Thứ Ba, 20 tháng 11, 2012

Kiều Thơ có sáng tạo mới



                          KIỀU THƠ CÓ NHỮNG SÁNG TẠO MỚI

                       Nhà thơ Nguyễn Bao phỏng vấn Nhà thơ Đỗ Hoàng

   Nhà thơ Đỗ Hoàng phóng tác Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ra thể thơ lục bát gồm 6122 câu đặt tên là Kiều Thơ. Kiều thơ được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành quý 2 năm 2010. Kiều Thơ ra đời, có nhiều bài viết khen ngợi được in trên các sách báo Trung ương và địa phương cả báo viết lẫn báo mạng và blogs. Đó cũng là một điều đáng mừng. Để hiểu thêm Kiều Thơ và tác giả Đỗ Hoàng xin phản ánh cuộc trao đổi giữa nhà thơ, tác giả Đỗ Hoàng và nhà thơ Nguyễn Bao.
     Nhà thơ Nguyễn Bao (NB): - Vì Đoạn trường tân thanh (thường gọi Truyện Kiều) của Đại thi hào Nguyễn Du đã là một thi phẩm bất hủ, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam gần ba trăm năm qua, thì động cơ nào nhà thơ lại phóng tác Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân?

    Nhà thơ Đỗ Hoàng (ĐH): -  Vấn đề thứ nhất là trong nguyên bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân có gần 1 000 câu thơ vịnh, xướng hoạ giữa các nhân vật : Kiều, Thúc Sinh, Sở Khanh, Giác Duyên... đại thi hào Nguyễn Du có nhắc đến nhưng Cụ không dịch hoặc phóng tác. Khi phóng ta Kim Vân Kiều truyện, tôi dịch tất cả thơ vịnh và xướng hoạ đó, cốt để đọc giả hiểu thêm tâm tư, tài năng của các trang phong lưu, tài tử.
     Vấn đề thứ hai là trong nguyên bản cảnh báo oán xảy ra rất rùng rợn, mà Kiều lại đứng ra thực thi các hình phạt hà khắc thời trung cổ. Quan niệm ân oán sòng phẳng của ngày xưa được các thể chế và trong hành xử của con người, người ta thực thi nó như là một lẽ đương nhiên. Nhưng trong cuộc sống hiện tại, trong xã hội loài người văn minh thì sự hành xử lấy oán báo oán là không thích hợp nữa. Còn đối với tam giáo nhất là Đạo Phật thì từ nghìn xưa, Phật đã khuyên răn không nên lấy oán báo oán mà nên lấy ân báo oán. “Lấy oán báo oán, oán oán chất chồng; lấy ân bấo oán, oán sẽ tiêu tan”. Nên tôi đã không phóng tác đoạn báo oán mà cho Kiều tha hết các tội phạm vô tình hay cố ý hãm hại Kiều.
  Xét theo luật pháp hiện đại của Việt Nam thì các tội của những kẻ hãm hại Kiều chưa đến tội chết mà chỉ là tội danh theo khung phạt hình sự.
 Phiên toà trong Kiều Thơ là một phiên toà do tôi sáng tạo ra. Phiên toà dân chủ chỉ có trong một xã hội dân chủ thời văn minh hiện đại. Các bị cáo Hoạn Thư, Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh... đều được tự mình bào chữa cho mình.
  Trong Kiều Thơ tôi sáng tạo thêm đoạn Từ Hải đối đáp với Hồ Tôn Hiến. đoạn này trong nguyên bản không có. Muốn có đoạn này tôi cho Từ Hải bị bắt sống. Hai anh hùng cũng đối diện luận bàn cái thế anh hùng để thể hiện bản chất của nhân vật.
NB: Trong Kiều Thơ, tác giả có thể kể ra 5 đoạn tâm đắc nhất?
ĐH: 1- Mộng giác Đạm Tiên
        2- Kiều vào nơi gió bụi
        3- Kiều ở thanh lâu
        4- Địa ngục nhà Hoạn Thư
        5- Kiều báo ân.

NB: - 10 câu thơ hay nhất?
ĐH:  1- Lập công nấp váy kẻ hèn
Cổ kim sử sách ai khen bao giờ!

         2 - Cỏi trần mờ mịt mong manh
Con người, con ngợm cố giành giật nhau.

         3- Đã liều sống đoạ, thác đày
Cho xơ xác nắng, cho gày hồn mưa.

         4- Thương thay bao kiếp má đào,
Yên hoa là chốn lạc vào khó ra!

         5- Lẻ loi cánh phượng trời xa
Phải chăng tạo hoá chưa ra an bài!

         6- Ngẫm ra ân oán tại người,
Hiền tâm, ác bá cũng nới lòng mình.

         7- Xưa nay dưới chốn trần gian,
Núi xương, sông máu non ngàn trắng phơi.

         8- Mệnh tài đáy đoạ kiếp người,
Tơ duyên nghiệp chướng, nợ đời phải mang.

         9-  Cũng vì kiếm bữa cơm xoàng,
Gây nên bao nỗi án oan cho người !

         10-  Cũng may trời đất dành cho,
Chút tàn hậu vận ấm no, ngọt lành.
 
 Nhà thơ Nguyễn Bao:  Xin cám ơn Nhà thơ Đỗ Hoàng!


