cấp thêm cho Hoàng về vấn đề này .
    Khi nhà thơ Hữu Thỉnh (Chủ tich Hội bây giờ) về làm Tổng biên tập báo thì đó là một căn nhà đã có trên một trăm năm tuổi, hố xí hai ngăn mưa xuống sình lầy và hôi hám .
     Bằng uy tín cá nhân, nhà thơ Hữu Thỉnh đã huy động được sự tài trợ của xã hội (không xin vốn nhà nước đâu) và dựng lên một dãy nhà ba tầng đủ cho gần một trăm phóng viên biên tập viên làm việc, và kể từ khi nhà thơ Hữu Thỉnh về làm Tổng biên tập thì đời sống anh em được cải thiện rõ rệt, anh em yên tâm đoàn kết làm báo, và không bao giờ phải xin Nhà nước hỗ trợ cho kinh phí làm báo. Cũng vậy, việc cho ra phụ trương Văn Nghệ trẻ là do nhu cầu phát triển của lực lượng viết trẻ, không có ý đồ lấy phụ nuôi chính, vả lại tờ Văn Nghệ lúc này cũng sống sung túc, và tờ Văn Nghệ trẻ cũng phát huy được thế mạnh, hai tờ hỗ trợ nhau và không tờ nào phải nuôi tờ nào. Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người đầu tiên tổ chức tờ báo này đã đưa số lượng lên gần hai vạn bản .
    Còn sau này khi ông Nguyễn Trí Huân về làm Tổng thì lại khác .
    Do không biết cách tổ chức mà cả hai tờ báo đều sa sút nghiêm trọng, mối đoàn kết trong cơ quan bị rạn nứt, sự nghi kị lẫn nhau phá tan mọi nền nếp, lối sống mà nhà thơ Hữu Thỉnh tạo dựng .
     Việc tự ý dùng tòa soạn báo để cho thuê kiếm tiền theo mình không phải lỗi của Chủ tịch, vì chính ông đã kí vào văn bản xin nhà nước đầu tư xây dựng TÒA SOẠN BÁO VĂN NGHỆ với mục đích phát triển toàn diện tờ Văn Nghệ với các tổ hợp và điều kiện hiện đại đáp ứng nhu cầu phát triển mới, như vậy có nghĩa là Nhà nước không đầu tư xây dựng trụ sở báo Văn Nghệ. Ông Nguyễn Trí Huân đã gian dối không thực hiện dự án này, ông không phát triển thêm được một chút nào mà còn xóa sổ tờ Văn Nghệ dân tộc đã được chính ông Chủ tịch xin với Chính phủ đầu tư trong dự án .
    Việc biến Tòa soạn báo thành trụ sở để cho thuê một nửa số diện tích lấy tiền xử dụng vào mục đích khác (chưa nói đến việc tự ý cơi nới trái phép để thành quán café ban đêm)  không nằm trong sự quản lý của Nhà nước là việc làm lừa dối của ông Huân, đổ lỗi cho Ban chấp hành thì oan quá .
    Cũng vậy, việc mấy năm gần đây Nhà nước hỗ trợ một tỷ bảy trăm triệu bù trả nhuận bút cho tờ Văn Nghệ cũng là do ông Huân lừa dối Nhà nước, trong lúc có một tỷ tám trăm triệu tiền cho thuê tòa soạn mà vẫn kêu lỗ để xin tiền Nhà nước.
                                               
                                                       Bao C
ông (Bao Trực)
Số tiền này sau khi về tới báo xử dụng như thế nào thì chỉ khi nào có đoàn thanh tra BAO CÔNG  mới tìm ra sự thật . Có lẽ Tổng biên tập Tạp chí  Nhà văn không biết nói dối nên cơ sự mới đến nỗi này phải không Hoàng .
    Thôi ráng chịu hi vọng vẫn còn phía trước .
     Chúc sức khỏe .

                                            Nhà văn Trương Vĩnh Tuấn
                                        Nguyên Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ

Thứ Ba, 20 tháng 11, 2012

Mừng Nguyễn Hữu Đang sống dai



                                MỪNG NGUYỄN HƯU ĐANG  SỐNG DAI

     Quảng năm 1993, 1994 gì đó, anh Phùng Quán bảo tôi học xong thì lên anh mừng Nguyễn Hữu Đang sống dai. Tôi nghe tin tất thích. Vì ra Hà nội lâu rồi, gặp gần hết các bậc Nhân văn – Giai phẩm mà “chủ soái” Nguyễn Hữu Đang chưa gặp, nên tôi hào hứng lắm!
  Lều chõng ra thi Hà nội từ năm 1985 cho đến thập kỷ 90 thế kỷ trước, tôi hay lên nhà anh Phìng Quán chơi. Phùng Quán rách nát quá tổ đỉa đang ở nhờ cái chái một phòng học mà cũng của vợ nhưng lúc nào cũng có rượu. Cánh học viên Nguyễn Du thì rất thèm rượu nhưng không có tiền mua rượu, dù rượu chỉ 100 đồng một chén con (thời giá thập kỷ 80 thế kỷ trước) nên tôi hay lên Phùng Quán chơi để được uống rượu. Lên Phùng Quán còn gặp những hảo hán anh hùng “Lương Sơn Bạc” Nhân văn – Giai phẩm như như vừa kể trên.
  Nghe Phùng Quán nhắn tin, mừng quá bỏ học đi chơi luôn.
   Tôi lên thì thấy mọi người đến đông lắm.
  Lúc này Phùng Quán dựng được cái nhà gỗ hai tầng. Tầng trên, sân dưới đầy người. Tôi chăm hăm để muồn kiến diện được Nguyễn Hữu Đang “người hùng” Nhân văn – Giai phẩm.
  Trong trí tưởng tượng của tôi, Nguyễn Hữu Đang phải là một người nho nhã, lịch lãm, ít nhất thì như anh chàng ôm đàn accoóc đêong trong bức ảnh nổi tiếng mừng độc lập năm 1945 ở quảng trường Ba Đình.
  Tôi nhìn hết người vận com lê mày đến người vận com le khác. Hỏi ai cũng không phải Nguyễn Hữu Đang.
 Tôi nhảy lên gác hai tìm. Loanh quanh mãi cũng chẳng thấy ai là Nguyễn Hữu Đang như trí tưởng tượng của tôi.
  Chỉ lấy một ông lão duiy nhất mặc cái áo sơ mi chàm, quần gụ đang ngồi hi hoáy viết cái gì đó ở bàn viết Phùng Quán.
-         Anh Nguyễn Hữu Đang mô rồi? – Tôi hỏi bằng tiếng quê với Phùng Quán
-          Trên lầu – Phùng Quán vuốt râu cười tủm tỉm.
  Tôi lại lên lầu, tìm mãi chẳng thấy Nguyễn Hữu Đang, ngoài ông mặc áo chàm.
  Đang tìm kiếm thì có tiếng người gọi xuống để buổi “lễ” bắt đầu. Tôi lao nhanh xuống lầu cố tìm nhìn cho được Nguyễn Hữu Đang.
   Đang lơ láo đảo mắt tìm thì Phùng Quán lên tiếng:
-         Hôm nay chúng tôi tổ chức lễ mọn mừng sư huynh Nguyễn Hữu Đang sống dai, kính mời sư huynh cho vài nhời!
   Ông lão áo chàm xuống sau tôi đến trước bàn đằng hắng lên tiếng. Ông nói ngắn gọn, giọng sang sảng như giọng chuông vàng. Tôi không nhớ hết lời ông nói vì quá bất ngờ. Người tôi tìm Nguyễn Hữu Đang trí thức mho nho nhã lịch thiệp biến đi đâu. Trước mặt tôi là một ông nhà quê trăm phần trăm không có gì khác được. Tôi không tin người đang nói là Nguyễn Hữu Đang. Người mà Bác Hồ giao trọng trạch tổ chức lễ Độc lập đầu tiên của Đất nước. Người Bộ trưởng Tuyên truyền cũng đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà!
  Nguyễn Hữu Đang lúc đó đã 80 tuổi, tóc trên đầu lốm đốm bạc. Tóc ông thuộc loại tóc rễ tre, bạc nhưng vẫn cứng quoè. Vài sợi đen chĩa ra ngang ngạnh. Tôi nhớ nhất câu nói của ông bằng tiếng Pháp :“Con người ta sinh ra đi hết từ sai lầm này đến sau lầm khác. Người tốt là người biết sửa chữa sai lầm của mình”. Mọi người vỗ tay nhiệt liệt.  Nhà văn có tí phẩm hàm duy nhất là Tô Hoài vừa kịp đến cũng vỗ tay như mọi người.
  Lúc đầu hoài nghi về hình mạo ông nông dân Nguyễn Hữu Đang. Khi nghe mấy câu tiếng Pháp của ông thì tôi vô cùng kính phục. Hèn chi Phùng Quán, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm... kính ông như vậy!
  Anh Phùng Quán thường kể với tôi: - “Nguyễn Hữu Đang bị cầm cố và quản thúc là 34 năm. Người không biết Đất nước có cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Lúc bị quản thúc ở bổn quán Thái Bình trên cho ở nhờ cái chái giáo viên của một trường cấp hai như chái nhà Phùng Quán ở nhờ trường cấp 3 Chu Văn An. Nguyễn Hữu Đang phải ra ruộng mò cua bắt ốc, bắt nhái để độ nhật qua ngày. Muốn có cua, nhái, ếch ông phải đổi bao thuốc lá. Thái Bình làm gì có bao thuốc lá để đổi. Những lúc ấy Nguyễn Hữu Đang lên nhà anh Quán xin bao thuốc lá. Lúc đầu anh Quán eo xèo, nhưng sau biết sư huynh đổi để kiếm gạo, Phùng Quán đi tìm bao thuốc lá khắp Hà Nội để cho anh Đang dem về Thái bình đỏi gạo độ nhật qua ngày!.
  Mừng lễ sống dai của Nguyễn Hữu Đang  các đệ tử còn làm một việc nghĩa nữa là tìm cho Đại huynh một ý trung nhân.
  Một cô lúc ấy độ 50 tuổi, người còn sức sống và duyên dáng. Cô ấy đến lo cả buổi lễ.
 Đệ tử mong muốn cho Sư huynh Nguyễn Hữu Đang đừng quá cô đơn.
  Buổi mừng thọ Nguyễn Hữu Đang sống dai thể hiện tấm lòng đệ tử hết sức đáng trân trọng!

Đỗ Hoàng