Lô gô Hà Nội giống hình con ếch chặt đầu



 LÔ GÔ HÀ NỘI GIỐNG HÌNH CON ẾCH
 Anh lô gô HN 1 Anh lô gô HN 2         
       Nhiều lần nhìn lô gô Hà Nội tôi thấy nó giống hình con ếch chắp hai chân trước lên như trong truyện cổ tích “Sự tích con ếch”. Truyện vắn tắt thế này: “Một nhà sự tu 9 đời rồi và đang bước qua đời thứ mười để trở thành chính quả. Nhằm thử thách lần cuổi cùng, Phật Bà biến thành một cô gái rất xinh đẹp cùng ngồi với sư thầy trong chiếc thuyền cô tịnh trên một khúc sông hoang vắng. Mặc cho cô gái quyến rủ đủ mọi kiểu, kể cả thoát y, sư thầy vẫn chấp tay niệm Phật. Nhưng đến gần sáng khi cô gái khoả thân múa bụng tới điểm đỉnh thì sư thầy không cầm lòng được, ôm chầm lấy cô gái thì bất ngờ bị một tiếng sét đinh tai, đêm lại càng đen sầm. Phật Bà ném sư thấy xuống sông và cho biến thành con ếch.
    Đến hôm nay khi làm thịt ếch, lúc chặt đầu, con ếch nào cũng đưa tay lên vái để nhớ lại 10 kiếp tu hành mà không thành chính quả của mình”.
     Trưa nay ngồi uống bia trước Cung Văn hoá Hữu nghị Việt – Xô bất chợt nhìn qua  cửa Cung có hai cái lô gô Hà Nội to đùng (Người ta treo nhân kỷ niệm ngày 10 tháng 10 giải phóng Thủ đô) thì thấy nó thật giống con ếch bà lúc bị người xử trảm.
   Tôi không phải hoạ sỹ nên cái nhìn của tôi có phải bị méo mó đi không? Vì cách Cung mấy bước là trường Đại học Mỹ thuật danh tiếng, lên vài trăm mét nữa là Đại học mỹ thuật Công nghiệp. Bao nhiều hoạ sỹ, giáo sư tài  giỏi không nhìn ra hình con ếch mà tôi nhìn lại thấy hình con ếch. Có lẽ tôi bị loạn thị chăng?
  Tôi hỏi hoạ sỹ Nguyễn Hùng, giảng viên trường Cao đẳng nghệ thuật Hà Nội:
   - Anh thấy lô gô có giống con ếch không?
Anh Hùng đáp:
   - Đúng, nó giống con ếch.
 Tôi tiếp: 
  - Sao người ta laị chọn nó làm biểu trưng cho Thủ đô
Hoạ sỹ Hùng buồn rầu:
  - Họ mua hết cả bác ạ!
  Nếu Lô gô Hà Nội giống con rồng thì hay hơn nhiều lô gô giống hình con ếch!
                                                                 
                            Ngày 10 – 10 – 2011
                                   Đỗ Hoàng

Hội Nhà văn Việt Nam nhổ lúa trồng đay



HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM “NHỔ LÚA TRỒNG ĐAY”

Nhà thơ Đỗ Hoàng

  Tạp chí Nhà văn tiền thân của nó là Tác phẩm mới xuất bản đầu quí II năm 1969 với 2 tháng 1 kỳ do nhà văn Nguyễn Đình Thi phụ trách. Nếu nhìn xa nữa thì tiền thân của nó là tờ Văn nghệ xuất bản trong kháng chiến chống Pháp.
    Hồi ấy, Tác phẩm mới chưa có trang trách nhiệm như bây giờ nên không biết có còn ai làm nữa. Nhưng tập trung ở đây là các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tế Hanh....làm rạng rỡ cho Tạp chí.  Ai được đăng ở Tác phẩm mới là ước mơ. Nhiều nhà thơ, nhà văn được đăng ở đây sau này trở thành những người nổi tiếng như:  Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Vũ Quần Phương, Ý Nhi, Xuân Quỳnh, Thanh Thảo, Lâm Thị Mỹ Dạ…Do biến thiên của lịch sử văn chương nước nhà, đáng ra nó phải là kế thừa tờ Văn nghệ Việt Nam xuất bản từ năm 1948 do Tố Hữu phụ trách mới đúng là tờ tạp chí của một Hội văn chương chuyên ngành.
  Nhưng dù chỉ kể từ năm 1969 nó cũng đã 43 năm thâm niên xứng đáng nhận Huân chương Lao động hạng nhất. Một Hội chính trị nghề nghiệp hay một Bộ chuyên ngành dù không có báo tuần, nhưng tờ tạp chí chuyên môn bắt buộc phải có. Tôi làm trên một giáp bộ (trên 12 Bộ chính thống) nên tôi hiểu rõ điều này. Sau thập kỷ 90 mới có nhiều bB mở ra tờ báo tuần, còn trước đó hầu như chỉ tờ tạp chí. Lãnh đạo các bộ đều cho rằng: Tờ tạp chí phải có, báo tuần có cũng được và không cũng được. Đó là một sự thật khoa học. Có bộ như Bộ Thuỷ sản (trước khi nhập vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) không có báo tuần. Bộ Lao động – Thương binh Xã hội mãi đến năm 1993 mới có tuần báo Lao đông –Xã hội, bộ Công nghiệp năm 1998 mới có báo Công nghiệp, Tổng cục Du lich - cơ quan ngang bộ năm 1999 cũng mới có Tuần Du lịch, Tổng cục Hải năm 1993  có báo Hải Quan, Bộ Xây dựng năm 2003 mới có báo tuần Xây dựng….
  Trong kháng chiến chống Pháp chỉ có tờ tạp chí Văn nghệ, không có báo tuần!
  Hội Nhà văn Việt Nam trước chỉ ngang cấp Vụ. Một vài thập kỷ lại đây thì cấp trên đã nâng cấp Hội Nhà văn Việt Nam lên cấp Tổng cục hoặc tương đương với câp Bộ. 
    Một điều hiển nhiên là tờ Tạp chí Nhà văn, tờ lý luận, sáng tác, phê bình, dịch thuật phải có. tờ báo  Tờ tạp chí mang tính chất khoa học cao hơn. Chúng ta làm luận án phó tiến sỹ trước đây, nay là tiến sỹ về văn chương phải có công trình in trên tạp chí Nhà văn mới được tính điểm, còn in trên báo Văn nghệ vạn bài cũng không được điểm nào. Các công trình chuyên ngành của  các bộ, ngành khác cũng vậy.
  Tờ tạp chí Nhà văn - tờ lý luận, sáng tác, phê bình, dịch thuật có đẳng cấp như vậy vì sao khi các nhà văn tên tuổi lãnh đạo ra đi để nó hôm nay tàn tạ như vậy.
   Hãy nhìn vào thực trạng
 - Số lượng in chỉ 2500 đến 3 000 bản, không phát hành được.
 - Hội Nhà văn mua bao cấp bằng tiền ngân sách chỉ 1 000 cuốn với giá hiện nay 35 000 đồng /cuốn. Tổng tiền 35 triệu.
 - Tiền in 15 000đồng/cuốn x 3 000 cuốn =  45 000 000 đồng.
  Tạp chí Nhà văn phải chạy vạy 10 triệu đồng nữa mới đủ tiền nộp nhà in!
  Chỉ được bao cấp mua 1 000 cuốn tạp chí, và cho 3 phòng làm việc không phải thuê nhà, ngoài ra không còn gì nữa. Tất tần tật từ lương cán bộ, tiền điện, tiền vi tính, tiền nối mạng, tiền ăn trưa, tiền đống góp từ thiện Tạp chí phải lo. Cán bộ chính thức, hợp đồng đều chỉ hưởng lương chính, có một ít phụ cấp không đáng kể.
 Kiếm đâu ra tiền để nuôi 10 con người trong cơ quan? Dù nuôi bằng đồng lương dưới chết đói, nuôi vịt cầm xác!
  Các nhiệm kỳ ổng biên tập Tạp chí Nhà văn nuôi được anh em trong hai thập kỷ như vậy cũng xứng đáng được phong thánh!
  Tôi làm đây gần 10 năm từ năm 2003, 2 năm đầu làm không lương, chạy được quảng cáo thì ăn, chạy không được thì đói. Đến thời nhà thơ Nguyễn Trác làm Tổng biên tập đầu năm 2005 thì cũng mất nửa năm tôi mới có lương 400 000 đồng/ tháng vào cuối năm 2005. Mãi đến khi nhà thơ Nguyễn Trác về hưu vào tháng 3 năm 2011, tôi mới được tăng lên 800 000đồng /tháng.
     Khi nhà văn Võ Thị Xuân Hà về làm Tổng biên tập tháng 4 năm 2011 tôi được hưởng lương 1 004 000 đồng/ tháng (một triệu bốn ngàn đồng). Và rồi  giữa năm 2012 được hưởng lương 1 300 000 đồng/ tháng.(một triệu ba trăm ngàn đồng)
 Kak Mak đã nói: “ Ông chủ trả lương cho người lao động không đủ sống là vô nhân đạo , là tội ác.” (Tư bản luận).
  Cơ quan nghèo như vậy làm sao trách được cấp trên.
  Ở nước ta không ai sống được bằng lương kể cả Chủ tịch nước. Tất cả đều sống bằng lậu. Cán bộ cấp cao sống bằng bỗng lộc và lậu. Cán bộ cấp thấp thì mánh mung, chạy vạy.
 Công chức một đất nước chỉ sống bằng lậu, bỗng lộc là nguy hại đến nơi. Đó là điều cha ông cảnh báo từ lâu!
   Việc để tờ Tạp chí Nhà văn ra nông nỗi này là do lãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam, trách nhiệm trước hết là ông Chủ tịch Hội. Lãnh đạo đã có cái nhìn không đúng về Tờ tạp chí  Nhà văn, do không hiểu biết, do ý kiến chủ quan, do cái nhìn thiển cận, do thành kiến cá nhân, do yếu kém trong quản lý và do nhiều nguyên nhân khác.
 Đôi lần dù chỉ là nhân viên quèn nhưng tôi vẫn nói thẳng với nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội Nhà văn đến làm việc với Tạp chí: - Bên Đảng có tờ Tạp chí Cộng sản và báo Nhân dân, bên Hội Nhà văn có tờ Tạp chí Nhà văn và báo Văn nghệ, xin Chủ tịch không nhất bên trọng, nhất bên khinh.
  Nhưng Hội Nhà văn vẫn nhất bên trọng, nhất bên khinh. Tờ báo Văn nghệ mỗi tháng bù lỗ hơn 200 triệu đồng lại xin được xây nhà cho thuê 1,8 tỷ / năm. Tờ báoVăn nghệ đã bù lỗ rồi lại còn mở tiếp tờ Văn nghệ trẻ cũng bù lỗ như tờ Văn nghệ già. Tờ Văn học nước ngoài cũng bù lỗ, anh em cán bộ cũng sống lắt lay. Ngân sách trên cấp có ít ỏi năm 2006 lại mở ra tờ Tạp chí Thơ, Hội Nhà văn lại bù lỗ tiếp.
  Hội Nhà văn được trở thành Hội chính trị xã hội nghề nghiệp, được hươnghr tiền ngân sách – tức là tiền thuế dân đóng. Nhưng trên cấp không nhiều. UBTQ Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam được cấp 600 triệu đồng/ năm ( năm 1996 – năm 2000), Hội Nhà văn chắc cũng chừng ấy. Số tiền ấy không bằng quan lớn bỏ ra nuôi cô tình nhân thứ bảy của mình.
  Trong bối cảnh ấy, Hội Nhà văn mở ra nhiều cơ quan cấp hai với hy vọng các cơ quan đóng góp một phần kinh phí cho Trung ương Hội. Bởi vì khi làm đề án đơn vị nào cũng hứa đóng góp kinh phí. Nhưng than ôi, chẳng có đơn vị nào góp đóng được. Tất cả các cơ quan cấp 2 đều bấu víu vào Hội Nhà văn.
 Báo Văn nghệ mở ra Văn nghệ Trẻ hy vọng Văn nghệ Trẻ nuôi Văn nghệ Già. Không ngờ Văn nghệ Già phải nuôi Văn nghệ Trẻ. Tạp chí Thơ, Tạp chí Văn học nước ngoài, Hồn Việt, Văn nghệ Miền núi đều bám vào Trung ương Hội cả.
  Trước thực trạng ấy biện pháp tối ưu lạ rút gọn giảm bớt các báo và tạp chí. Điều hiển nhiên ai cũng biết là Hội Nhà văn chỉ giữ lại tờ Tạp chí Nhà văn và Báo Văn nghệ. Nhưng rồi nhiều lý do người ta dẹp bỏ Tạp chí Nhà văn, cho rằng nó là Tạp chí yếu kém, còn các tờ khác đều tốt hơn nó. Tạp chí Nhà văn thực sự cáo chung!
   Thật ra tất cả các báo chí hưởng ngân sách và hưởng một phần ngân sách, không báo chí nào ra được thị trường và tự sống bằng bán báo tạp chí như các tờ đang tồn tại trên thị trường.
  Nhà thơ Phạm Tiến Duật, người làm thơ nổi tiếng trong chống Mỹ nhưng khi làm Tổng biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam cũng không nổi.
 Đôi lần ông nói: Thời tiết chính trị như thế này làm sao làm hay được, in thơ hay được!

   *
  Sáng nay ngày 20 tháng 11 năm 2012, Nhà văn Võ Thị Xuân Hà báo cáo trước cuộc cơ quan lần cuối thông báo sự giải thể của Tạp chí Nhà văn, mặc dù Nhà văn Võ Thị Xuân Hà đấu tranh quyết liệt để giữ Tạp chí Nhà văn, nhưng không được. Các cán bộ hợp đồng, chính thức tùy nghi di tản, ai dạt được ở đâu thì dạt. Nhưng biết dạt đi đâu? Ngay tôi đủ năm đóng bảo hiểm, quá tuổi về hưu mà vẫn không làm được sổ hưu vì cơ quan nợ Bảo hiễm Xã hội 70 triệu đồng không trả được. Không trả được thì cán bộ về hưu không làm được sổ hưu. Quá đau xót.
  Đánh giá cho công bằng và khách quan, năm rưỡi qua Tổng biên tập Võ Thị Xuân Hà một mình chèo chống, giữ vững Tạp chí, nuôi quân, nuôi cán. Tạp chí phát triển tốt. Nhà văn Võ Thị Xuân Hà đã gây dựng nhiều mạng lưới phát hành, nhiều đơn vị ủng hộ tài trợ cả vật chất lẫn tinh thần lâu dài cho Tạp chí.  Tạp chí đang đi lên, lúa sắp sửa làm đồng hứa hẹn mùa bội thu. Nhưng tiếc thay Hội Nhà văn lại nhổ lúa đi để trồng…đay!
 Thực là :
Hội Nhà văn nhổ lúa trồng đay
Anh em Tạp chí trắng tay đứng đường!
Hà Nội 20 tháng 11 năm 2012
 Đ - H

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012

Dom lua duong doi

ĐỐM LỬA ĐƯỜNG ĐỜI

(Đọc tập thơ Đường dài và những đốm lửa của Nhà thơ Phạm Tiến Duật) – NXB Hội Nhà văn tháng 12/2001(*)

Nhà thơ Phạm Tiền Duật Duật là nhà thơ nối tiếng nhất trong thế hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộc khàng chiến chống ...
Mỹ cứu nước.
Anh được trao giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969 – 1970. Một giải hết sức xứng đáng, những bài thơ được giải của anh và những bài thơ khác đến hôm nay vẫn giữ được lửa, vượt qua thời gian. Điều đó được khắng định bằng giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt I mà anh vừa vinh dự nhận được.
Hôm nay anh lại có thêm một ấn phẩm mới, đó là tập thơ Đường dài và những đốm lửa. Tập thơ bao gồm những bài anh viết trong hơn hai thập kỷ qua.
Vẫn là chất trữ tình, tài hoa trong Vầng trăng quầng lửa, Thơ một chặng đường; thơ anh hôm nay còn đầy trăn trở, nhân sinh, số phận con người sau chiến tranh, vấn đề toàn cầu, nhân loại.
Dù rời quân ngũ đã lâu nhưng Phạm Tiến Duật vẫn giữ vững phẩm chất người lính: Trung thực, nhân ái. Cách cảm, cách nghĩ, nhãn quan của anh đều thấm đẫm tinh thần người lính. Hơn ai hết, anh hiểu cái giá hy sinh của đồng đội. Cái giá hy sinh lơn nhất để có cuộc sống hôm nay và không bao giờ quên quá khứ hào hùng, không quên những người lính đã ngã xuống:
Vết trọng thương không cứu được rồi
Chúng tôi chôn anh
Chôn cả những giọt máu của mỉnh ở đó.
Người chết chỉ chết khi người sống quên họ
Quên làm sao khi máu đã hòa chung!
(Tiếp máu)
Cũng không thể quên ngọn cỏ, cây dương xanh từng nâng bước chân, chở che người chiến sỹ ngoài trận mạc. Bởi chính những sự vật không tên không tuổi, những con người vô danh số đông đó đã làm nên lịch sử. Có họ mới có đất nước trường tồn:
Tấm bia nào trong cỏ vẫn nằm trơ
Ta dựng lại bên nén hương nức nở
Gió trên hàng dương thì thào như hơi thở
Nửa mình cây khô bỗng thấy nửa mình xuân
(Cây dương xanh)
Nhưng cái cần quên thì cũng nên quên ngay cả đối với kẻ thù ngày qua đã làm cho dân tộc ta đổ máu:
Anh có lỗi gì đâu?
Các cháu có lỗi gì đâu
Kể cả tướng Hakin dưới mồ ta cũng nên bỏ quá
Tóc rụng về phía lỗi lầm để cây xanh trổ lá
Và tóc trẻ con chừng xoa dịu nỗi đau xưa!
(Lọn tóc của gia đình Hakin)
Phạm Tiến Duật viết rất thành công về mảnh đời thườn: Luật chơi, Cây tháp nước bỏ hoang, Những người yên lặng, Váy áo xênh xang, Đi tìm vật báu, Chợ lao động ở giảng Võ…
Nhà thơ nhắn nhủ mọi người là phải sống trung thực hơn, chăm sóc trái tim mình thì con người tốt lên và cuộc đời đẹp hơn:
Khi các cháu trở lại nơi này thì thế kỷ cũ đã hết
Mà người cần đánh giày ngày một đông lên
Chăm sóc hai bàn chân thì loài người rất nhớ
Chăm sóc trái tim mình có lúc có người quên!
(Tiễn các cháu đánh giày về quê ăn tết)
Trong Đường dài và những đốm lửa, Phạm Tiến Duật mở rộng đề tài sáng tác mới. Với cương vị công tác của mình, anh có dịp đi nhiều nước kể cả đến Mỹ. Vì thế mà thơ anh đề cập đến nhiều vấn đề mà thời đại quan tâm: nhân sinh, hòa bình, chiến tranh, mang tình khái quát hơn. Đến Liên Xô, Đan Mạch, anh thấy cây bạch dương Nga, cây mù tạt Côpenhaghen cũng hiền từ, xới lởi như cây tre của quê hương Tổ quốc. Loài cây và loài người đều yêu chuộng hòa bình nên để cuộc sống chỉ có âm nhạc, thơ ca; đừng để xày ra chiến tranh vô nghĩa:
Cây bạch dương Liên Xô hiền từ và xởi lởi
Cây tre Việt Nam hiền từ và xởi lởi
Nhận và cho sòng phẳng tự bao giờ
Hà Nội – Matxcơva trong sáng bầu trời…
Hãy để cho muôn cây xanh hít thở
Bằng âm nhạc của loài người và tiếng hát của thơ ca!
(Tuyên bố chung với những hàng cây Matxcơva)
Phạm Tiến Duật là người chịu khó tìm tứ thơ. Bài thơ nào của aqnh cũng có tứ, độc đáo. Khi bắt được tứ rồi anh thổi linh hồn mình vào câu chữ rồi kiến tạo bài thơ gây ấn tượng mạnh cho người đọc.
Việc đánh cờ, cây tháp nước ai cũng biết; ngỡ những sự việc đơn giản ấy không ra thơ, nhưng qua con mắt phát hiện của anh bài thơ ra đời mang hồn người (Luật chơi, Cây tháp nước bỏ hoang, Viết ở quan 59 Bà Triệu, Quảng cáo cho máy đuổi muỗi Jimbo…)

Hay người này là vật bỏ của người kia
Là những tháp nước lô nhô giữa một vùng khô hạn
Đừng nhé nghe em
Người với người là bạn
Em nhớ anh có như cây tháp nước bỏ hoang!
(Cây tháp nước bỏ hoang)
Sau hơn hai mươi năm lao động miệt mài, lao tâm khổ tứ, Đường dài và những đốm lửa đã ra mắt đọc giả, khắng định sự thành công mới của nhà thơ – chiến sỹ Phạm Tiến Duật. Đọc giả ngày nào từng say mê thơ anh, bây giờ vẫn luôn trân trọng và cất giữ trong tim mình hình ảnh của một nhà thơ không ngừng sáng tạo trên con đường nghệ thuật của mình.
Hà Nội ngày 1 – 1 – 2002
Đ - H
---
(*) Rút trong tập Phê binh & Tiểu luận Tâm cảm cho đời – Đỗ Hoàng – NXB Thanh Niên năm 2011
Xem thêm

Chan dung Nha tho Viet Nam duong dai

CHÂN DUNG NHÀ THƠ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI phần (2)

Nhà văn Nguyễn Hiếu bỏ công sức và đọc tác phẩm các nhà thơ đương đại. Ông dành viết và công bố độ trên ưới 20 người. Ông đánh giá nhận xét thẩm định không nể nang, ngại sợ kể cả nhà thơ giữ c...
ương vị cao. Ông viết bằng văn xuôi, tôi chuyển dịch ra lục bát cho dễ nhớ. Từ sự gợi ý dũng cảm của Nguyễn Hiếu, tôi viết gần 100 chân dung nhà thơ khác. Rất nhiều người không xứng đáng trong chân dung này nhưng tôn trọng nhà văn Nguyễn Hiếu tôi vẫn giữ nguyên. Xin giới thiệu với đọc giả. Đỗ Hoàng.

1- Hoan hô nhà thơ Hải Như
Ngợi ca quan lớn như sư giữ chùa.
2- Viễn Phương hề chẳng chịu thua,
Làm con chim hót lăng vua suốt đời.
3- Hữu Loan bầm dập phận người,
Hoa sim màu tìm vẫn ngời sắc hoa.
4- Hà Đông áo lụa Nguyên Sa,
Xứng danh thi bá tài ba vài dòng.
5- Trần Đăng Khoa thực thần đồng,
Ăn cơm cộng sắn nên không thành ngài!
6- Trần Mạnh Hảo bậc kỳ tài,
Văn, thơ, luận chiến chẳng ai sánh bằng.
7- Nguyễn Duy một thời tiếng tăm,
Là nhờ rau má, nong tằm, ca dao.
8- Chim Trắng thuộc bậc cựu trào,
Nhưng thơ chẳng có câu nào nhớ ghi.
9- Tạ Vũ uống rượu tì tì,
Đem vôi mà quyét còn gì là thơ.
10- Nguyền Thụy Kha đau giả vờ,
Nhạc, thơ mưng tấy đồ rờ xi rê.
11- Trần Nhuận Minh thấu tình quê,
Nỗi niềm câu chữ hướng vê cố hương.
12- Chân thành thi sỹ Trần Nhương,
Nhúng vào sự thật văn chương có hồn.
13- Nguyễn Chí Thiện nổi như cồn,
Xứng danh Ngục sỹ thơ còn nghìn năm.
14- Cao Tần đồng loại đánh văng,
Thi tâm nguồn cội sánh bằng ông cha.
15- Nguyễn Bá Chung rời xứ ta,
Đêm ngày đâu đáu quê nhà trong tim.
16- Vũ Quần Phương đốt đuốc tìm,
Bè thơ sóng gió đánh chìm từ lâu.
17- Thạch Quỳ Củ Nghệ tóc râu,
Nhưng mà vẫn có những câu nhớ bền.
18- Xuân Hoàng đã bị lãng quên,
Bỏ quê không để cái tên cho làng.
19- Quảng Bình có Dương Tử Giang,
Quyết theo thơ phú để sang với đời.
20- Lê Văn Ngăn đã hết hơi,
Quyết chơi Vô lối bịp đời mấy chiêu.
21- Bùi Giáng lục bát như kiều,
Mưa Nguồn tưới thắm những chiều đảo điên.
22- Đại Vô lối Thanh Tâm Tuyền,
Sức đâu mà nhắc cái tên ta bà.
23- Bằng Việt vượt dàn đồng ca,
Là nhờ thơ dịch tài hoa ai tày.
24- Nữ thi sỹ Lê Thị Mây,
Chẳng còn một mảnh trăng gầy chờ mong.
25- Y Phương tắm nước sông Hồng,
26- Nên thơ bị lũ bướm đồng cắn hư!

Mấy lời dịch dổm thiếu như,
Dẫu cho sấm sét hùm ngư cung chiều.
Hà Nội, ngày 15 – 8 – 2012
Đ – H
Xem thêm

Thứ Bảy, 17 tháng 11, 2012

Buoi cau ho hung rat yeu kem-phi tho ca

BUỔI CÂU HỜ HỮNG
HẾT SỨC YẾU KÉM – PHI THƠ CA

Đỗ Hoàng

Sau hậu chiến năm 1975, nhiều người sáng tác không bằng lòng với các khuynh hướng thơ trước minh như: thơ Mới, thơ chống Pháp, thơ chống Mỹ, thơ những ngườ...
i cùng thập kỷ, cùng thế hệ, họ quyết đi tìm một cách thể hiện cho khác người đi trước. Có người trước đây cũng làm theo thể thơ truyền thống nhưng họ vẫn quyết đoạn tuyệt thơ cũ để đổi mới thi ca; có người ngay từ đầu đã xa lánh các huynh hướng truyền thống, chối bỏ tất cả để tìm hướng đi cho mình.
Việc ấy thời nào cũng có. Đó cũng là điêu xảy ra đúng quy luaatjvaanj động của tư duy, của cuộc sống. Như tôi đã nhiều lần phát biểu: “Cuộc sống không đổi mới tiến lên lên thì sẽ bị ngưng trệ và đến mức bị tiêu diệt”. Trong khoa học, trong thi ca nghệ thuật, trong muôn loài cũng vậy. Nhưng mới như thế nào? (Xem “Vì sao tôi dịch thơ Việt ra thơ Việt” – Tạp chí Nhà văn năm 2009. Dịch thơ Việt (trích) – Báo Hà Nội mới chủ nhật năm 2010; Tạp chí Dặm nghìn đất Việt… đó là việc các nhà cách tân hay cách mạng phải hiểu rõ!
Đổi mới cũng phải có kế thừa và phát huy truyền thống thơ ca dân tộc và nhân loại. Muôn đời là như thế. Điều này những tác giả tự xưng là hậu hiện đại chối bỏ hoàn toàn. Nguyễn Bình Phương là một trong những đại biểu đó. Và xin mạn đàm về tập Buổi câu hờ hững.
Nguyễn Bình Phương trước đây tuân thủ các phép làm thơ truyền thống từ hình thức đến nội dung và có tập, có bài đọc được. Xem Vô lối Nguyễn Bình Phương – vannghecuocsong.com. Nhưng sau đó Nguyễn bình Phương quyết tâm đổi mới và không chấp nhận thơ truyền thống cũng từ hình thức đến nội dung.
Tính từ thập kỷ 80 đến nay, những người quyết tâm cách tân thơ Việt cũng đã 30 năm. 10 năm đã đủ để một khuynh hướng thơ, một trào lưu thơ thành công. Nhưng đã hơn 30 năm, tất cả các khuynh hướng từ nhóm đến tổ được nhiều tổ chức lăng xê mà đến nay nó vẫn không hề gây được tiếng vang gì mà cũng không gặt hái được thành quả gì trên văn đàn. Những cái được in ra được trao giải chỉ là những cái thử nghiệm chưa thành công. Không phải cuộc cách tân nào cũng thành công.

*
Tập Buổi câu hờ hững gồm 35 bài, có 2 bài văn xuôi không ra văn xuôi, thơ không ra thơ, xin nói sau do Nhà xuất bản Văn học ấn hành tháng 9 năm 2011. Trong 33 bài đều không viết theo truyền thống từ cách cảm cách nghĩ và cách thể hiện. Nó là một thứ tù mù, rối rắm, đánh đố, tắc tỵ, hủ nút, sáo rỗng, đại ngôn, lủng củng, lởm khởm, khập khà khập khểnh, so sánh thì khệnh khạng, ví von thì khiêng cưỡng, ông nói gà bà nói vịt, bắt râu ông nọ chắp cằm bà kia, tiền hậu bất nhất, phi lô gic, cũ ky, cũ kỵ; khi thì thương mại (buôn bán), khi thì toán học, khi thì hóa học, khi thì vật lý, khi thì sinh vật học, khi thì Nôm, khi thì Hán chưa Việt hóa, khi thì bê nguyên xi tiếng Anh… Có nhiều bài nếu chuyển qua vè Việt còn kém vè Việt nhiều bậc; có nhiều bài như người nước ngoài học tiếng Việt 3 tiết rồi làm thơ Việt…

Mở đầu tập sách là một bài rất buôn bán (thương mại) – Chào hàng. Nhiều người không am tường thơ ca thì tưởng rằng đây cuốn sách giáo khoa trường đại học Thương Mại (buôn bán) đóng trên Cầu Giấy dùng cho sinh viên học Khoa Makettin. Nếu nhìn tục một chút thì lầm tưởng cách chào ở các quán karaooke khi họ trương biển mời khách, hay các nhà nghỉ cò mồi làng chơi đến nghỉ … để vào xem hàng.
Đọc câu thứ nhất: Đây là lụa thì ai mà chẳng tin rằng có “gái đẹp” và đọc tiếp Nhễ nhễ mê man trong thân thể mê man thì ai mà không tin chốn này có gái mềm lữ và có hút thuốc phiện!
Sau màn chào hỏi, tác giả nhồi như nhồi ngỗng một lô một lốc thuật ngữ toán học mà các nhà toán học đọc lên cũng ngợp: cái tổng số, vô vàn, đây con số, bên lề dấu cộng, một phép nhân bay lượn, đây ngày lẻ, trong góc hẹp, ngày chẵn, một chú cún con, một ly cà phê, “số” không. 34 chữ thuộc thuật ngữ toán học đúng một trăm phần trăm(!)
Đây là một bài Vô lối viết khô khan, khô hơn ngói, vô cùng gượng gạo. Đến toán học là một môn khoa học tư duy khô khan cũng mượn vẻ đẹp vần điệu, tính nhạc của thơ ca để làm cho nó bay bướm. Xin dẫn chứng:

BÀI TOÁN TÍNH SỐ KHỈ ĐÀN

Họ nhà khỉ nhân khi nhàn rỗi
Rủ bạn bè mở hội liên hoan
Trên cây dưới đất hai đàn
Dưới thì nhảy múa, trên toàn hát ca.
Khách tới chơi đi ra vườn thấy
Phần tám bầy đem lấy bình phương,
Tiếng ca trầm bỗng du dương,
Có mười hai giọng mến thương dạt dào.
Khách vui thẻ tính xem sao,
Giữa rừng xanh đẹp có bao khỉ đàn?
(Đ- H sưu tầm)
Thế mà thơ ca lại đem vứt bỏ cái tinh túy của mình, biến câu chữ, hồn vía bài thơ như một cái xác không hồn.
Đọc kỹ câu sau nữa: Đây con số tinh anh ranh ma thì thấy tác giả sai cả kiến thức cơ bản trong tri thức, đời sống. Ai cũng biết hai chữ tinh anh là chỉ phần tốt đẹp của tâm linh, trí tuệ con người và cả thần linh. Thác là thể phách, còn là tinh anh (Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du). Làm sao phẩm chất đã là tinh anh mà còn ranh ma?
Đến bài Cắt tóc thì sống sượng, xơ cứng với những con chữ như khúc xương đẽo hết da thịt:
Tôi cắt tóc
Một người cực lạ
Rũ khăn choàng váng vất bước ra.
Trong bài tự Tự xông đât cũng viết trước gương của nhà thơ Lâm Huy Nhuận đầy hồn chữ, hồn người:
Giật mình đôi mắt trũng sâu,
Người trong gương ấy còn đau hơn mình.
Đọc Lâm Huy Nhuận thấy ngậm ngùi đau xót mãi cho kiếp mình, cho kiếp người.
Tập Buổi câu hờ hững thấy cái gì cũng không thật, cũng sống sượng, cũng giả. Hàng giả thứ thiệt. Giả đến mức viết về mình, về người yêu, về con, về gia đình bạn bè như mình là người ngoài cuộc.
Ta sinh ra cô đơn
Giờ cô đơn đã cũ
Ta trưởng thành bởi sợ hãi
Sợ hãi cũng cũ rồi
(Bài thơ cũ)
Cô đơn làm sao cũ, sợ hãi làm sao mà cũ. Nỗi đau luôn luôn mới kia mà! Chụp mũ hết chỗ nói!
Cụ Tú Xương bóc thật mình ta một cách chân thành nên hậu thế nhìn được bản ngã của. Cụ mới được hậu thế tôn vinh:
Vị Xuyên có Tú Xương
Dở dở lại ương
Cao lâu thường ăn quỵt
Thổ đĩ lại chơi lường.
Con người của Buổi câu hờ hững là con người của vô tâm hờ hững, của lạnh lẽo tâm hồn. Ngay cả tình yêu đôi lứa là thứ tình quyết liệt nhất, đam mê nhất mà tạo hóa ban phát thì Nguyễn Bình Phương vẫn:
Và láng máng hình như mình từng yêu
Cát đã vơi lẹ làng yểu điệu
(Từ đồng hồ chờ trên máy tính)
Nên nhớ khi Lục Du khi ngoài 75 tuổi trở lại thăm Vườn liễu cũ vẫn nhớ một mối tình không thành của mình:
Thân này thành đất Cối Kê ấy,
Vẫn giữ trong tim một khối tình
(Bản dịch Đỗ Hoàng)
Cái vô tình ấy, cái lạnh lùng của Nguyễn Bình Phương càng thể hiện rõ khi viết về con :
E ò e, ò e tí toe ngo ngoe vò vẹ
(Chơi với con.)
Tôi đọc mà tưởng tác giả chơi với robot dog (chó máy) hoặc toy octopus (đồ chơi bạch tuộc cho trẻ con). Trẻ nghe e ò e, ò e tí toe, ngo ngoe, vò vẹ thì các cháu sẽ đái ra cả bỉm, vải ca linh hồn ông nội.
Chưa hết, ông bố còn hù tiếp như hù cọp như vậy.:
Lăn qua chữ nghĩa
Tôi rền vang tôi
Tôi đánh rơi ở nơi không tìm thấy
Rồi voi, hổ , báo, rùa vĩnh cửu…, hết thảy khuân ra hết để hô xung phong như ông đại đội trưởng ở chiến trường (dù xung phong làm cái chảo nấu ăn) để dọa con:
Tôi bị vướng vào thế giới ta bà
Con voi bé nhỏ, con voi kềnh càng, con báo lù lì, con rùa vĩnh cửu
Tôi xung phong làm cái chảo nấu ăn…
(Bài thơ đã dẫn)
Dọa từng ấy chắc con mình chắc chưa khiếp sợ, nên dọa tiếp để mai sau nó lớn lên nó theo bố làm binh nghiệp cho đặng dũng cảm:
Khuất trong góc nhà tôi có cả ta và giặc
Bánh xe màu lục, viên đạn vô hình
Khẩu súng ấy trắng bong như bột lọc
Tôi bắn gục thời gian không thèm tiếc…
(Bài đã dẫn)
Phim hành động, bạo lực của Mỹ ở Holoniut phải cầm sách đến đây mà học Nguyễn Bình Phương về cách dọa nạt trẻ con để nó trưởng thành tướng lĩnh(!)

Trong khi đó nhiều nhà thơ về con để lại trong lòng bạn đọc những tình cảm nồng hậu, thắm thiết về tình phụ tử:
…Con ngủ đi con, bố nằm bố quạt
Bố nghĩ bài thơ vừa viết ban chiều
Bố có con tâm hồn dịu mát
Mây có trời xanh, mây mịn đường thêu..
(Huy Cận)
Trong Buổi câu hờ hững có nhiều bài vô lối tuyên ngôn thơ nhưng đơn giản, gượng gùng, xơ cứng, tù mù và cũ kỹ:
Ta im lặng
Chim hót
Họ thì vỗ cánh bay
Ta viết
Chim bay đi
Họ thẩn thơ đậu xuống
Ta nhìn ta mai mái một làn sương
(Nhà thơ)
Cách đây gần 2 000 năm Lý Bạch đã nói điều này rồi mà nói bằng thơ:

ĐỘC TỌA KÍNH ĐÌNH SAN

Chúng điểu cao phi tận
Cô vân độc khứ nhàn
Tương khan lưỡng bất yêm
Duy hữu Kính Đình San

NGỒI MỘT MINH BÊN NÚI KÍNH ĐÌNH

Chim bầy cao bay vút
Mây lửng lơ một mình
Nhìn nhau không biết chán
Chỉ có núi Kính Đình!

(Đỗ Hoàng dịch)

Tôi đồ rằng tác giả Buổi câu hờ hững có thể bị tâm thần hoặc là bị chấn động thần kinh, tâm hồn bất định. Nhiều bài viết rất thiểu năng trí tuệ, giả đò (giả vờ): Buổi câu hờ hững, Phân chim, Chân dung khi trống trải, Khoảng giữa, Nói với em từ nơi trống trải, Hỏi…
Đặc biệt là bài Hỏi một bài hết sức giả đò :
Này cô em dáng hiền hiền xinh xinh
Bệnh viện là gì nhỉ?

Này cô em dáng hiền hiền xinh xinh
Bệnh nhân là gì nhỉ?

Kìa cô em dáng hiền hiền xinh xinh
Là bác sỹ hay là gì đấy nhỉ?

Ngạn ngữ quê tôi ( miền Trung) có noi: Giả đò đui dòm lồn!
Đúng như vậy!

Trong tập Buổi câu hờ hững đầy những lối nói kiểu cách, lởm khởm cũ như trái đất, cũ đến mức mà Tạng thư, Kinh Phật, Kinh Thánh còn không cũ hơn như: Trong phép màu khó hiểu, Đá xanh rêu với u huyền, Những áng bay ngọt lừ, Những luồng đạn căng lừ, Người yểu mệnh đứng bên lề dấu cộng, Tinh mơ luôn trở lại, Chứa những điều vằng vặc bên trong, Rạng đông nhen dưới gót chân Hời, Kìa vũ trụ thanh tân uyển chuyển, Lẩy bẩy chết dọc theo kim phút, Khóe miệng sương mù, Ngả từ thao thức vào hoang vắng… kể mãi cũng không hết những câu đại loại như thế!
Rồi rất nhiều triết lý vặt, lên gân, vô bổ: Tuồng như sống chỉ là rơi, Và hãy nhớ chúng ta không lay động…
Tiếp đến là lạm dụng âm Hán Việt chưa được Việt hóa bao nhiêu: Luyến ái, phù sinh, lạc thú, u huyền, hỏa xa, ngoạn mục, thanh tân… Rồi lại viết nguyên xi tiếng Anh trong câu tiếng Việt làm người đọc vô cùng khó chịu:
Lũ trẻ online câu hy vọng(!)
Nhiều người mỉa mai sao không viết hết cả câu tiếng Anh để thể hiện tác giả giỏi Englisch:
Childrens online sentence hope!

Hai bài như là văn xuôi Về một người thương binh hỏng mắt, Những cư dân vùng châu thổ sông Hồng, nhưng cùng không ra văn xuôi, nó là một thứ lưỡng cư, chấm phẩy lung tung, câu nọ xọ câu kia, nhiều đoạn tối mò, vô nghĩa. Ví dụ: - Anh bảo quê anh ở bên kia mùa hạ, tôi bắt gặp những rặng núi xanh và lau bạc. Chấm ở chữ hạ là đủ nghĩa tại sao lại phẩy ở đây? Tôi bắt gặp không ăn nhập gì với đoạn câu trước. Nhiều và nhiều lắm. Đến nỗi nhà văn Nguyễn Thiện Đạo nói với tôi: - Tôi đọc văn Nguyễn Bình Phương không biết ông ta viết gì (!)
Là người lính chuyên nghiệp nhưng trong tập sách Buổi câu hờ hững chỉ thấy thấp thoáng hai bài có “hương vị” lính đó là Trên đồi cao và Về một người thương binh hỏng mắt. Hai bài này người không ở lính vẫn viết được và viết hay hơn nhiều. Không thấy dáng đồng đội, tình quân dân ở đâu cả. Các nhà thơ thế hệ trước đã viết về đồng đội về tình quân dân cảm động:

Đồng đội ta là hớp nước uống chung
Là miếng cơm sẻ nửa
Là chia nhau một trưa nắng, một chiều mưa
Chia nhau đứng trong chiến hào chất hẹp
Chía nhau cuộc đời
Chia nhau cái chết!
(Đồng đội - Chính Hữu)

Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ
Anh Vệ quốc quân ơi!
Sao mà yêu anh thế!
(Cá nước – Tố Hữu)

Anh về cối lại vang lừng
Chim reo trên mái, gà mừng dưới sân
Anh về sáo lại ái ân
Đêm trăng hò hẹn trong ngần tiếng ca
(Về làng- Hoàng Trung Thông)

Viết về người lính và không viết thì cũng không ai bắt. Nhưng nhà thơ của đất nước nào cũng phải thể hiện phẩm chất công dân của nước mình, nhất là những nhà thơ mặc áo lính. Mạc Ngôn là một dẫn chứng sinh động!
Nguyễn Bình Phương rất cố gắng tìm tòi cách tân nội dung, hình thức, ngôn từ biểu hiện nhằm làm cho thơ mình và thơ thế hệ có một nét khác biệt, mở đường cho cuộc đổi mới thơ ca của lớp nhà thơ sau thống nhất đất nước năm 1975., đó là điều đanghs trân trọng Nhưng tiếc thay nhà thơ không hiểu rằng: Cuộc cách tân nào, thậm chí cả cách mạng đều phải có kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc và nhân loại thì những cách tân, cách mạng ấy sẽ thành công lâu dài. Còn cuộc cách tân, cách mạng nào pha nát đạp quá khư thì sẽ thật bại. Nhãn tiền ấy ai cũng biết. Từ sau năm 1975 đến nay nhiều trào lưu tự xưng là hậu hiện đại hậu hậu hiện đại đều thất bại là vì thế!
Tập Buổi câu hờ hững rốt cuộc không có gì là mới, cha ông đã từng noi rồi:

Buông đã lỡ phải lần,
Thấy non với nước mười phần muốn thôi!

Hà Nội ngày 5 tháng 11 năm 2012
Đ -H
Xem thêm